Một số giải pháp nhằm thu hút khách du lịch Trung Quốc tại Trung tâm du lịch thuộc Công ty
Cổ phần Du lịch Dịch vụ Dầu Khí Hải Phòng
Sinh viên: Nghiêm Thị Phƣơng Dung – QT1001P Page 1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thành phố Hải Phòng - một trong những Trung tâm du lịch lớn của Việt
Nam, nằm bên bờ biển Đông – Thái Bình Dương; phía Bắc giáp tỉnh Quảng
Ninh, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp tỉnh Hải Dương, phía Nam
giáp tỉnh Thái Bình.
Hải Phòng có một cảng biển lớn nằm trên đường hàng hải quốc tế Đông
- Tây, Bắc - Nam, là đầu mối giao thông quan trọng với hệ thống giao thông
thuỷ, bộ, đường sắt, hàng không trong nước và quốc tế.
Hải Phòng nằm trong tuyến du lịch Hà Nội - Hải Phòng - Vịnh Hạ Long
- Móng Cái, Trà Cổ nằm trong vùng Đông Bắc gần với tỉnh Quảng Tây
(Trung Quốc).
Những năm gần đây, Hải Phòng luôn là một điểm đến lý tưởng cho du
khách trong và ngoài nước có cơ hội khám phá những nét độc đáo về các loại
hình du lịch.
Trong thời gian qua, quan hệ hai nước Việt Nam - Trung Quốc đã ngày
càng ổn định, cả hai nước đã áp dụng nhiều chính sách hỗ trợ về mọi mặt để
hai bên cùng phát triển. Hiện nay, thị trường khách du lịch Trung Quốc đang
là thị trường khách lớn của du lịch Việt Nam nói chung và du lịch Hải Phòng
nói riêng (70% khách quốc tế đến Hải Phòng là khách Trung Quốc).
Chính vì vậy, việc tìm hiểu đặc điểm và phát triển hơn nữa thị trường
khách du lịch Trung Quốc là một việc làm thiết thực để thu hút hơn nữa khách
du lịch Trung Quốc đến Hải Phòng. Được sự hướng dẫn chỉ bảo của Tiến sĩ
Tạ Duy Trinh cùng sự giúp đỡ nhiệt tình của ban lãnh đạo, anh chị nhân viên
ở Trung tâm du lịch thuộc Công ty Cổ phần Du lịch Dịch vụ Dầu khí Hải
phòng, em đã mạnh dạn thực hiện khoá luận tốt nghiệp với đề tài “Một số
Một số giải pháp nhằm thu hút khách du lịch Trung Quốc tại Trung tâm du lịch thuộc Công ty
Cổ phần Du lịch Dịch vụ Dầu Khí Hải Phòng
Sinh viên: Nghiêm Thị Phƣơng Dung – QT1001P Page 3
CHƢƠNG I:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ DU LỊCH VÀ THỊ TRƢỜNG KHÁCH DU LỊCH
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm về Du lịch
Ngày nay, du lịch đã thực sự trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội
phổ biến không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển
trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay không chỉ ở nước ta nhận thức
về nội dung du lịch vẫn chưa thống nhất. Do hoàn cảnh (thời gian, khu vực)
khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau mỗi người có một cách
hiểu về du lịch khác nhau. Đúng như một chuyên gia du lịch nhận định: “Đối
với du lịch có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa”.
Năm 1963, với mục đích Quốc tế hoá, tại Hội nghị Liên hợp quốc về du
lịch họp ở Roma, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về du lịch như sau:
“Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế
bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên
ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình.
Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”.
Theo Luật du lịch (do Chủ tịch nước CHXNCN Việt Nam công bố năm
2005): “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên
của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một
“Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài cư
trú tại Việt Nam đi du lịch trong lãnh thổ Việt Nam”.
1.1.3. Khái niệm sản phẩm du lịch
Khái
niệm sản phẩm du lịch:
“Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu
của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”.(Điều 4 Chương I Luật Du lịch
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam).
