MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU Trang
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
ĐỐI VỚI KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH…………………………… 1
1.TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ NGOÀI QUỐC
DOANH…………………………………1
1.1. Khái niệm về kinh tế ngoài quốc doanh………………………………1
1.2. Đặc điểm của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở nước ta hiện nay.2
1.3. Vai trò của kinh tế ngoài quốc doanh đối với nền kinh tế nước ta…3
2. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI KINH TẾ NGOÀI QUỐC
DOANH………………5
2.1. Tín dụng ngân hàng………………………………………………………5
2.1.1. Khái niệm…………………………………………………………………………5
2.1.2.Nguyên tắc của tín dụng ngân hàng……………………………………………6
2.2. Phân loại tín dụng ngân hàng……………………………………………6
3. CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN
HÀNG………………………………………………7
3.1. Chất lượng tín dụng ngân hàng………………………………………….7
3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngân hàng………… 8
3.2.1. Về phía ngân hàng…………………………………………………………… 8
3.2.2. Về phía khách hàng…………………………………………………………… 9
3.2.3.Các nhân tố khác………………………………………………………………10
CHƯƠNG II: HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI THÀNH PHẦN KINH
TẾ NGOÀI QUỐC DOANH TẠI NHTM CỔ PHẦN Á CHÂU HẢI PHÒNG
……………………………………………………………………….11 1. KHÁI
QUÁT VỀ NHTM CỔ PHẦN Á CHÂU HẢI PHÒNG……………………11
1.1. Giới thiệu chung………………………………………………………… 11
1.2. Cơ cấu tổ chức…………………………………………………………….11
Trang 1
1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM Cổ phần Á châu Hải Phòng
trong thời gian qua……………………………………………………….13
cạnh tranh bình đẳng theo luật chơi chung do cộng đồng quốc tế quy định. Doanh
nghiệp ngoài quốc doanh của ta chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có vai trò
đặc biệt quan trọng tạo việc làm, tạo thu nhập, góp phần ổn định đời sống xã hội.
Tuy nhiên, ngoài những điều kiện kinh tế xã hội như thị trường, thiết bị công
nghệ, nhà xưởng, trình độ quản lý, trình độ tay nghề…để đảm bảo phát triển
nhanh, mạnh và có hiệu quả đối với các đơn vị ngoài quốc doanh trong quá trình
hội nhập thì một điều không thể không nhắc đến là điều kiện về vốn. Mọi hoạt
động kinh doanh đều cần vốn tài chính, trong khi các đơn vị này lại rất hạn hẹp và
gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó, các ngân hàng thương mại còn e ngại khi cho
thành phần kinh tế ngoài quốc doanh vay, nguyên nhân chính là do chất lượng tín
dụng đối với thành phần kinh tế này còn chưa cao. Điều này đã ảnh hưởng ít nhiều
đến sự phát triển kinh tế.
Bởi vậy, sau khi thực tập tại NHTM Cổ phần Á châu Hải Phòng và nhận thức
rõ những khó khăn mà Ngân hàng đang phải đối mặt trong hoạt động tín dụng, đề
tài “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với thành phần kinh tế ngoài
quốc doanh” đã được chọn để nghiên cứu và phát triển thành luận văn tốt nghiệp.
Do nhận thức còn hạn chế và thời gian học hỏi còn chưa nhiều, bài viết không
thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của
các thầy cô giáo nhằm hoàn thiện hơn về bài viết này.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Nguyễn Ngọc Minh , Ban lãnh đạo cùng
cán bộ nhân viên công tác tại NHTM Cổ phần Á châu Hải Phòng đã giúp đỡ và
hướng dẫn em hoàn thành luận văn này.
Trang 3
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KINH
TẾ NGOÀI QUỐC DOANH
1.TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH
1.1. Khái niệm về kinh tế ngoài quốc doanh
Kinh tế ngoài quốc doanh là loại hình kinh tế khá phong phú, bao gồm mọi loại
- Chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh và dễ thích ứng:
Người quản lý thường là chủ sở hữu hoặc là người có vốn lớn nhất nên họ được
quyền đưa ra các quyết định. Cũng do quy mô hoạt động nhỏ nên họ được tự do
hành động, họ có khả năng tự quyết, nên họ có thể chớp lấy những cơ hội kinh
doanh thuận lợi. Vì vậy, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có sự thích ứng
nhanh với sự thay đổi của thị trường. Việc thâm nhập vào thị trường hàng hoá
trong giai đoạn này, sẽ đem lại cho doanh nghiệp thành công và khi sản phẩm bị
thị trường từ chối thì doanh nghiệp dễ dàng rút lui và lựa chọn mặt hàng kinh
doanh khác trong phạm vi được phép sao cho có lợi nhất phù hợp với khả năng của
mình. Vì vậy đây là một thế mạnh để doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia thị
trường với các doanh nghiệp Nhà nước.
