BÀI TIỂU LUẬN
MÔN HỌC: ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG
SẢN VIỆT NAM
Đề tài: Nền văn hóa Việt Nam thời kỳ hội nhập (1995 đến nay)
Yêu cầu: Nghiên cứu dưới góc độ đường lối, chủ trương của Đảng
1
MỤC LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. GIÁO TRÌNH ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
2. GIÁO TRÌNH LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
3. GIÁO TRÌNH CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM
4.
5.
6. Và một số tài liệu khác
I- Hoàn cảnh lịch sử
1. Tình hình nước ta trong thập niên 90 của thế kỷ XX
Đến năm 1990, tình hình kinh tế - xã hội của ta đã có một số chuyển biến
tốt nhưng vẫn còn yếu kém.
Từ tháng 12-1986 đến tháng 6-1991, sau hơn bốn năm thực hiện đường lối
đổi mới của Đảng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, chúng ta đã đạt được
những thành tựu bước đầu rất quan trọng. Đó là:
- Tình hình chính trị của đất nước ổn định. Nền kinh tế có những chuyển biến tích
cực: đã đạt được những tiến bộ rõ rệt trong việc thực hiện các mục tiêu của ba
chương trình kinh tế, bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần,
vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, nguồn lực sản xuất
của xã hội được huy động tốt hơn, tốc độ lạm phát được kìm chế bớt, đời sống vật
chất và tinh thần của một bộ phận nhân dân có phần được cải thiện.
- Sinh hoạt dân chủ trong xã hội ngày càng được phát huy.
- Quốc phòng được giữ vững, an ninh quốc gia được bảo đảm. Từng bước phá thế
bị bao vây về kinh tế và chính trị, mở rộng quan hệ quốc tế, tạo ra môi trường
thuận lợi hơn cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
khung về hợp tác với EU (1995).
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (tháng 6-1996) diễn ra
trong bối cảnh Liên Xô tan rã và chủ nghĩa xã hội đi vào thoái trào. Cách mạng
khoa học và công nghệ phát triển với trình độ ngày càng cao. Nước ta đã ra khỏi
3
khủng hoảng kinh tế - xã hội. Công cuộc đổi mới trong 10 năm (1986-1996) thu
được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng. Tháng 11-1998, gia nhập
tổ chức Diễn đàn hợp tác châu Á – Thái Bình Dương (APEC).
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 4-2001) đã đánh giá:
Thế kỷ XX ghi đậm trong lịch sử loài người những dấu ấn cực kỳ sâu sắc.
Đó là thế kỷ khoa học và công nghệ tiến nhanh chưa từng thấy; kinh tế phát triển
mạnh mẽ xen lẫn những cuộc khủng hoảng lớn của chủ nghĩa tư bản thế giới và sự
phân hoá gay gắt về giàu nghèo giữa các nước. Đó là thế kỷ diễn ra hai cuộc chiến
tranh thế giới đẫm máu cùng hàng trăm cuộc xung đột vũ trang. Đó cũng là thế kỷ
chứng kiến một phong trào cách mạng sâu rộng trên phạm vi toàn thế giới, mặc dù
vào thập niên cuối, chủ nghĩa xã hội hiện thực tạm thời lâm vào thoái trào.
Đối với nước ta, thế kỷ XX là thế kỷ của những biến đổi to lớn, thế kỷ đấu tranh
oanh liệt giành lại độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã
hội, thế kỷ của những chiến công và thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và thời đại. Với
những thắng lợi giành được trong thế kỷ XX nước ta từ một nước thuộc địa nửa
phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã
hội chủ nghĩa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong
khu vực và trên thế giới. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ
đất nước, làm chủ xã hội. Đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu đã
bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
2. Tình hình thế giới
Các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng sâu sắc. Đến đầu những
năm 1990, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô sụp đổ, dẫn đến những biến đổi to
lớn về quan hệ quốc tế. Trật tự thế giới được hình thành từ sau Chiến tranh thế giới
thứ hai trên cơ sở hai khối đối lập do Liên Xô và Hoa Kỳ đứng đầu (trật tự thế
nghèo. Đại hội lần thứ IX của Đảng chỉ rõ: “Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế
khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia; xu thế này đang bị một số
nước phát triển và các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều
mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu
tranh”
Thực tế cho thấy rằng, các nước muốn tránh khỏi nguy cơ bị biệt lập, tụt
hậu, kém phát triển thì phải tích cực, chủ động tham gia vào quá trình toàn cầu hoá,
đồng thời phải có bản lĩnh cân nhắc một cách cẩn trọng các yếu tố bất lợi để vượt
qua.