Đặc điểm của sản phẩm du lịch:
Một số giải pháp nhằm thu hút khách du lịch Trung Quốc tại Trung tâm du lịch thuộc Công ty
Cổ phần Du lịch Dịch vụ Dầu Khí Hải Phòng
Sinh viên: Nghiêm Thị Phƣơng Dung – QT1001P Page 5 trước khi mua. Chất lượng sản phẩm được đánh giá thông qua sự cảm nhận,
thoả mãn nhu cầu của khách hàng sau khi tiêu dùng sản phẩm.
+ Tính đồng thời giữa sản xuất và tiêu dùng: Việc tiêu dùng sản phẩm
du lịch xảy ra cùng một thời gian và địa điểm sản xuất ra chúng.
+ Tính mau hỏng và không dự trữ được: Sản phẩm du lịch chủ yếu là
dịch vụ như dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống. Do đó, về
cơ bản sản phẩm du lịch không thể tồn kho, dự trữ được và rất dễ bị hư hỏng.
+ Sản phẩm du lịch do nhiều nhà tham gia cung ứng.
+ Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch mang tính thời vụ.
+ Sản phẩm du lịch nằm ở xa nơi cư trú của khách du lịch.
1.2. Nhu cầu của khách du lịch
1.2.1. Khái niệm về nhu cầu
Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu của con người để tồn tại và phát triển. Nó
là thuộc tính tâm lí của con người. Nhu cầu của con người rất đa dạng và
phức tạp. Nhu cầu được hình thành trên nền tảng nhu cầu sinh lí và nhu cầu
1.2.2.1.Nhu cầu sinh lý (basic needs):
Nhu cầu này bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, uống,
ngủ, không khí để thở...đây là những nhu cầu cơ bản nhất của con người.
Trong kim tự tháp, chúng ta thấy những nhu cầu này được xếp vào bậc thấp
nhất, bậc cơ bản nhất.
Maslow cho rằng, những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện
trừ khi những nhu cầu cơ bản này được thỏa mãn và những nhu cầu cơ bản
này sẽ chế ngự, hối thúc, giục giã một người hành động khi nhu cầu cơ bản
này chưa đạt được.
1.2.2.2. Nhu cầu về an toàn, an ninh (safety, security needs):
Khi con người đã được đáp ứng các nhu cầu cơ bản, tức là các nhu cầu
này không còn điều khiển suy nghĩ và hành động của họ nữa, họ sẽ cần gì tiếp
theo?. Khi đó các nhu cầu về an toàn, an ninh sẽ bắt đầu được kích hoạt. Nhu
cầu an toàn và an ninh này thể hiện trong cả thể chất lẫn tinh thần.
Nhu cầu này xuất hiện ở mọi người bao gồm mong muốn được an toàn
về tính mạng, thân thể và tài sản vì khách du lịch đã rời khỏi nơi cư trú
thường xuyên của mình đến những nơi xa lạ, mới mẻ, không dễ dàng thích
nghi với môi trường xung quanh, do đó yếu tố an toàn rất cần thiết.
Khách du lịch mua bảo hiểm là hình thức tự trấn an mình, đồng thời
khách du lịch tự bảo vệ mình bằng cách không đi du lịch đến những nơi bất
ổn về kinh tế, chính trị, xã hội.
1.2.2.3. Nhu cầu về xã hội (social needs):
Nhu cầu này thể hiện qua quá trình giao tiếp như việc tìm kiếm, kết bạn,
tìm người yêu, lập gia đình, tham gia một cộng đồng nào đó, đi làm việc, đi
chơi picnic, tham gia các câu lạc bộ, làm việc nhóm…
Một số giải pháp nhằm thu hút khách du lịch Trung Quốc tại Trung tâm du lịch thuộc Công ty
Cổ phần Du lịch Dịch vụ Dầu Khí Hải Phòng
Sinh viên: Nghiêm Thị Phƣơng Dung – QT1001P Page 7
Sinh viên: Nghiêm Thị Phƣơng Dung – QT1001P Page 8
sự ra đời của nhiều loại hình vận chuyển nên nhu cầu này dần được thỏa mãn
một cách tối đa. Những yếu tố sau đây sẽ ảnh hưởng tới mong muốn thỏa mãn
nhu cầu đi lại của khách du lịch: Khoảng cách di chuyển; mục đích chính của
chuyến đi; khả năng thanh toán; thói quen tiêu dùng; tình trạng sức khoẻ...