- Cơ cấu quản lý linh hoạt:
Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thường thích hợp với những cơ cấu tổ chức
đơn giản. Số lượng nhân viên ít và các nhân viên này thường phải đảm nhận công
việc theo kiểu đa năng. Phần lớn các chủ doanh nghiệp vừa phải đảm nhận vai trò
quản trị (điều hành và chỉ huy nhân viên) vừa phải đảm nhiệm vai trò lãnh đạo
(tìm kiếm và quyết định cơ hội đầu tư). Mặt khác, vốn của thành phần kinh tế này
là do những chủ thể kinh doanh tình nguyện đóng góp, do các cổ đông đóng góp
hay do liên doanh liên kết… bằng tiền hoặc tài sản. Vì thế họ có toàn quyền quyết
định ngành nghề kinh doanh phù hợp với khả năng, trình độ nhu cầu của thị trường
đối với loại hàng hoá mà họ sẽ kinh doanh. Mặc dù quy mô hoạt động khá bé nhỏ,
song đó lại là một lợi thế cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng vòng quay
vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Trang 5
- Chi phí gián tiếp thấp:
Đặc điểm của một doanh nghiệp ngoài quốc doanh là một người chủ và số nhân
viên làm việc không thường xuyên, giúp cho chi phí thấp. Chi phí gián tiếp thấp
tạo lợi thế cạnh tranh về giá của các sản phẩm cuối cùng. Chủ doanh nghiệp có
tinh thần trách nhiệm cao vì lợi ích của họ gắn liền với sự thành bại của doanh
nghiệp. Cũng chính vì vậy, họ đòi hỏi nhân viên làm việc nghiêm túc và hiệu quả,
thêm nhiều công ăn việc làm góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp trong xã hội.
Như chúng ta đã biết, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh với quy mô vốn đầu tư
không nhiều có thể dễ dàng thành lập bởi một số cá nhân, gia đình hay một số tổ
chức, cùng với việc sử dụng kỹ thuật sản xuất cần tương ứng nhiều lao động vì đây
là nơi cung cấp việc nhanh nhất, giúp tạo việc làm với số vốn thấp hơn nhiều so
với doanh nghiệp có quy mô lớn.
Trong những năm gần đây, cùng với số lao động được giải quyết việc làm bằng
vốn đầu tư của ngân sách Nhà nước, đã có khá nhiều lao động có thêm việc làm do
các đơn vị tư nhân bỏ vốn vào kinh doanh. Hàng năm có khoảng một triệu lao
động có việc làm được tạo ra chủ yếu nhờ khu vực kinh tế này.
Thứ hai, kinh tế ngoài quốc doanh tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh, là động lực
phát triển của nền kinh tế.
Trước đây hầu hết các lĩnh vực kinh tế, các ngành nghề sản xuất kinh doanh đều
do khu vực kinh tế quốc doanh đảm nhận. Sự phát triển của kinh tế ngoài quốc
doanh đã tác động mạnh mẽ đến doanh nghiệp Nhà nước, buộc các doanh nghiệp
này phải đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức kinh doanh để tồn tại và đứng
vững trong cơ chế thị trường. Như vậy, sự phát triển của khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh đã góp phần quan trọng hình thành và xác lập vị trí của chủ thể sản
xuất kinh doanh theo yêu cầu của cơ chế thị trường, đẩy nhanh việc hình thành nền
kinh tế nhiều thành phần, thúc đẩy cải cách doanh nghiệp nhà nước, cải tổ cơ chế
quản lý theo hướng thị trường, mở cửa hợp tác với bên ngoài, nâng cao năng lực
cạnh tranh.
Thứ ba, kinh tế ngoài quốc doanh phát triển góp phần tăng thu ngân sách Nhà
nước.
Sản xuất kinh doanh phát triển là tiền đề tạo ra nguồn thu ngân sách Nhà nước.
