Đề cương ôn tập câu hỏi lý thuyết môn dẫn luận ngôn ngữ - Pdf 26

[email protected]
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP
Câu 1: Trình bày các loại nghĩa của từ và cho ví dụ minh họa:
Nghĩa của từ là một hiện tượng phức tạp, bao gồm một số thành tố:
1. Nghĩa sở chỉ (nghĩa biểu vật): là mối liên hệ giữa từ và đối tượng, sự vật,
hiện tượng mà từ biểu thị. Mối quan hệ của từ với cái sở chỉ được gọi là
nghĩa sở chỉ.
Ví dụ: từ “ô” (ngựa ô), “mực” (chó mực), “huyền” (tóc huyền) … có nghĩa
sở chỉ khác nhau.
2. Nghĩa sở biểu (nghĩa biểu niệm): là quan hệ của từ với ý, tức là với khái
niệm hoặc biểu tượng mà từ biểu hiện. Mối quan hệ giữa từ với cái sở biểu
gọi là nghĩa sở biểu. Thuật ngữ “ý nghĩa” dùng để chỉ nghĩa sở biểu.
- Cái sở biểu và cái sở chỉ của một từ có quan hệ chặt chẽ với nhau. Tuynhiên
giữa chúng vẫn có sự khác nhau lớn:
+ Mỗi cái sở biểu có thể ứng với nhiều cái sở chỉ khác nhau
+ Ngược lại, một cái sở chỉ có thể thuộc vào những cái sở biểu khác
nhau (ví dụ: cùng một người có thể là bố, thanh niên, giáo viên,
bộ đội…)
3. Nghĩa sở dụng: là quan hệ của từ với người sử dụng, thể hiện thái độ, cảm
xúc của người sử dụng.
4. Nghĩa kết cấu: là quan hệ giữa từ với những từ khác trong hệ thống từ
vựng.
Câu 2: Trình bày các đơn vị chủ yếu trong hệ thống kết cấu ngôn ngữ, lấy ví dụ
và phân tích.
1. Các khái niệm:
- Khái niệm về hệ thống: Hệ thống là một thể thống nhất bao gồm các yếu tố
có quan hệ và liên hệ lẫn nhau. Nói đến hệ thống cần có hai điều kiện:
+ Tập hợp các yếu tố đồng loại.
+ Những mối quan hệ và liên hệ lẫn nhau giữa các yếu tố đó.
- Khái niệm về kết cấu (cấu trúc): Kết cấu là mạng lưới của những mối quan
hệ và liên hệ giữa các yếu tố khác loại trong hệ thống.

- Đó là sự biến dạng của từ về mặt ngữ âm và cấu tạo từ, chứ không phải là
những hình thái ngữ pháp của nó.
Ví dụ: Giời - Trời, sờ - rờ, nhíp – díp
3. Biến thể từ vựng – ngữ nghĩa
- Mỗi từ có thể có nhiều ý nghĩa khác nhau. Mỗi lần sử dụng chỉ 1 trong
những ý nghĩa của nó được hiện thực hóa. Mỗi ý nghĩa được hiện thực hóa
như vậy là một biến thể từ vựng - ngữ nghĩa.
- Ví dụ: từ “chết” có ý nghĩa khác nhau trong những trường hợp sử dụng sau:
+ Ông ấy mới chết năm ngoái
+ Làm thế thì chết dân rồi
+ Đồng hồ chết rồi
+ Mực chết
Để chỉ từ trong trạng thái trừu tượng người ta dùng thuật ngữ từ vị. Từ vị là
một đơn vị trừu tượng trong hệ thống từ vựng. Nó là sự khái quát hóa những biểu
hiện thực tế của những cách dùng một từ nào đó trong một giai đoạn nhất định của
ngôn ngữ.
Câu 4: Trong các phương thức ngữ pháp, thế nào là phương thức phụ gia,
phương thức biến tố bên trong và phương thức thay căn tố, lấy ví dụ.
Phương thức ngữ pháp là những biện pháp hình thức chung nhất thể hiện nghĩa
ngữ pháp.
1. Phương thức phụ gia
- Phương thức phụ gia là dùng phụ tố liên kết vào căn tố để thể hiện nghĩa ngữ
pháp.
- Ví dụ: Phụ tố -s được liên kết vào căn tố book- để thể hiện nghĩa ngữ pháp
“số nhiều”. Ta nói từ books thể hiện nghĩa ngữ pháp số nhiều bằng phương
thức phụ gia.
- Phương thức phụ gia có thể được sử dụng để bổ sung nghĩa từ vựng, tạo nên
từ mới.
- Nó cũng có thể được sử dụng để thể hiện nghĩa ngữ pháp cho từ. Trong phần
này, ta chỉ nghiên cứu phương thức ngữ pháp phụ gia thể hiện nghĩa ngữ

