LU
ẬN V
ĂN:
Th
ực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả
công tác đ
ấu thầu tại công ty Dịch vụ viễn
thông VNP
GSM toàn quốc, giao cho VNPT làm chủ đầu tư. Dự án này được VNPT giao cho Bưu điện TP.
Hà Nội, TP. Đà Nẵng, TP. HCM triển khai thực hiện.
Ngày 17/06/1996, VNPT đã giao nhiệm vụ quản lý, kinh doanh, khai thác thử nghiệm dịch
vụ thông tin di động (Vinaphone) cho Ban quản lý dự án 03 dịch vụ viễn thông toàn quốc GSM,
Paging và Cardphone (gọi tắt là Ban quản lý dự án GPC toàn quốc); và đến ngày 26/6/1996 đã
chính thức đưa mạng thông tin di động Vinaphone vào khai thác. Mạng điện thoại di đông
Vinaphone ra đời là sự kiện quan trọng đánh dấu một bước đột phá của cán bộ công nhân viên
VNPT vào công nghệ mới, hiện đại của thế giới trong lĩnh vực viễn thông.
Ngày 14/6/2007, Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện Mai Liêm Trực đã ký quyết định số
331/QĐ-TCCB về việc thành lập doanh nghiệp Nhà nước- Công ty Dịch vụ Viễn thông (tên
thường gọi là Công ty VNP), đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc của Tổng công ty Bưu chính
Viễn thông Việt Nam (nay là Tập đoàn BC- VT Việt Nam- VNPT).
Những ngày đầu khi mới thành lập, Vinaphone không có tư vấn, chuyên gia nước ngoài,
kinh nghiệm quản lý kinh doanh trong lĩnh vực di động còn rất hạn chế. Nhưng với ý chí quyết
tâm, cộng với kinh nghiệm thực tế đúc rút từ mạng di động Mobiphone, sự phối hợp chặt chẽ của
các Bưu điện tỉnh, thành phố, công ty VNP đã xây dựng được cho mình hướng đi hợp lý, nhanh
chóng chiếm được cảm tình của khách hàng, từ đó triển khai mạng sâu rộng trong toàn quốc và
tăng cường tính chủ động trong đầu tư, điều hành khai thác, kinh doanh mạng Vinaphone. Đến
nay, mạng thông tin di động Vinaphone đã phủ sóng toàn quốc, 100% các huyện và các vùng biên
giới hải đảo của tổ quốc như Xí Mần, Mù Căng Chải, Phú Quốc đã có sóng di động Vinaphone.
Sau 10 năm trưởng thành và phát triển, Vinaphone không chỉ đuổi kịp Mobiphone về thị
phần, sản lượng và số thuê bao, mà đã khẳng định vị thế là mạng di động hàng đầu Việt Nam.
Trước năm 2005, tốc độ tăng trưởng thuê bao trung bình là 30%/năm. Vùng phủ sóng trong nước
và quốc tế ngày càng được mở rộng và nâng cao về chất lượng. Mạng được nâng cấp từ thế hệ 2G
lên 2,5G với công nghệ GPRS và mạng thông minh cho phép thực hiện các dịch vụ một cách đa
dạng cho hai loại thuê bao trả trước và trả sau. Vinaphone hiện có 15 tổng đài, trên 2000 trạm BTS
với hơn 5 triệu thuê bao.
1.1.2. Cơ cấu tổ chức của Công ty VNP
Công ty VNP có tổng cộng 10 phòng chức năng, bao gồm:
- Phòng Thi đua tổng hợp,
sắm mới với số lượng lớn các trạm BTS; BSS; tổng đài MSC, TSC, PPS-IN…Các dự án
sử dụng vốn tập trung của Tập đoàn BC-VT sẽ do HĐQT của Tập đoàn phê duyệt quyết
định đầu tư (với những dự án có quy mô vốn từ 300 tỷ đến dưới 1500 tỷ) hoặc do Tập
đoàn phê duyệt (đối với những dự án có quy mô vốn nhỏ hơn 300 tỷ).