Do vậy, để tăng nguồn thu cho ngân sách, biện pháp quan trọng nhất là không
Trang 7
ngừng phát triển kinh tế và đời sống xã hội. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tồn
tại và phát triển là phần đóng góp to lớn cho ngân sách Nhà nước( khoảng 30%)
thông qua thuế và các khoản khác. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có vai trò
do bộ phận Nguồn vốn thực hiện. Còn hoạt động cho vay được đảm nhận bởi bộ
phận Tín dụng. Từ đó người ta đã đưa ra một khái niệm khác về tín dụng ngân
hàng là: “Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn bằng tiền tệ, trong đó ngân
hàng là người cho vay, còn người đi vay là các tổ chức, cá nhân trong xã hội, trên
nguyên tắc người đi vay sẽ hoàn trả vốn lẫn lãi vào một thời điểm xác định trong
tương lai như hai bên đã thoả thuận”.
2.1.2 Nguyên tắc của tín dụng ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng được tiến hành với nguyên tắc sau:
a. Ngyên tắc có mực đích: Phục vụ cho một hoạt động sản xuất kinh doanh nhất
định, hoặc đối tượng cụ thể như để mua sắm nguyên vật liệu thiét bị máy móc….
Ngân hàng chỉ chấp nhận cho vay khi xác định rõ mục đích của người xin vay.
b. Nguyên tắc hoàn trảcả gốc và lãi: Khác với quan hệ mua bán thông thường
khác, quan hệ tín dụng chỉ trao đổi quyền sử dụng giá trị khoản vay chứ không trao
đổi giá trị khoản vay. Người cho vay giao giá trị khoản vay dưới dạng hàng hoá
hay tiền tệ cho người kia sử dụng trong một thời gian nhất định. Sau khi khai thác
sử dụng khoản vay trong thời gian cam kết, người đi vay phải hoàn trả toàn bộ giá
trị khoản vay cộng thêm khoản lợi tức hợp lý kèm theo như cam kết đã giao ước
với người cho vay.
Đây là đặc trưng thuộc về vận động của tín dụng và là dấu ấn để phân biệt phạm
trù tín dụng ngân hàng với tín dụng khác. Sau khi kết thúc một vòng tuần hoàn tín
dụng trở về trạng thái tiền tệ, vốn tín dụng được người đi vay hoàn trả Ngân hàng
đúng thời hạn kèm theo phần lãi như đã thoả thuận.
c. Nguyên tắc có đảm bảo:Mọi khoản vay phải có một lượng giá trịtài sản đảm
bảo. Việc đảm bảo khoản vay nhằm phòng ngừa những rủi ro khi người vay gặp
trắc trở không trả được nợ. Đối với những doanh nghiệp có uy tín, có khả năng tài
chính và sản xuất kinh doanh ổn định luôn trả nợ sòng phẳng thì có thể dùng tín
chấp.
2.2. Phân loại tín dụng ngân hàng.
Trang 9
Có nhiều loại tín dụng khác nhau tuỳ theo phương thức phân chia, như phân
Trang 10
Có thể nói, chất lượng của một sản phẩm hay một dịch vụ đều được biểu hiện ở
mức độ thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng và lợi ích về mặt tài chính cho
người cung cấp. Theo cách đó, trong hoạt độngtín dụng ngân hàng, chất lượng tín
dụng được thể hiện ở sự thoả mãn như cầu vay vốn của khách hàng, phù hợp với
sự phát triển kinh tế - xã hội của đát nước, đồng thời đảm bảo sự tồn tại và phát
triển của ngân hàng.
Với mỗi bên tham gia vào hoạt động tín dụng thì chất lượng tín dụng lại được
hiểu một cách khác nhau.
Đối với NHTM : Chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi, mức độ, giới hạn tín
dụng phải phù hợp khả năng thực lực của bản thân Ngân hàng và đảm bảo được
tính cạnh tranh trên thị trương với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi.
Đối với khách hàng: Do nhu cầu vay vốn tín dụng của khách hàng là để đầu tư
cho các hoạt động sản xuất kinh doanh nên chất lượng tín dụng được đánh giá theo
tính chất phù hợp với mục đích sử dụng của khách hàng với mức lãi suất và kỳ hạn
hợp lý, thủ tục vay đơn giản, thuận lợi nhưng vẫn đảm bảo nguyên tác tín dụng.
Đối với nền kinh tế: Chất lượng tín dụng được đánh giá qua mức phục vụ sản
xuất và lưu thông hàng hoá, góp phần giải quyết việc làm, khai thác các khả năng
trong nền kinh tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tẳng
trưởng kinh tế.