+ Nhu cầu lưu trú và ăn uống: Đây là nhu cầu tất yếu phải có trong thời gian
thực hiện chuyến đi. Mức độ thể hiện nhu cầu lưu trú và ăn uống của khách
tuỳ thuộc vào các yếu tố như: khả năng thanh toán của khách; hình thức tổ
chức chuyến đi; thời gian của chuyến đi; khẩu vị ăn uống; sở thích, đặc điểm
cá nhân của du khách; mục đích chính cần thỏa mãn trong chuyến đi; giá cả,
chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp du lịch...
1.2.3.2. Nhu cầu đặc trƣng:
+ Nhu cầu cảm thụ cái đẹp và giải trí. Đó chính là mong muốn của con người
được cảm nhận về chương trình du lịch, về tài nguyên du lịch, và về các dịch
vụ tham quan giải trí mà họ đang tham gia. Nhu cầu này của khách du lịch
phụ thuộc vào các yếu tố sau: đặc điểm cá nhân của khách; văn hoá và tiểu
văn hoá; giai cấp; nghề nghiệp; mục đích chuyến đi; khả năng thanh toán; thị
hiếu thẩm mỹ...
+ Nhu cầu giao tiếp: Trong cuộc sống thường ngày cũng như khi đi du lịch,
nhu cầu giao tiếp của khách du lịch vẫn luôn cần được thỏa mãn. Khách du
lịch luôn muốn mở rộng giao tiếp, trao đổi thông tin để mở rộng mối quan hệ
của mình và tự hoàn thiện mình. Điều đó càng dễ dàng thực hiện khi tham gia
một chương trình du lịch, thông qua ngôn ngữ, hình ảnh họ mới được tiếp
nhận ở điểm du lịch.
+ Nhu cầu tìm hiểu: Bị chi phối bởi mục đích chuyến đi nên có một số người
tham gia vào chương trình du lịch chủ yếu là để nghiên cứu về một vấn đề
nào đó. Tuy nhiên nhìn chung khi tham gia vào một chương trình du lịch
khách du lịch thường có nhu cầu tìm hiểu, khám phá những điều mới lạ ở nơi
được gặp gỡ những con người mới, mở rộng các mối quan hệ bạn bè, đồng
nghiệp.
1.3.4. Động cơ về thân thế, địa vị, uy danh:
Động cơ này thúc đẩy người ta đi đến những cuộc hội nghị, hội thảo, hoạt
động nghiên cứu, theo đuổi việc học hành gần như là vì mục đích công việc.
Một số giải pháp nhằm thu hút khách du lịch Trung Quốc tại Trung tâm du lịch thuộc Công ty
Cổ phần Du lịch Dịch vụ Dầu Khí Hải Phòng
Sinh viên: Nghiêm Thị Phƣơng Dung – QT1001P Page 10
Một số người lại muốn chứng tỏ mình, muốn chơi trội, muốn được công nhận,
hoặc muốn được chú ý, được đề cao. Ví dụ: hiện nay trên thế giới xuất hiện
loại hình du lịch bay vào vũ trụ nhằm thỏa mãn động cơ này của các tỉ phú
muốn khám phá vũ trụ và muốn được cả thế giới biết đến.
Mục đích của việc nghiên cứu động cơ đi du lịch của con người là nhằm giúp
các nhà kinh doanh du lịch định hướng chính sách sản phẩm, chính sách giá
cả, củng cố hơn nữa mục tiêu kinh doanh của một doanh nghiệp lữ hành.