- Vốn đầu tư theo phân cấp của Tập đoàn BC-VT cho Công ty VNP. Những dự án thuộc loại
nguồn vốn này là những dự án có quy mô nhỏ hơn (những dự án có quy mô vốn đầu tư
dưới 20 tỷ VNĐ), phục vụ cho công tác đầu tư phát triển có tính chất cấp bách như: nâng
cấp mở rộng mạng BSC; giải tỏa nghẽn mạch Các dự án này do Giám đốc Công ty VNP
phê duyệt quyết định đầu tư.
1.2.1. Quy trình lập kế hoạch đấu thầu và nội dung công tác lập kế hoạch đấu thầu tại
Công ty VNP
Kế hoạch đấu thầu của công ty VNP được lập ra nhằm đảm bảo việc sử dụng nguồn vốn đầu tư
đúng tiến độ kế hoạch và đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn đạt mức cao nhất có thể. Kế hoạch đấu
thầu của dự án do Công ty VNP (BMT) được lập theo Quy chế đấu thầu (trước khi Luật Đấu thầu
đi vào hiệu lực từ ngày 01/04/2006) và nay là Luật Đấu thầu, và phải được người có thẩm quyền
phê duyệt. Kế hoạch đấu thầu của Công ty VNP do Giám đốc công ty phê duyệt- với những dự án
có số vốn dưới 20 tỷ VNĐ đã bao gồm cả thuế VAT. Những dự án có số vốn lớn hơn sẽ do Hội
đồng quản trị của Tập đoàn BC-VT phê duyệt.
Để đáp ứng yêu cầu về chất lượng, tiến độ triển khai, sự đồng bộ của các hạng mục công trình
và cho nhiều đơn vị có thể tham gia để gia tăng hiệu quả và tính minh bạch trong đầu tư, các công
trình lớn thường được chia thành nhiều dự án và công trình nhỏ có thể tiến hành độc lập. Các gói
thầu trong một dự án cũng được phân chia trên nguyên tắc đó nhưng đảm bảo không chia nhỏ để
chỉ định thầu. Thông thường các gói thầu ở công ty VNP đều được tiến hành theo phương thức
đấu thầu rộng rãi.
Kế hoạch đấu thầu của một dự án được lập ngay khi tiến hành lập dự án đầu tư. Vì vậy, khi dự
án đầu tư được phê duyệt, kế hoạch đấu thầu cũng được phê duyệt.
Quy trình lập kế hoạch đấu thầu và nội dung kế hoạch đấu thầu bao gồm:
1- Phân chia dự án thành các gói thầu,
2- Xác định giá gói thầu và nguồn tài chính,
3- Hình thức lựa chọn nhà thầu,
- Đánh giá hồ sơ dự sơ tuyển,
- Trình và phê duyệt kết quả sơ tuyển, - Thông báo kết quả sơ tuyển.
Trong thực tế những năm qua, tại Công ty VNP có rất ít các gói thầu cần tiến hành sơ tuyển nhà
thầu, vì vậy tác giả chỉ nêu qua những nội dung chính của việc sơ tuyển mà Công ty VNP áp dụng.
1.2.2.1.3. Lập HSMT
Việc lập HSMT được lập theo mẫu Chính phủ quy định, tuân thủ theo khoản 2 điều 32 Luật Đấu
thầu, bao gồm các nội dung sau:
- Yêu cầu về mặt kỹ thuật:
Đối với gói thầu dịch vụ tư vấn, bao gồm các yêu cầu về kiến thức và kinh nghiệm chuyên
môn đối với các chuyên gia (điều khoản tham chiếu);
Đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, bao gồm yêu cầu về phạm vi cung cấp, số lượng, chất
lượng hàng hóa được xác định thông qua đặc tính, thông số kỹ thuật, tiêu chuẩn công nghệ, tiêu
chuẩn sản xuất, thời gian bảo hành, yêu cầu về môi trường và các yêu cầu cần thiết khác; Đối
với gói thầu xây lắp, bao gồm yêu cầu theo hồ sơ thiết kế kỹ thuật kèm theo bảng tiên lượng, chỉ
dẫn kỹ thuật và các yêu cầu cần thiết khác.