Hiểu đúng về bản chất của chất lượng tín dụng, phân tích và đánh giá đúng
những tồn tại về chất lượng sẽ giúp cho ngân hàng tìm được biện pháp quản lý
thích hợp để có thể đứng vững trong nền kinh tế thị trường.
3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngân hàng
Để đưa ra những giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng tín dụng đối
với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, cần phải quan tâm tới các nhân tố ảnh
hưởng đến nó, chúng ta sẽ lần lượt xem xét các nhân tố về phía ngân hàng, khách
hàng và các nhân tố khác.
3.2.1. Về phía ngân hàng.
. Chất lượng cán bộ: Con người luôn là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong
định đầu tư chính xác.
Trang 12
. Năng lực kinh nghiệm quản lý kinh doanh của khách hàng: Đây chính là tiền đề
cần thiết tạo ra khả năng kinh doanh của khách hàng, là cơ sở để khách hàng thực
hiện cam kết hoàn trả nợ đúng hạn cho ngân hàng. Trình độ của người quản lý còn
bị hạn chế thì doanh nghiệp dễ bị thua lỗ, dẫn đến khả năng trả nợ kém, ảnh hưởng
xấu đến chất lượng tín dụng của ngân hàng.
3.2.3. Các nhân tố khác
. Môi trường kinh tế: tính ổn định về kinh tế mà trước hết là ổn định về tài chính
quốc gia, vấn đề lạm phát là những điều mà những doanh nghiệp rất quan tâm vì
nó liên quan trực tiếp kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
. Môi trường pháp lý: Hoạt động của ngân hàng phải tuân thủ theo quy định của
nhà nước, luật tổ chức tín dụng, luật dân sự và các quy định khác. Nếu quy định
pháp luật không rõ ràng, không đồng bộ và có nhiều kẽ hở rất khó khăn cho ngân
hàng trong mọi hoạt động.
. Thảm hoạ thiên nhiên: Các yếu tố do thiên nhiên gây ra lũ lụt, hoả hoạn, động
đất, dịch bệnh…có thể gây ra những thiệt hại không lường trước được cho cả
người và ngân hàng.
CHƯƠNG II
HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI THÀNH PHẦN KINH TẾ NGOÀI QUỐC
DOANH TẠI NHTM CỔ PHẦN Á CHÂU HẢI PHÒNG
1.KHÁI QUÁT VỀ NHTM CỔ PHẦN Á CHÂU HẢI PHÒNG.
Trang 13
1.1. Giới thiệu chung.
Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu là một ngân hàng thương mại cổ
phần Việt Nam đăng ký hoạt động tại nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Chi nhánh NHTM Cổ phần Á châu Hải Phòng được thành lập theo quyết định số
0032/NH-GP ngày 15/12 /1995 của thành phố Hải Phòng. Đây là một chi nhánh
phụ thuộc, có trụ sở tại 69 Điện Biên Phủ Hải Phòng. Hoạt động chính của ngân
hàng là huy động vốn ngắn, trung và dài hạn theo các hình thức tiền gửi tiết kiệm,
cá nhân trong và ngoài nước, các sản phẩm liên kết (bảo hiểm, tư vấn…).
. Phòng khách hàng doanh nghiệp: Đối tượng phục vụ là các doanh nghiệp. Sản
phẩm phục vụ cho khách hàng doanh nghiệp bao gồm: mở tài khoản và thanh toán,
cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh, thực hiện các dịch vụ thanh toán quốc tế,
Trang 15
Bộ phận
Giao dịch -
ngân quỹ
Bộ phận dịch
vụ khách hàng
Bộ phận tín
dụng cá nhân
Bộ phận giao dịch
Bộ phận dịch vụ KH
BP tín dụng
Bộ phận
Pháp lý CT&Xử lý nợ
Bộ phận
Kế toán
Bộ phận
hành chính
Chi nhánh
Quán toan
Phòng
giao dịch II
Phòng giao
dịch I
bảo lãnh trong nước…Phòng khách hàng doanh nghiệp và khách hàng cá nhân có
nhiệm vụ tương tự như nhau là phục vụ khách hàng các sản phẩm và dịch vụ.
Điểm khác nhau là phân loại khách hàng, hoặc là cá nhân hoặc là công ty.