biệt nhau về nghĩa ngữ pháp:
- Một số ví dụ khác: I (tôi, nghĩa chủ thể) → me (tôi - nghĩa đối tượng)
- Ví dụ: I read book (I: nghĩa chủ thể)
You give me the book (me: nghĩa đối tượng)
to be am (ngôi 1, số ít, thì hiện tại)
- Phương thức thay căn tố được sử dụng trong nhiều ngôn ngữ Ấn Âu, đặc
biệt trong trường hợp biểu thị cấp so sánh của tính từ:
- Ví dụ: good (tốt) - better (tốt hơn)
bad (xấu) - worse (xấu hơn)
Tiếng Pháp: bon (tốt) - meilleur (tốt hơn)
mauvais (xấu) - pire (xấu hơn)
Câu 5 : Trình bày và lấy ví dụ của các hiện tượng biến âm trong ngữ lưu.
Biến âm trong ngữ lưu là hiện tượng biến đổi âm thanh trong chuỗi ngữ âm do các
âm kết hợp với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau. Biến âm trong ngữ lưu xảy ra trong quá
khứ được gọi là biến âm lịch sử
1. Đồng hóa
- Đồng hoá là sự biến đổi hai âm khác nhau, đứng cạnh nhau, trở thành giống
nhau để thuận lợi cho việc phát âm. Trong đồng hóa, một âm sẽ bị biến đổi
cho giống với âm kia.
- Sự đồng hóa có thể khác nhau về mức độ:
+ Đồng hóa toàn bộ: is she [iz∫i] được phát âm là [i∫∫i].
+ Đồng hóa bộ phận, khi âm bị biến đổi giống âm kia một phần nào
thôi: trong tiếng Việt, phụ âm xát [γ] sẽ biến thành tắc khi đi sau các
âm tắc [-ŋ] hay [-k], như trong các tổ hợp “xuống ga”, “trước ga”.
a. Đồng hóa xuôi: âm đi trước đồng hóa âm đi sau.
- Ví dụ 1: dogs [dɔgs] (những con chó) âm [s] hóa thành [z] để đồng nhất với
tính chất hữu thanh của [g]: [dɔgz]
- Ví dụ 2: trong tiếng Việt, hiện tượng âm xát [γ] biến thành âm tắc trong tổ
hợp “trước ga” để cho giống với âm tắc [k] đứng trước cũng là đồng hóa
xuôi.