- Yêu cầu về mặt tài chính, thương mại:
Yêu cầu này bao gồm các chi phí để thực hiện gói thầu, giá chào thầu và biểu giá chi tiết, điều
kiện giao hàng, phương thức và điều kiện thanh toán, nguồn tài chính, đồng tiền dự thầu và các
điều khoản nêu trong điều kiện chung và điều kiện cụ thể của hợp đồng. Tại công ty VNP, công
tác lập HSMT được tiến hành theo các bước sau:
- TCG giúp việc đấu thầu căn cứ vào nhu cầu của gói thầu, tiến hành lập HSMT cho gói thầu
đó. HSMT bao gồm những nội dung sau:
(1) Thư mời thầu;
(2) Mẫu đơn dự thầu;
(3) Mẫu bảng danh mục số lượng và giá;
(4) Các hướng dẫn cho nhà thầu;
(5) Tiêu chuẩn kỹ thuật của gói thầu;
(6) Tiêu chuẩn đánh giá HSDT;
(7) Các điều kiện của hợp đồng;
(8) Mẫu hợp đồng;
thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế tới mua HSMT theo thông báo của công ty trên các phương tiện
thông tin đại chúng (đối với gói thầu đấu thầu rộng rãi) và thư mời thầu gửi cho các nhà thầu (đối
với gói thầu đấu thầu hạn chế).
1.2.2.2.2. Tiếp nhận và quản lý HSDT
Các HSDT được nộp theo yêu cầu của HSMT phải được BMT tiếp nhận và quản lý theo chế
độ quản lý hồ sơ “Mật”. Các HSDT nộp sau thời điểm đóng thầu sẽ bị loại.
Phòng ĐTPT là bộ phận lưu trữ quản lý các hồ sơ dự thầu của các nhà thầu, đảm bảo thông
tin được giữ bí mật cho đến thời điểm mở thầu. HSDT của các nhà thầu đều được bảo quản theo
quy chế bảo đảm tài liệu “Mật” của công ty. Bất cứ vi phạm nào bị phát giác đều bị xử lý nghiêm
khắc theo quy định của công ty.
1.2.2.2.3. Mở thầu
Việc mở thầu phải được tiến hành công khai ngay sau thời điểm đóng thầu đối với các hồ sơ
dự thầu nộp theo yêu cầu của HSMT.
Thông tin chính nêu trong hồ sơ dự thầu của từng nhà thầu phải được công bố trong buổi mở
thầu, được ghi lại trong biên bản có chữ ký xác nhận của đại diện BMT, đại diện nhà thầu và đại
diệncơ quan liên quan tham dự. Công tác này chủ yếu do phòng ĐTPT đảm nhiệm.
Tại Công ty VNP, việc mở thầu được tiến hành công khai và nghiêm túc, đúng thời gian quy
định. Các HSDT được mở lần lượt trước sự chứng kiến của đại diện của công ty, đại diện của các
nhà thầu và các bên liên quan đối với các gói thầu sử dụng hình thức đấu thầu rộng rãi và đấu thầu
hạn chế. Biên bản mở thầu chứa đựng các thông tin cần thiết (giá dự thầu, các giấy tờ và các thông
tin khác) của các bên liên quan được đại diện các bên ký xác nhận. Mỗi nhà thầu đều nhận được
một biên bản mở thầu, nhà thầu vắng mặt sẽ phải chấp nhận mọi kết quả được thông qua tại buổi
mở thầu.