1.4. Một số nhân tố tác động tới việc thu hút khách du lịch trong kinh
doanh lữ hành:
1.4.1. Nhóm các nhân tố chủ quan:
Nhóm các nhân tố chủ quan là những nhân tố bên trong mà doanh nghiệp có
khả năng kiểm soát, thay đổi, khắc phục để phù hợp với doanh nghiệp. Có rất
nhiều nhân tố ảnh hưởng tới việc thu hút khách của doanh nghiệp du lịch,
trong đó phải kể đến một số nhân tố có tính chất quyết định là:
+ Vị thế của doanh nghiệp: Khách du lịch khi có nhu cầu đi du lịch thì họ
luôn mong muốn được đáp ứng tốt nhất nhu cầu của mình. Để thỏa mãn được
điều đó, họ thường gửi gắm chuyến đi của mình vào một doanh nghiệp đã có
uy tín trên thị trường. Như vậy, các doanh nghiệp lữ hành ngoài việc thu hút
khách còn phải luôn chú trọng tới vấn đề giữ uy tín. Trong cuộc chiến của các
được khách lại thu được lợi nhuận cao cho doanh nghiệp.
1.4.2. Nhóm các nhân tố khách quan:
Nhóm nhân tố khách quan là những nhân tố bên ngoài tác động vào mà doanh
nghiệp không có khả năng hoặc ít có khả năng thay đổi được.
+ Đặc thù quốc gia: Những đặc thù này tạo nên một lợi thế cạnh tranh rất lớn
như thể chế chính trị, điều kiện lịch sử, vị trí địa lý, tiềm năng về kinh tế và
tài nguyên du lịch. Tính đặc thù này đặc biệt quan trọng vì cho dù tình hình
du lịch trên Thế giới có thuận lợi đến đâu, nhưng trong bối cảnh quốc gia đó
không tốt về tình hình kinh tế hay tình hình chính trị thì chắc chắn ngành du
lịch nước đó cũng sẽ gặp nhiều khó khăn, kéo theo là khách du lịch trên Thế
giới không có ý định đến quốc gia đó du lịch. Có thể nói hoà bình và ổn định
Một số giải pháp nhằm thu hút khách du lịch Trung Quốc tại Trung tâm du lịch thuộc Công ty
Cổ phần Du lịch Dịch vụ Dầu Khí Hải Phòng
Sinh viên: Nghiêm Thị Phƣơng Dung – QT1001P Page 12
chính trị ở một đất nước, một khu vực là nhân tố đầu tiên quyết định cho sự
phát triển của ngành du lịch.
+ Các đối thủ cạnh tranh: Nếu nhiều doanh nghiệp lữ hành cùng kinh doanh
trên cùng một địa bàn, một khu vực gần kề nhau dẫn đến cung vượt quá cầu
thì có ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình kinh doanh, doanh nghiệp sẽ gặp
nhiều khó khăn trong việc thu hút khách về với doanh nghiệp của mình.
+ Các nhà cung cấp: Nếu doanh nghiệp lữ hành có mối quan hệ tốt với các
nhà cung cấp khách và các nhà cung ứng sản phẩm riêng lẻ thì sẽ luôn giữ
được nguồn khách, ổn định cho doanh nghiệp, gây được uy tín lớn. Ngược lại,
nếu doanh nghiệp lữ hành không có mối quan hệ tốt với các nhà cung ứng và
nhà cung cấp thì khó có thể thu hút được khách du lịch về doanh nghiệp mình.
+ Các sự kiện đặc biệt trên thế giới như : Các hội nghị, hội thảo có tính chất
Quốc tế, các đại hội thể thao, các giải bóng đá lớn... cũng góp phần vào việc
tăng số lượng khách tham gia chương trình du lịch.
1.5.2. Thu hút khách thông qua chính sách giá cả:
Trong thời buổi kinh tế thị trường hiện nay thì đôi khi giá cả lại là yếu tố
quyết định đến việc thu hút khách của một doanh nghiệp kinh doanh du lịch.