Đơn vị: Tỷ đồng
Chỉ tiêu 2002 2003 2004
2003/2002 2004/2003
Tổng mức huy động
vốn
- Tiền gửi tổ chức kinh
tế
- Tiền gửi tiết kiệm
dân cư
- Phát hành giấy tờ có
giá
162,9
44,1
108,5
10,3
233
76,5
142,7
13,8
43%
73,5%
31,5%
34%
245
79,4
tiền
Tỷ
trọng
(%)
Số
tiền
Tỷ
trọng
(%)
Số tiền Tỷ
trọng
(%)
Tổng dư nợ 285,7 100 299,4 100 418,1 100
1. Phân theo thời gian
- Dư nợ ngắn hạn
- Dư nợ trung, dài hạn
2. Phân theo quan hệ sở hữu
- Dư nợ quốc doanh
- Dư nợ ngoài quốc doanh
67,8
217,9
180,9
104,8
24
76
63,6
36,4
85,8
213,6
179,6
tư nước ngoài.
Bảng 3: Kết quả kinh doanh của NHTM Cổ phần Á châu Hải Phòng
Đơn vị: Triệu đồng
CHỈ TIÊU Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004
Tổng thu nhập
Tỏng chi phí
Lợi nhuận
27.882
24.080
3.802
41.004
35.887
5.117
53.875
47.352
6.523
( Nguồn: Phòng Kế toán )
o Hoạt động kinh doanh, dịch vụ khác.
Từ năm 2002-2004 NHTM Cổ phần Á châu Hải Phòng đã tích cực mở rộng các
nghiệp vụ kinh doanh, khác như: kinh doanh ngoại tệ, dịch vụ thanh toán, chuyển
tiền…. Thu nhập từ hoạt động này ngày càng chiếm tỷ trọng tương đối cao trong
tổng thu nhập của NHTM Cổ phần Á châu Hải Phòng .
Bảng 4: Về kinh doanh ngoại tệ.
Đơn vị : Tỷ đồng
CHỈ TIÊU 2002 2003 2004
- Doanh số mua bán ngoại tệ( VNĐ)
- Doanh số dịch vụ thanh toán thẻ và séc
- Doanh số chi trả kiều hối
41,4
2,7
Năm 2004 tăng lên 32,6 tỷ so với năm 2003. Trong đó: doanh số cho vay
ngắn hạn có tốc độ tăng cao hơn, năm 2003 là tăng lên 74,8 tỷ so với năm
2002 tương đương với 58% đến 84%, năm 2004 so với 2003 là 19 tỷ. Cho
vay đối với trung dài hạn năm 2003 so với 2002 giảm từ 74,9 tỷ xuống còn
34,1 tỷ tương đương với 42% xuống 16%, nhưng đến năm 2004 số cho vay
có tăng là 47,7 tỷ tương đương với 16% lên 19,4%.
Bảng 5: Hoạt động tín dụng
Đơn vị: Tỷ đồng
Trang 20
(Nguồn: phòng khách hàng cá nhân)
- Về doanh số thu nợ đối với hoạt động này: Ta thấy công tác thu nợ đối với ngắn
hạn và trung dài hạn qua 3 năm có tăng. Doanh số thu nợ ngắn hạn có biến động
lớn cụ thể là: doanh số thu nợ năm 2003 so với năm 2002 tăng 92 tỷ (từ 77,3% đến
83,9%), năm 2004 lại giảm xuống còn 103,5 tỷ ( từ 83,9% xuống 81,8%). Thu nợ
trung dài hạn chiếm tỷ lệ nhở, điều này dễ hiểu do dư nợ trung dài hạn cũng nhỏ.
Năm 2003 là 21,7 tỷ tăng hơn so với năm 2002 là 10,7 tỷ, đến năm 2004 giảm
xuống còn 23,1 tỷ.
- Về tăng trưởng dư nợ: Tổng dư nợ tăng mạnh năm 2003 so với năm 2002 tăng
13,7 tỷ, năm 2004 so với năm 2003 tăng lên 118,7 tỷ. Trong đó, dư nợ ngắn hạn
chiếm tỷ cao so với tổng dư nợ, đặc biệt là năm 2004 đã tăng lên 248,6 tỷ cao hơn
so với năm 2003. Còn dư nợ trung dài hạn chiếm tỷ lệ nhỏ năm 2004 là 169,5 tỷ
chỉ chiếm 40,5% so với tổng dư nợ.