1.2.2.3. Đánh giá xếp hạng nhà thầu
Đây là nhiệm vụ của TCG giúp việc đấu thầu.
TCG giúp việc đấu thầu được thành lập trên cơ sở đáp ứng nhu cầu tổ chức đấu thầu cho các gói
thầu. Để thành lập TCG GIÚP VIệC ĐấU THầU, phòng ĐTPT lập tờ trình xin giám đốc Công ty
phê duyệt danh sách các thành viên tham gia công tác đấu thầu cho một hoặc một số gói thầu cụ
thể.
- TCG giúp việc đấu thầu chịu trách nhiệm đánh giá xếp hạng nhà thầu theo đúng các quy
định về tổ chức đấu thầu và xét thầu tại Luật đấu thầu. Sau khi kết thúc đánh giá xếp hạng các nhà
thầu, phòng ĐTPT gửi công văn đề nghị thẩm định kết quả xét thầu tới phòng Kế hoạch cùng
những tài liệu: Quyết định đầu tư về việc đầu tư dự án của cấp có thẩm quyền; Quyết định phê
duyệt HSMT và tiêu chuẩn xét thầu của cấp có thẩm quyền; Quyết định thành lập TCG giúp việc
đấu thầu; Biên bản mở thầu; Thông báo mời thầu; HSDT của các nhà thầu.
- Phòng Kế hoạch căn cứ vào các tài liệu trên, tiến hành thẩm định kết quả xét thầu rồi lập
tờ trình xin cấp có thẩm quyền phê duyệt kết quả xét thầu.
Từ sau khi Luật Đầu tư 2005 và Nghị định 108/2006/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đầu
tư ra đời, phạm vi thẩm định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư chỉ tập trung vào các dự án quan trọng
quốc gia do Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư và các dự án thuộc thẩm quyền Thủ tướng
Chính phủ quyết định đầu tư, các dự án còn lại được phân cấp cho các Bộ, ngành, địa phương.
Đây là một trong những bước đổi mới quan trọng, góp phần cho phép Công ty VNP được tự chủ
hơn trong hoạt động đầu tư của mình.
1.2.2.5. Thông báo kết quả đấu thầu
Việc thông báo kết quả đấu thầu được thực hiện ngay sau khi có quyết định phê duyệt kết quả
đấu thầu của người có thẩm quyền.
Thông báo được gửi tới tất cả các nhà thầu, trong đó nêu rõ tên nhà thầu trúng thầu và tên các
nhà thầu không trúng thầu, kèm theo đề nghị nhà thầu trúng thầu tới thương thảo hoàn thiện và ký
kết hợp đồng, các nhà thầu không trúng thầu tới nhận lại bảo lãnh dự thầu. Đối với các nhà thầu
không trúng thầu, BMT (công ty VNP) không giải thích nguyên nhân.
1.2.2.6. Hoàn thiện và ký kết hợp đồng
Việc hoàn thiện hợp đồng và ký kết hợp đồng với nhà thầu trúng thầu phải dựa trên cơ sở sau
đây:
- Kết quả đấu thầu được duyệt;
- Mẫu hợp đồng đã điền đủ các thông tin cụ thể của gói thầu;
- Các yêu cầu nêu trong HSMT;
- Các nội dung nêu trong HSDT và giải thích làm rõ HSDT của nhà thầu trúng thầu nếu có; -
Các nội dung cần được thương thảo, hoàn thiện hợp đồng giữa BMT và nhà thầu trúng thầu.