Các doanh nghiệp cạnh tranh gay gắt bằng cách hạ giá sản phẩm cùng loại
của mình so với đối thủ cạnh tranh. Đối với doanh nghiệp thì giá cả tác động
trực tiếp đến doanh thu. Như vậy, các doanh nghiệp khi hạ giá bán để cạnh
tranh cũng phải chú ý đến lợi nhuận. Để thu hút khách đến với doanh nghiệp
cần có chính sách giá hợp lý. Một chính sách giá cứng nhắc sẽ tạo cho khách
cảm giác ngần ngại khi đến tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp và khách
không được lựa chọn chương trình phù hợp với mình. Vì vậy, đưa ra nhiều
mức giá khác nhau hoặc đưa ra một khoảng giá thì doanh nghiệp lữ hành có
thể thu hút được nhiều đối tượng khách hơn. Sự phân biệt về giá có thể áp
dụng bằng cách xây dựng nhiều chương trình với những mức giá khác nhau
cho nhiều đối tượng khác nhau. Để có thể đưa ra được mức giá hợp lý đó,
doanh nghiệp phải tính toán kỹ chi phí bỏ ra và mức lãi thu về, cuối cùng là
định ra giá bán.
1.5.3. Thu hút khách thông qua chính sách phân phối sản phẩm:
Một số giải pháp nhằm thu hút khách du lịch Trung Quốc tại Trung tâm du lịch thuộc Công ty
Cổ phần Du lịch Dịch vụ Dầu Khí Hải Phòng
Sinh viên: Nghiêm Thị Phƣơng Dung – QT1001P Page 14
Thực chất của chính sách phân phối sản phẩm trong du lịch là giải quyết vấn
đề đưa sản phẩm du lịch tới người tiêu dùng như thế nào để có hiệu quả cao
nhất?
Công ty
lữ hành
Đại lý
bán buôn
Đại lý
bán lẻ
Chi nhánh,
Văn phòng đại diện
1
2
3
4
5
6
7
Một số giải pháp nhằm thu hút khách du lịch Trung Quốc tại Trung tâm du lịch thuộc Công ty
Cổ phần Du lịch Dịch vụ Dầu Khí Hải Phòng
Sinh viên: Nghiêm Thị Phƣơng Dung – QT1001P Page 15
cáo sao cho phù hợp, dựa vào khả năng chi phí cho quảng cáo của doanh
nghiệp. Có thể chọn hình thức quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại
chúng, trên mạng Internet, hoặc tham gia các hội chợ triển lãm... phải chú ý
tới những yếu tố quyết định như: thời gian thực hiện, tần số xuất hiện, phạm
vi quảng cáo...
Ngoài ra, tại các văn phòng đại diện hoặc các điểm bán cần có áp phích, biển
quảng cáo, bảng quảng cáo với nội dung cung cấp thông tin cho khách hàng
như các chương trình du lịch, giá cả, các dịch vụ kèm theo...
Nhà nước cùng với sự phát triển chung của ngành kinh tế, xã hội, hoạt động
du lịch có nhiều khởi sắc, từng bước khẳng định vị trí quan trọng của mình
trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của cả nước. Ngành Du lịch trở
thành “ngành công nghiệp không khói” hay “ con gà đẻ trứng vàng” cho nền
kinh tế.
Nhận thấy những điều kiện thuận lợi, Trung tâm du lịch coi thị trường khách
du lịch Trung Quốc là thị trường khách quốc tế trọng điểm, trước mắt và lâu
dài. Dưới đây là một vài đặc điểm về thị trường khách du lịch Trung Quốc.