5
Tình hình khu vực châu Á – Thái Bình Dương, từ những năm 1990, có nhiều
chuyển biến mới: Trước hết, trong khu vực tuy vẫn còn tồn tại những bất ổn, như
vấn đề hạt nhân, vấn đề tranh chấp lãnh hải thuộc vùng biển Đơng và việc một số
nước trong khu vực tăng cường vũ trang, nhưng châu Á – Thái Bình Dương vẫn có
tiềm lực lớn và năng động về phát triển kinh tế. Xu thế hồ bình và hợp tác trong
khu vực phát triển mạnh.
Những đặc điểm, xu thế quốc tế và u cầu, nhiệm vụ của cách mạng Việt
Nam nêu trên là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam xác định quan điểm và hoạch
định chủ trương, chính sách đối ngoại thời kỳ đổi mới.
3. Tác động của bối cảnh lịch sử đến sự phát triển văn hóa ở nước ta
Trong bối cảnh như vậy của thế giới hiện đại đang hình thành nền kinh tế toàn
cầu. Sống trong nền kinh tế này loài người càng nhận thức sâu sắc rằng các
quốc gia - dân tộc, dù lớn hay nhỏ, phải phụ thuộc lẫn nhau và điểm gặp gỡ
giữa các quốc gia - dân tộc là phát triển kinh tế. Vừa hợp tác, vừa đấu tranh -
nhưng không phải là đấu tranh vũ trang - là cách ứng xử khôn ngoan ngày nay
của các quốc gia - dân tộc trên hành tinh của chúng ta.
Phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ xã hội không? Kinh tế học tân cổ điển cho
rằng phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội là một tương quan nan giải: đây là một
mâu thuẫn mang tính nghòch lý, không có khả năng giải quyết. UNESCO đã
đưa ra giải pháp, đó là tư tưởng văn hóa và phát triển, rằng chỉ có thể đạt được
đất nước... Lĩnh vực sản xuất vật chất đơn thuần cũng hàm chứa trong nó những
nội dung văn hóa, phản ánh đặc tính văn hóa của con người, của cộng đồng người
trong lĩnh vực sản xuất vật chất đó. Một sản phẩm vật chất cụ thể bao giờ cũng kết
tinh những giá trị văn hóa nào đó. Sự tác động của q trình này đối với văn hóa
vừa biểu hiện trên các lĩnh vực kinh tế, thương mại và các lĩnh vực khác, vừa trực
tiếp tác động đến văn hóa, đến các giá trị văn hóa, đến phong tục tập qn, các giá
trị truyền thống và các thiết chế văn hóa của xã hội… mà hiện nay chúng ta khó có
thể dự lường hết được.
7
Trong thời đại ngày nay, xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra
mạnh mẽ, trên quy mô lớn. Cùng với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng
khoa học - công nghệ hiện đại và mạng thông tin toàn cầu, “ngôi nhà” thế giới
dường như trở nên “nhỏ bé” hơn. “Toàn cầu hoá kinh tế tạo ra cơ hội phát triển
nhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố bất bình đẳng, gây khó khăn, thách thức lớn
cho các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển”
(1)
. Sự ảnh hưởng của quá trình
này không chỉ về phương diện kinh tế. Bất luận tham gia chủ động hay buộc phải
cuốn theo một cách bị động vào quá trình toàn cầu hoá kinh tế thì văn hóa dân tộc
đều phải tiếp xúc, giao thoa với các nền văn hóa khác trên thế giới, đều thôi thúc
từng dân tộc suy nghĩ xem phải ứng xử với xu thế lịch sử này như thế nào.