Kết quả thương thảo, hoàn thiện hợp đồng là cơ sở để chủ đầu tư và nhà thầu tiến hành ký kết
STT
Tên gói thầu
Giá trị gói
thầu
(trước
VAT)
Hình thức
lựa chọn
nhà thầu
Phương
thức đấu
thầu
Loại hợp
đồng
Thời
gian thực
hiện
1
Cung cấp các thiết bị
điều hòa không khí
986.900.000
Đấu thầu
rộng rãi
Một túi
hồ sơ
Trọn gói
11/2006
2
Cung cấp các thiết bị
chống sét lan truyền
5
Tư vấn thiết kế kỹ thuật
thi công
55.415.000
Chỉ định
thầu
Một túi
hồ sơ
Trọn gói
11/2006
Nguồn: Công ty VNP
Đánh giá về kế hoạch đấu thầu
1. Về việc phân chia các gói thầu
Các gói thầu được phân chia theo quy mô hợp lý, bảo đảm các gói thầu được thực hiện đúng
tiến độ, phù hợp với quy định hiện hành của pháp luật trong đầu tư, đảm bảo phát huy hiệu quả
cao của vốn đầu tư, giảm thiểu đến mức tối đa những tác động ảnh hưởng, chi phối lẫn nhau của
các gói thầu làm ảnh hưởng đến chất lượng và tiến độ công trình. Các phần công việc được giao
cho các nhà thầu có kinh nghiệm và chuyên môn cao để thực hiện.
2. Về giá gói thầu và nguồn tài chính
- Giá gói thầu được lập trên cơ sở Báo cáo nghiên cứu kỹ thuật được phê duyệt.
Sau đây, chúng ta sẽ xem xét chi tiết cách lựa chọn thang đo, chọn mẫu, chọn công cụ thu thập
thông tin và quá trình thu thập thông tin và xử lý số liệu thống kê.
3.1.1. Thang đo
Đề tài này nghiên cứu về sự thỏa mãn công việc của nhân viên văn phòng, đây là một dạng nghiên
cứu thái độ của con người về một khía cạnh nào đó trong cuộc sống. Để xem xét đánh giá được
thái độ của người trả lời, trong trường hợp này là sự thỏa mãn công việc thì người nghiên cứu có
thể lựa chọn hai dạng câu hỏi trong bảng câu hỏi của mình. Dạng câu hỏi đầu tiên là câu hỏi dạng
mở, nghĩa là người trả lời có thể tùy theo ý kiến của mình mà trả lời về cảm nhận của họ về sự
thỏa mãn công việc của họ. Dạng câu hỏi thứ hai là dạng câu hỏi đóng, nghĩa là người thiết kế
bảng câu hỏi sẽ đưa ra luôn những lựa chọn trả lời với các tuyên bố về thái độ của người trả lời
như hoàn toàn đồng ý, đồng ý, không chắc, không đồng ý, hoàn toàn không đồng ý.
Ví dụ thay vì hỏi câu hỏi dưới dạng về mở “Anh/ chị cảm thấy lương của mình nhận được từ công
ty như thế nào?” thì ta có thể hỏi câu hỏi dưới dạng đóng “Mức lương của anh/chị hiện nay là phù
hợp với năng lực và đóng góp của anh/ chị đối với công ty” kèm theo năm lựa chọn trả lời là: hoàn
toàn đồng ý, đồng ý, không ý kiến, không đồng ý và hoàn toàn không đồng ý. Với dạng câu hỏi
đầu tiên, chúng ta sẽ nhận được các câu trả lời khác nhau và hầu như là mỗi người trả lời một cách.
Điều này khiến ta không kiểm soát được câu trả lời của họ và cũng khó có thể lượng hóa hay rút
ra được một kết luận chung về vấn đề mức lương của họ. Với dạng câu hỏi thứ hai và với câu trả
lời có sẵn, khi nhận được câu trả lời chúng ta sẽ thấy được rõ hơn về đánh giá của người trả lời
đối với mức lương của họ hiện nay.