1.6.1. Đặc điểm thị trƣờng khách du lịch Trung Quốc
1.6.1.1. Đặc điểm về vị trí địa lý
Việt Nam và Trung Quốc có đường biên giới trên bộ kéo dài 132 km giữa Bắc
Việt Nam và Nam Trung Quốc. Các tỉnh phía Nam Trung Quốc có cùng
chung Vịnh Bắc Bộ, lại có đường sắt liên vận Lạng Sơn - Quảng Tây, Lào Cai
- Vân Nam, vì thế rất thuận lợi cho giao thông đường bộ, đường biển. Việc đi
lại giữa hai nước dễ dàng, ít tốn kém, có thể đi bằng ôtô, tàu thuỷ, máy bay…
1.6.1.2. Đặc điểm kinh tế
Những năm trở lại đây, Trung Quốc có tốc độ phát triển kinh tế khá nhanh,
được xếp vào hàng ngũ các nước có tốc độ phát triển cao. Theo tạp chí New
Word, ngành công nghiệp nhẹ Trung Quốc đứng đầu thế giới, tổng thu nhập
quốc dân cao, đồng tiền Trung Quốc đứng vững trên thị trưởng. Thu nhập dân
cư các vùng kinh tế ven biển phía Nam khá gần miền Bắc Việt Nam như
Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam tăng đáng kể. Nhu cầu du lịch ngày càng
lớn là một thực tế. Trung Quốc sẽ trở thành nước cung cấp nguồn khách du
Một số giải pháp nhằm thu hút khách du lịch Trung Quốc tại Trung tâm du lịch thuộc Công ty
Cổ phần Du lịch Dịch vụ Dầu Khí Hải Phòng
Sinh viên: Nghiêm Thị Phƣơng Dung – QT1001P Page 17
lịch lớn nhất thế giới. Thực sự đây là một thị trường khách tiềm năng hết sức
lớn.
Trung Quốc. Họ không thích và tránh các chủ đề về Đài Loan, cách mạng văn
hoá, chính trị, buôn lậu.
- Trung Quốc là một quốc gia đông dân nên thiết chế pháp luật của Trung
Quốc khá chặt chẽ. Người dân Trung Quốc có ý thức trong việc tôn trọng
pháp luật. Nhưng khi sang Việt Nam du lịch nhiều khi người Trung Quốc
cũng dễ dàng thích nghi với những việc làm tuỳ tiện như: vất rác bừa bãi, hút
thuốc lá trên các phương tiện công cộng v.v…
- Người Trung Quốc có thói quen bàn chuyện làm ăn bên bàn tiệc nên
nếu đối với khách du lịch Trung Quốc đi có cả mục đích làm ăn hoàn toàn có
thể bố trí những bữa tiệc mà ở đó có thể bàn về công việc.
- Những đối tượng khách đến từ những vùng khác nhau như:
+ Người Sơn Đông: khách du lịch là người Sơn Đông khó tính, khó chiều,
hay thay đổi tour.
+ Người Thượng Hải, Bắc Kinh: Khả năng chi trả cao, có khả năng mua
tour lớn, tiêu dùng du lịch cũng sành điệu hơn.
+ Người Đài Loan: Có khả năng chi trả cao, người Đài Loan rất hữu hảo
với người phương Tây, hầu hết nói được tiếng Anh và có lối sống khá “Tây”.
Khách du lịch Đài Loan đánh giá rất cao sự kiên nhẫn, khiêm nhường và biết
kính trọng. Khách Đài Loan thích được tặng quà, và thích được nhận quà đắt
tiền.
Phong cách tiêu dùng của khách du lịch Trung Quốc:
Về vận chuyển: Khi đi du lịch thì phương tiện vận chuyển phụ thuộc vào
tour mà họ tham gia nhưng khi họ đi xa, phương tiện họ thích nhất là tầu hỏa
vì theo họ đó là phương tiện vận chuyển an toàn nhất, chỉ khi đi có cự li ngắn
thì họ mới đi ôtô.
Lưu trú :
Một số giải pháp nhằm thu hút khách du lịch Trung Quốc tại Trung tâm du lịch thuộc Công ty
Cổ phần Du lịch Dịch vụ Dầu Khí Hải Phòng
Một số giải pháp nhằm thu hút khách du lịch Trung Quốc tại Trung tâm du lịch thuộc Công ty
Cổ phần Du lịch Dịch vụ Dầu Khí Hải Phòng
Sinh viên: Nghiêm Thị Phƣơng Dung – QT1001P Page 20
có một bát cá nhân đựng gia vị, ớt, tỏi, xì dầu và rất thích những bữa ăn có hạt
điều.