4. Xây dựng và phát triển văn hóa trong giai đoạn này
"Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn
diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ
tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội,
trở thành sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”.
Giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia, là
vấn đề tồn tại hay không tồn tại của từng dân tộc.
Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là tài sản vô giá; là linh hồn của dân tộc được
hun đúc qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước với bao biến cố thăng trầm
Giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc và xây dựng chính sách văn hoá trong quá
trình phát triển kinh tế xã hội là một vấn đề rất quan trọng. Yêu cầu đặt ra là phải
giữ gìn và nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc đồng thời kế thừa và phát huy truyền
thống đạo đức, tập quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc. Xây dựng nền văn hóa tiên
tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Điều đó đòi hỏi con người Việt Nam phải kế thừa và
phát triển về nhân cách, trí tuệ, tư tưởng đạo đức với năng lực tổng hợp và kỹ thuật
lao động tiên tiến, đưa dân tộc ta đến một tầm cao văn minh mới, đủ sức làm chủ
và bảo đảm sự nghiệp cách mạng thắng lợi. Người Việt Nam với những tố chất tích
cực như tính cộng đồng cao, ý thức đồng thuận, tính cần cù, cường độ lao động
lớn, truyền thống hiếu học… đã và sẽ làm được nhiều việc phi thường.
II- Đường lối xây dựng, phát triển nền văn hóa Đảng trong thời
kỳ đổi mới
1. Quá trình đổi mới tư duy về xây dựng và phát triển nền văn hóa
Từ Đại hội VI đến Đại hội X, Đảng đã hình thành từng bước nhận thức mới
về đặc trưng của nền văn hóa mới mà chúng ta cần xây dựng; về chức năng, vai
trò, vị trí của văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế.
9
Đại hội VI (1986) xác định khoa học – kỹ thuật là một động lực to lớn thúc
đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội; có vị trí then chốt trong sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội.
Cương lĩnh 1991 (được Đại hội VII thông qua) lần đầu tiên đưa ra quan
niệm nền văn hóa Việt Nam có đặc trưng: tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc thay
cho quan niệm nền văn hóa Việt Nam có nội dung xã hội chủ nghĩa, có tính chất
dân tộc, có tính đảng, tính nhân dân đã được nêu ra trước đây. Cương lĩnh chủ
trương xây dựng nền văn hóa mới, tạo ra đời sống tinh thần cao đẹp, phong phú và
đa dạng, có nội dung nhân đạo, dân chủ, tiến bộ; khẳng định và biểu dương những
giá trị chân chính, bồi dưỡng cái chân – thiện – mỹ theo quan điểm tiến bộ, phê
phán những cái lỗi thời, thấp kém; khẳng định tiếp tục tiến hành cách mạng xã hội
chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa, làm cho thế giới quan của chủ nghĩa
Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vị trí chỉ đạo trong đời sống tinh thần
phạm vi, vai trò của dân chủ hóa – xã hội hóa văn hóa và của cá nhân ngày càng
tăng lên và mở rộng là những thách thức mới đối với sự lãnh đạo và quản lý công
tác văn hóa của Đảng và Nhà nước.
2. Quan điểm chỉ đạo và chủ trương về xây dựng, phát triển nền
văn hóa
a. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực
thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
Quan điểm này chỉ rõ chức năng, vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của văn
hóa đối với sự phát triển xã hội.
- Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội:
Theo ý kiến của nguyên Tổng giám đốc UNESCO: văn hóa phản ánh và thể
hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và
các cộng đồng) diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại; qua
hàng bao thế kỷ nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống và lối
sống mà trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình.