Như vậy sử dụng câu hỏi đóng trong nghiên cứu thái độ nói chung là thuận lợi hơn. Ngoài ra, vì
một trong những mục tiêu của đề tài này là tìm hiểu, xác định mức độ thỏa mãn công việc nên
việc sử dụng câu hỏi dạng đóng với các lựa chọn trả lời dạng thang đo Likert là phù hợp nhất. Với
câu trả lời của người trả lời dưới dạng thang đo này, ta sẽ thấy được sự thỏa mãn công việc của
người nhân viên ở từng khía cạnh, từng nhân tố trong công việc ở mức thỏa mãn hay không thỏa
mãn và ở mức độ nhiều hay ít (đối với Likert năm và bảy mức độ). Đồng thời, vì thang đo Likert
là thang đo khoảng nên ta có thể sử dụng số liệu thu thập được để xử lý, phân tích định lượng để
xác định mối quan hệ tương quan, quan hệ tuyến tính giữa các biến nói chung, cũng như giữa các
biến độc lập và biến phụ thuộc.
Tuy nhiên để đảm bảo tính phù hợp của thang đo, theo Kumar (2005) cần giải quyết hai vấn đề
Thông tin phân loại
nhân viên
Họ tên
Định danh
Email
Định danh
Giới tính
Định danh
Năm sinh
Tỷ lệ
Thời gian bắt đầu làm việc
Tỷ lệ
Trình độ học vấn
Cấp bậc
Vị trí công việc
Cấp bậc
Loại hình doanh nghiệp
Định danh
Thông tin về sự thỏa mã n từng khía cạnh chi tiết trong công việc
Đánh giá chi tiết về mức
độ thỏa mãn ở từng khía
cạnh của công việc
Các chỉ số đánh giá về thu nhập
Likert 5 mức độ
Các chỉ số đánh giá về đào tạo thăng tiến
Các chỉ số đánh giá về cấp trên
Các chỉ số đánh giá về đồng nghiệp
thập thông tin cần nghiên cứu.
Theo Cooper và Schindler (1998), lý do quan trọng khiến người ta sử dụng phương pháp chọn
mẫu phi xác suất là tính tiết kiệm về chi phí và thời gian. Về mặt này thì phương pháp chọn mẫu
phi xác suất vượt trội so với chọn mẫu xác suất. Ngoài ra, hai tác giả cũng nhắc nhở rằng chọn
mẫu xác suất không phải lúc nào cũng đảm bảo tính chính xác và trong một số trường hợp chọn
mẫu xác suất là không thể thực hiện được. Tuy nhiên hai tác giả này cũng khẳng định nhược điểm
lớn nhất của phương pháp chọn mẫu phi xác suất là sự chủ quan thiên vị trong quá trình chọn mẫu
và sẽ làm méo mó biến dạng kết quả nghiên cứu. Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thị Cành (2007) cho
rằng chọn mẫu phi xác suất là dễ phác thảo và thực hiện nhưng nó có thể cho kết quả sai lệch bất
chấp sự phán đoán của chúng ta, do ngẫu nhiên nên có thể chúng không đại diện cho tổng thể.
Vì đây là nghiên cứu khám phá cùng với phân tích như trên, phương pháp chọn mẫu phi xác suất
với hình thức chọn mẫu thuận tiện là phù hợp nhất. Các bảng câu hỏi nghiên cứu sẽ được gửi trực
tiếp đến bạn bè, người quen để trả lời đồng thời cũng nhờ những người này gửi cho bạn bè của họ
để trả lời thêm cho đến khi đạt được số lượng mẫu cần thiết.
Thời gian mở thầu : 9h00 ngày 20/11/2006
Kết quả phát hành: kể từ ngày 01/11/2006 đến ngày hết hạn đã có 08 nhà thầu mua HSDT.
1.3.3.1. Tóm tắt quá trình chuẩn bị đấu thầu gói thầu số 01
- Sau khi kế hoạch đấu thầu được phê duyệt, phòng ĐTPT đệ trình lên Giám đốc Công ty VNP
tờ trình xin phép thành lập Tổ chuyên gia giúp việc đấu thầu (TCG giúp việc đấu thầu), để cùng
với phòng ĐTPT thực hiện tổ chức đấu thầu gói thầu số 01. Tờ trình kèm theo danh sách các
cán bộ dự kiến trong TCG giúp việc đấu thầu.