Buổi sáng, người Trung Quốc muốn ăn những món tự chọn. Nếu đoàn đông
khách nên để nhiều món cho họ chọn hoặc có một nồi cháo, có trứng mặn,
xương sườn thì họ rất thích. Ở Trung Quốc không có bánh mì nướng nên họ
rất thích ăn bánh mì ốp-la. Khi cả đoàn khách ngồi ăn thì chỉ bày những món
ăn lên bàn còn cơm và cháo để một chỗ ai thích thì lấy. Họ thích ăn một bát
phở, cháo hay một cốc sữa trước khi đi ngủ.
Uống:
Ở Trung Quốc có loại rượu nổi tiếng là rượu Mao Đài. Bất kì khách
sạn nào có phục vụ khách Trung Quốc đều bày loại rượu này.
Người Trung Quốc đặc biệt thích uống trà, họ ít khi uống cà phê. Trà thường
được pha loãng, đựng trong cốc to, uống nóng. Khi uống trà, họ có thể kết
hợp nói chuyện rất chân tình, cởi mở...
Vui chơi giải trí và thưởng thức cái đẹp.
Người Trung Quốc thích chơi các môn thể thao thiên về trí tuệ như cờ vua, cờ
tướng, cờ vây... và một số trò giải trí như chơi đánh mạt chược, tú lơ khơ...
Những lúc rảnh rỗi họ thường dạo chơi trên phố.
Trong thưởng thức cái đẹp, người Trung Quốc rất tinh tế, họ có khiếu thẩm
mỹ, đi du lịch Việt Nam họ thích những chương trình tham quan các khu nghỉ
mát, bãi biển, những nơi có phong cảnh, thiên nhiên tươi đẹp....
Khi sang thăm Việt Nam, không nên dẫn khách du lịch Trung Quốc đến các
chùa chiền, lăng tẩm... vì nước họ có rất nhiều chùa, lăng mà hầu như đều có
kích thước và kiến trúc đẹp hơn của Việt Nam. Nên đưa họ đi thăm các danh
lam thắng cảnh, di sản văn hoá...
Việt Nam đã mở các đường bay thẳng nối Hà Nội - Bắc Kinh, Hà Nội - Nam
Ninh, Hà Nội - Côn Minh, Hà Nội - Quảng Châu, Hà Nội - Quảng Đông.
Việt Nam đã giảm thiểu các thủ tục hành chính để tạo điều kiện thuận lợi cho
khách du lịch Trung Quốc vào Việt Nam. Từ ngày 12/9/2004 Việt Nam đã
miễn visa cho khách Trung Quốc vào Việt Nam. Tổng cục du lịch Việt Nam
đã chủ động và tích cực phối hợp với Bộ Công an và các bộ ngành chức năng
Một số giải pháp nhằm thu hút khách du lịch Trung Quốc tại Trung tâm du lịch thuộc Công ty
Cổ phần Du lịch Dịch vụ Dầu Khí Hải Phòng
Sinh viên: Nghiêm Thị Phƣơng Dung – QT1001P Page 22
xây dựng quy chế về tổ chức và quản lý công dân Trung Quốc sử dụng giấy
phép xuất nhập cảnh do Trung Quốc cấp vào Việt Nam tham quan du lịch.
Lợi thế của nước ta là có đường biên giới chung với Trung Quốc dài 1350km,
qua 6 tỉnh (31 huyện) của Việt Nam và qua 2 tỉnh của Trung Quốc. Khoảng
cách giữa hai nước là không có, không phải đi qua nước thứ ba, điều này rất
có lợi cho mọi hoạt động kinh doanh và du lịch. Mặt khác, việc đi lại giữa hai
nước ngày càng thuận tiện, đường sắt Việt - Trung đã được nối liền, chi phí
vận chuyển thấp phù hợp với khả năng chi trả của người Trung Quốc.