Các giá trị nói trên tạo thành nền tảng tinh thần của xã hội – vì nó được thấm
nhuần trong mỗi con người và trong cả cộng đồng; được truyền lại, tiếp nối và phát
huy qua các thế hệ; được vật chất hóa và khẳng định vững chắc trong cấu trúc xã
hội của từng dân tộc (ví dụ: cấu trúc này ở Việt Nam là cấu trúc Nhà – Làng –
Nước) đồng thời nó tác động hàng ngày đến cuộc sống, tư tưởng, tình cảm của mọi
thành viên xã hội bằng môi trường xã hội – văn hóa (bao gồm văn hóa vật thể và
văn hóa phi vật thể).
11
Tóm lại, văn hóa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử của dân tộc, nó làm
nên sức sống mãnh liệt, giúp cộng đồng dân tộc Việt Nam vượt qua sóng gió và
thác ghềnh để tồn tại và không ngừng phát triển.
Vì vậy, chúng ta chủ trương làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội để các giá trị văn hóa trở thành nền tảng tinh thần bền vững của xã
hội, trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội. Đó cũng là con đường xây dựng
con người mới, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh đủ sức đề kháng và đẩy
Trong nền kinh tế thị trường, một mặt văn hóa dựa vào tiêu chuẩn của cái
đúng, cái tốt, cái đẹp để hướng dẫn và thúc đẩy người lao động không ngừng phát
huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, nâng cao tay nghề, sản xuất ra hàng hóa với số
lượng và chất lượng ngày càng cao đáp ứng nhu cầu của xã hội. Mặt khác, văn hóa
sử dụng sức mạnh của các giá trị truyền thống, của đạo lý dân tộc để hạn chế xu
hướng sùng bái lợi ích vật chất, sùng bái tiền tệ, nghĩa là hạn chế xu hướng hàng
hóa và đồng tiền “xuất hiện với tính cách là lực lượng có khả năng xuyên tạc bản
chất con người cũng như những mối liên hệ khác” dẫn tới suy thoái xã hội.
Nền văn hóa Việt Nam đương đại, với những giá trị mới sẽ là một tiền đề
quan trọng đưa đất nước ta hội nhập ngày càng sâu hơn và toàn diện hơn vào nền
kinh tế thế giới.
Trong vấn đề bảo vệ môi trường vì sự phát triển bền vững, văn hóa giúp hạn
chế lối sống chạy theo ham muốn quá mức của “xã hội tiêu thụ’, dẫn tới chỗ làm
cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường sinh thái.
Văn hóa, nhất là văn hóa phương Đông cổ vũ và hướng dẫn cho một lối sống
có chừng mực, hài hòa với thiên nhiên. Nó đưa ra mô hình ứng xử thân thiện giữa
con người với thiên nhiên vì sự phát triển bền vững cho thế hệ hiện nay và cho các
thế hệ mai sau.
- Văn hóa là một mục tiêu của phát triển:
Mục tiêu xây dựng một xã hội Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh” chính là mục tiêu văn hóa.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 1991 – 2000 xác định “Mục tiêu và
động lực chính của sự phát triển là vì con người, do con người”. Đồng thời nêu rõ
yêu cầu “tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát
triển văn hóa, bảo vệ môi trường”. Phát triển hướng tới mục tiêu văn hóa – xã hội
mới bảo đảm phát triển bền vững.
Thực tế nhiều nước cho thấy mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển là vấn
đề bức xúc của mọi quốc gia. Sau khi thoát khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực
13
dân, các nước độc lập dân tộc đang tìm con đường dẫn tới ấm no, hạnh phúc thì
số phát triển con người, 1 trong 3 chỉ tiêu của cách tính toán mới này là thành tựu
giáo dục (2 chỉ tiêu kia là tuổi thọ bình quân và mức thu nhập). Chỉ tiêu giáo dục
lại được tổng hợp từ 2 chỉ tiêu khác là tình trạng học vấn của nhân dân và số năm
được giáo dục tính bình quân mỗi người.
14