- TCG giúp việc đấu thầu tiến hành lập HSMT và các tiêu chuẩn xét thầu.
- Phòng ĐTPT tiến hành thẩm định HSMT, rồi lập tờ trình xin giám đốc Công ty phê duyệt
HSMT.
- Sau khi HSMT được phê duyệt, phòng ĐTPT tiến hành phát hành HSMT cho các nhà thầu.
1.3.3.2. Phát hành HSMT và Mở thầu
Thư mời thầu thông báo ngày hết hạn là 17h00 ngày 03/11/2006. Tổng thời gian phát hành HSMT
là 03 ngày.
- Mở thầu:
Thời gian đóng thầu là 9h00 giờ Việt Nam ngày 20/11/2006 tại phòng Đầu tư Phát triển, Công ty
VNP, 56 Huỳnh Thúc Kháng, Hà Nội mỗi nhà thầu phải nộp 01 hồ sơ gốc và 03 bản sao. HSDT
được mở công khai vào hồi 9h00 ngày 20/11/2006 cùng với sự chứng kiến của đại diện các nhà
thầu; đại diện của công ty; và các đại biểu mời.
1. Công ty Cổ phần Thương mại Công nghệ An Phát (gọi tắt là Công ty An Phát),
2. Công ty TNHH Điện tử Công nghệ ETC (gọi tắt là Công ty ETC),
3. Liên danh Công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại, dịch vụ kỹ thuật DTSINC & Công ty Điện tử
Giảng Võ GVECO (gọi tắt là Liên danh DTSINC & GVECO),
4. Liên danh Công ty Cổ phần Nguyễn Hoàng và Công ty TNHH sản xuất, xây dựng và thương
mại Mê Linh (gọi tắt là Liên danh Nguyễn Hoàng & Mê Linh).
Bảng tổng hợp mở thầu được tóm tắt như sau:
STT
Tên Nhà thầu
Quốc tịch
thầu
Thỏa thuận
liên danh
Đăng ký
kinh doanh
Thư ủy
quyền của
nhà sản
xuất
Số lượng
HSDT
Bảo đảm dự
thầu
Công ty An
Phát
Không hợp
lệ
Nhà thầu
độc lập
Hợp lệ
Có
Đủ
Hợp lệ
Công ty
ETC
Hợp lệ
Nhà thầu
độc lập
Nguyễn
Hợp lệ
Hợp lệ
Hợp lệ
Có
Đủ
Hợp lệ
Sau các bước kiểm tra trên, các nhà thầu sau bị loại sơ bộ do vi phạm các điều kiện tiên quyết của
HSMT:
Nhà thầu 1: Công ty An Phát- Lý do: Người ký đơn dự thầu không phải là người đại diện hợp pháp
trước pháp luật của nhà thầu mà không có giấy ủy quyền.
Nhà thầu 2: Công ty ETC- Lý do: Không có báo cáo kiểm toán và quyết toán thuế.
Những nhà thầu được chấp nhận vào đánh giá về năng lực, kinh nghiệm:
Nhà thầu 1: Liên danh DTSINC & GVECO
Nhà thầu 2: Liên danh Nguyễn Hoàng & Mê Linh
- B2: Đánh giá phương diện năng lực, kinh nghiệm
Trong bước này, năng lực và kinh nghiệm của các nhà thầu được đánh giá theo các nội dung mà
TCG giúp việc đấu thầu xét thấy là cần thiết khi tiến hành lựa chọn nhà thầu phù hợp cho gói thầu.
Tiêu chí đánh giá trong bước này là “Đạt” hoặc “không đạt”.
STT
Nội dung đánh giá
Kết quả đánh
giá
Hoàng &
Mê Linh