Ngoài ra, nước ta lại là cửa ngõ của Đông Nam Á, thuận tuyến đường giao
thông bằng đường bộ, đường thuỷ, và đường hàng không... Người Trung
Quốc ít khi đi du lịch thuần tuý mà thường kết hợp sang các nước tìm kiếm cơ
hội làm ăn, gặp gỡ các đối tác... Đến Việt Nam họ không những được hưởng
các sản phẩm nhiệt đới mà còn thuận tiện cho họ trong việc gặp gỡ, kí kết với
bạn hàng ở các nước Đông Nam Á.
Giá cả hàng hoá dịch vụ của nước ta rẻ hơn so với các nước lân cận Trung
Quốc như Thái Lan, Sing-ga-po... Điều đó làm giá chương trình du lịch Việt
Nam rẻ hơn, phù hợp với khả năng thanh toán của người dân Trung Quốc.
Đất nước Việt Nam có rất nhiều tài nguyên du lịch độc đáo và hấp dẫn không
chỉ riêng với khách du lịch Trung Quốc mà còn đối với cả khách du lịch ở
bình là 5,5 ngày với mức chi tiêu 180USD/ngày. Tại Thái Lan là 8 ngày với
mức 90USD/ngày. Tại Hồng Kông mức chi tiêu trung bình là 170USD/ngày
và Singapore là 130USD/ngày với thời gian dưới 3 ngày. Như vậy cho thấy
rằng khách du lịch Trung Quốc hoàn toàn có khả năng chi trả cao. Nên cần có
nhiều biện pháp kích cầu hợp lí với khách du lịch Trung Quốc.
Trong tương lai có thể khẳng định rằng thị trường khách du lịch Trung Quốc
vẫn là thị trường chủ yếu của du lịch Việt Nam. Vì thế, việc nắm bắt tâm lí và
thị hiếu của khách Trung Quốc ngày càng trở nên cần thiết để khai thác thị
trường này một cách có hiệu quả.
Một số giải pháp nhằm thu hút khách du lịch Trung Quốc tại Trung tâm du lịch thuộc Công ty
Cổ phần Du lịch Dịch vụ Dầu Khí Hải Phòng
Sinh viên: Nghiêm Thị Phƣơng Dung – QT1001P Page 24 CHƢƠNG II:
THỰC TRẠNG KHAI THÁC THỊ TRƢỜNG KHÁCH DU LỊCH TRUNG
QUỐC TẠI TRUNG TÂM DU LỊCH THUỘC CÔNG TY CỔ PHẦN
DU LỊCH DỊCH VỤ DẦU KHÍ HẢI PHÒNG
2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty
2.1.1.Tên, địa chỉ giao dịch của Công ty
Tên giao dịch: Công ty Cổ phần Du lịch và Dịch vụ Dầu khí Hải Phòng
Tên Tiếng Anh: THE NATIONAL OIL SERVICES COMPANY OF
HẢI PHÒNG (OSC HAIPHONG)
Địa chỉ giao dịch: số 40A Trần Quang Khải - Hồng Bàng - Hải Phòng
Điên thoại: 84.313.823552 - 84.313.841146
84.313.502740 - 84.313.502741
Fax: 84.313.810532
Email:
2.1.2.Vị trí địa lí
Được sự quan tâm của liên hiệp Công ty Du lịch - Dịch vụ Hải Phòng và
Công ty Du lịch - Dịch vụ Dầu khí Việt Nam, Công ty liên doanh Dịch vụ
Dầu khí Hải Phòng từng bước ổn định và trưởng thành. Từ Công ty liên
doanh với một đơn vị trong nước Công ty trở thành đơn vị độc lập với tên gọi
Công ty Du lịch - Dịch vụ Dầu khí Hải Phòng ngày nay.
Để đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ mới trong tình hình nền kinh tế đã
chuyển mình từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường phát triển
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, ngày 12 tháng 4 năm 2005, Công ty tiến
hành cổ phần hoá thành Công ty Cổ phần Du lịch - Dịch vụ Dầu khí Hải
Phòng.
2.1.4. Lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của Công ty
- Kinh doanh lữ hành (Quốc tế và Nội địa).
- Kinh doanh khách sạn du lịch và các dịch vụ kèm theo.