2.2. Về chất lượng tín dụng.
Trang 21
CHỈ TIÊU
2002 2003 2004
Doanh
số
Tỷ
trọng
21,7
71,9
28,1
212,7
178,6
34,1
199,0
167,2
31,8
299,4
211,3
88,1
84
16
83,9
16,1
70,6
29,4
245,3
197,6
47,7
126,6
103,5
23,1
418,1
248,6
169,5
80,6
19,4
81,8
số
Tỷ
trọng
(%)
Doanh
số
Tỷ trọng
(%)
1. Doanh số cho vay
- DN Nhà nước
- DN ngoài QD
2. Doanh số thu nợ
- DN Nhà nước
- DN ngoài QD
3. Dư nợ
- DN Nhà nước
- DN ngoài QD
178,7
70,8
107,9
97,3
38,7
58,6
285,7
180,9
104,8
39,6
60,4
39,7
60,3
49,1
50,9
tăng lên 1,8 tỷ. Còn đối với DN ngoài quốc doanh chiếm tỷ lệ cao so với DN Nhà
nước đặc biệt năm 2003 thu nợ được 119,6 tỷ. Vì doanh số cho vay đối với DN
ngoài quốc doanh lớn cho nên tỷ lệ thu nợ cũng lớn, doa đó cho thấy vòng quay
vốn tín dụng nhanh.
- Dư nợ: Tổng dư nợ năm 2003 so với năm 2002 tăng 13,7 tỷ, năm 2004 so với
năm 2003 tăng 118,7 tỷ. Trong đó DN Nhà nước năm 2004 so với năm 2003 tăng
99,6 tỷ, DN ngoài quốc doanh chiếm tỷ lệ cao so với DN Nhà nước, năm 2004 so
với năm 2003 19,1 tỷ. Qua việc phân tích này, ta thấy cơ cấu kinh tế ngoài quốc
doanh là chủ yếu nên cơ cấu tín dụng sẽ thường xuyên biến động.
Hiện nay NHTM Cổ phần Á châu Hải Phòng đã và đang tìm mọi biện pháp để
nâng cao chất lượng tín dụng đặc biệt là tín dụng trung và dài hạn đối với khu vực
kinh tế ngoài quốc doanh. Mục tiêu đề ra là an toàn về vốn, tôn trọng pháp luật, lợi
nhuận hợp lý, công tác sử dụng vốn không ngừng được nâng cao cả về số lượng và
chất lượng. Ta biết rằng trong quá trình cho vay, Ngân hàng vừa phải đảm bảo lợi
ích của khách hàng. Điều này rất khó thực hiện đòi hỏi, trước khi cho vay phải tìm
hiểu thị trường, nắm bắt thông tin về khách hàng vay là gì? Sử dụng vốn như thế
nào? Đó là cơ sở để Ngân hàng có thể thu hồi vốn và lãi đúng hạn, còn các tổ chức
kinh tế phát triển một cách bền vững. Đây là vấn đề quan trọng mà các ngân hàng
cần quan tâm để nâng cao chất lượng tín dụng. Chất lượng tín dụng được thể hiện
rõ nhất qua con số nợ quá hạn của Ngân hàng.
Bảng 7: Tình hình nợ quá hạn của DN ngoài quốc doanh
Đơn vi: Tỷ đồng
CHỈ TIÊU
2002 2003 2004
Trang 23
Tổng dư nợ 285,7 299,4 418,1
1. Tổng dư nợ
+ Phân tích nợ quá hạn theo thời gian:
Theo số liệu bảng số 8 ta thấy năm 2002 mới phát sinh dưới 06 tháng nhiều
chiếm 60%, các khoản nợ quá hạn trên 12 tháng chiếm tỷ trọng rất thấp. Đến năm
2004 thì khoản nợ quá hạn trên 12 tháng đã không còn. Điều này chúng tỏ sự quản
lý rất chặt chẽ từ trên xuống về việc cho vay và xử lý nợ của Ngân hàng. Đây là
Trang 24
yếu tố rất quan trọng trong hệ thống ngân hàng về tỷ lệ hoàn vốn, Ngân hàng Á
châu luôn duy trì tỷ lệ nợ quá hạn trong ba năm qua luôn dưới 1%.
Bảng 8: Nợ quá hạn phân theo thời gian
Đơn vị: Tỷ đồng
CHỈ TIÊU
2002 2003 2004
Số tiền % Số tiền % Số tiền %
- KT ngoài quốc doanh
+Q.hạn dưới 6 tháng
+Q.hạn 6 -> 12 tháng
+Q.hạn trên 12 tháng
1,5
0,9
0,4
0,2
100
60
27
13
1,2
0,7
0,3
0,2
100