pháp vốn có của chúng.
- Ví dụ: từ “đường” trong “đường tàu”, “mua một cân đường”. Từ “sao”
trong “ông sao trên trời”, “sao anh lại là thế”, “đi sao giấy khai sinh”
Phân biệt từ đồng âm và từ đa nghĩa:
Các ý nghĩa của từ đồng âm là hoàn toàn khác nhau, không có mối liên hệ
nào. Còn những ý nghĩa khác nhau của một từ đa nghĩa có sự liên hệ, quy định lẫn
nhau, ý nghĩa này phái sinh từ ý nghĩa kia.
Câu 7: Trình bày bản chất của ngôn ngữ và phân tích
1. Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội: Ngôn ngữ (NN) gắn bó với đời sống con
người, đồng thời phát triển song song với hoạt động và tư duy của con người. Để
khẳng định NN là hiện tượng xã hội, cần khẳng định lại một số quan điểm sau:
a. Ngôn ngữ không phải là một hiện tượng tự nhiên. Quy luật của ngôn ngữ không
giống với quy luật phát triển tự nhiên mà luôn luôn kế thừa cái cũ, phát triển cái
mới, không bao giờ bị hủy diệt hoàn toàn. Một ngôn ngữ trở thành tử ngữ chỉ khi
dân tộc nói ngôn ngữ ấy bị hủy diệt (tiếng Tiên Ly ở Trung Quốc) hay nó được
thay thế bằng thứ ngôn ngữ khác (tiếng Latinh, tiếng Phạn, tuy nhiên 2 thứ tiếng
này vẫn để lại nhiều dấu tích trong nhiều ngôn ngữ hiện đại).
b. NN không phải là bản năng sinh vật của con người. Bản năng sinh vật của con
người như ăn, khóc, cười…có thể phát triển bên ngoài xã hội, trong trạng thái cô
độc nhưng ngôn ngữ không thể có được trong những điều kiện như thế. Ngôn ngữ
trẻ con không chứng tỏ ngôn ngữ là một hiện tượng sinh vật bởi âm trẻ tập nói
chưa phải là ngôn ngữ mà chỉ là những âm vô nghĩa, chỉ trở thành sự kiện ngôn
ngữ khi được liên hệ với ý nghĩa nào đó.
c. NN không phải là đặc trưng chủng tộc. Ngôn ngữ không có tính di truyền như
màu da, tỉ lệ thân hình, hình thể xương sọ. Ranh giới chủng tộc và ranh giới ngôn
ngữ cũng không trùng nhau.
d. Ngôn ngữ khác với âm thanh. Động vật và con người đều có những âm thanh,
được gọi là hệ thống tín hiệu thứ nhất, là những phản xạ có điều kiện hoặc phản xạ
không điều kiện. Tuy nhiên tiếng nói của con người là hệ thống tín hiệu thứ 2, gắn
liền với tư duy trừu tượng, với việc tạo ra những khái niệm chung và các từ. Ngôn

âm tiết: Nhân
âm tố: Nh
Câu 9: Trình bày các cách phân loại nghĩa của từ nhiều nghĩ, ví dụ và phân tích
1. Từ đa nghĩa: là từ có thể có nhiều ý nghĩa
Ví dụ: từ “nervous” có 4 nghĩa (thuộc về thần kinh; lo lắng;
mạnh mẽ có dũng khí; cô đọng)
2. Cách phân loại ý nghĩa của từ đa nghĩa:
- Căn cứ vào sự khác nhau của những mối quan hệ với sự vật: nghĩa trực tiếp
và nghĩa chuyển tiếp hoặc nghĩa đen và nghĩa bóng
Ví dụ: từ “đầu”
+ Nghĩa trực tiếp: phần trên cùng hoặc trước hết của cơ thể động vật
+ Nghĩa chuyển tiếp: đầu của con người, là biểu tượng của suy nghĩ,
hoặc tóc (chải đầu)
- Căn cứ theo ngữ cảnh: ta có nghĩa chính (nghĩa tự do) và nghĩa phụ (nghĩa
hạn chế)
- Căn cứ theo khả năng sử dụng: ta có nghĩa cổ và nghĩa hiện dùng
Ví dụ: từ “đểu” nghĩa cổ là hoạt động gánh, nghĩa hiện dùng là xỏ
xiên lừa đảo đến mức bất kể đạo đức
- Căn cứ theo lịch sử biến đổi nghĩa: ta có nghĩa gốc và nghĩa phái sinh
Ví dụ: từ “vố” nghĩa gốc: là dụng cụ giống như cái búa nhỏ để điều khiển
voi, nghĩa phái sinh: lần bị đòn đau hay bị một việc không hay gì đó do
người khác gây ra (bị lừa mấy vố…)
Câu 10: Thế nào là phụ âm, trình bày cách miêu tả một phụ âm.
1. Khái niệm phụ âm:
Phụ âm về cơ bản là tiếng động được cấu tạo do sự cản trở không khí trên lối
thoát của nó
2. Phân loại theo cấu âm:
- Theo phương thức cấu âm:
Phương thức cấu âm là cách cản trở luồng hơi khi ta phát âm. Có bốn
phương thức chính:

Ví dụ: [p, b], [f, v]
2. Phụ âm giữa răng: đầu lưỡi đặt ở giữa các răng cửa của hai hàm
răng, tạo nên điểm cấu âm.
Ví dụ: trong tiếng Anh có các âm [θ, ð] (thing, this)
3. Phụ âm đầu lưỡi-lợi: điểm cấu âm là đầu lưỡi và lợi của hàm răng
trên.
Ví dụ: [t, d, s, z]
4. Phụ âm quặt lưỡi: đầu lưỡi nâng cao và quặt cong về phía ngạc
cứng.
Ví dụ: [ƫ] trời, [ʂ] sẽ, [ʐ] rạng.
5. Phụ âm ngạc (mặt lưỡi): mặt lưỡi hướng đến ngạc cứng.
Ví dụ: [c] chọn, [ɲ] nhà
6. Phụ âm mạc (gốc lưỡi): gốc lưỡi nâng lên hướng đến ngạc mềm.
Ví dụ: [k], [ŋ] nghé, [γ] gừ, [χ] khế
7. Phụ âm lưỡi con: gốc lưỡi lùi lại và nâng lên về phía lưỡi con; hoặc
lưỡi con hạ xuống gốc lưỡi và rung động như âm [R] rung của tiếng
Pháp trong từ Paris [PaRi] hoặc một âm xát [ʁ] trong từ rouge [ʁuʒ]
(đỏ, tiếng Pháp)
8. Phụ âm yết hầu: gốc lưỡi lùi hẳn ra sau, khoang yết hầu bị thu hẹp
lại. Ví dụ [ħ] trong từ “tắm”, phát âm là [ħammaam] của tiếng Ả rập.
9. Phụ âm thanh hầu: được tạo nên bởi sự thu hẹp dây thanh.
Ví dụ: [h] hát hò
Phân loại theo âm học
- Phụ âm hữu thanh là phụ âm có tiếng thanh, tỷ lệ tiếng thanh thấp hơn tiếng
động, do có sự rung động của dây thanh khi phát âm.
Ví dụ: [b], [d], [z], [γ]
- Phụ âm vô thanh là phụ âm không có tiếng thanh.
Ví dụ: [p, t, k, f, s ]
Hai loại phụ âm hữu thanh và vô thanh được gọi là phụ âm ồn. Đối lập với phụ
âm ồn là phụ âm vang.

người quy ước với nhau để biểu thị một nội dung cụ thể nào đó.
2. Điều kiện thoả mãn của tín hiệu: Tín hiệu phải là cái vỏ vật chất mà người
ta thường gọi là cái biểu đạt và nội dung biểu đạt của tín hiệu gọi là cái
được biểu đạt. Tín hiệu phải nằm trong một hệ thống nhất định để xác định
đặc trưng tín hiệu của mình với các tín hiệu khác.
3. Bản chất tín hiệu của NN: NN là một hệ thống nhưng bản chất tín hiệu của
NN khác biệt về cơ bản với các hệ thống vật chất khác ở một số mặt sau:
- Tính hai mặt của tín hiệu NN: Tín hiệu NN thống nhất giữa hai mặt: Cái
biểu đạt và cái được biểu đạt. Cái biểu đạt (CBĐ) của tín hiệu NN là âm
thanh (trong NN nói) và chữ viết trong NN viết. Còn cái được biểu đạt
(CĐBĐ) của nó là nghĩa.
Ví dụ: Tín hiệu “Cây” trong tiếng Việt là sự kết hợp theo lược đồ sau:
Âm thanh: cây (CBĐ)
Ý nghĩa: loài thực vật có lá (CĐBĐ)
Cái biểu đạt và cái được biểu đạt của tín hiệu ngôn ngữ gắn bó khăn
khít với nhau không thể tách rời.
- Tính võ đoán của tín hiệu NN: Quan hệ giữa CBĐ và CĐBĐ mang tính quy
ước được xã hội chấp nhận.
- Giá trị khu biệt của tín hiệu NN : Trong một hệ thống tín hiệu, cái quan
trọng là sự khu biệt.
Ví dụ: Các chữ cái trong hệ thống có những nét khu biệt:
a <> b <> c <> d <> đ <> e …
Câu 13: Kể tên và miêu tả 4 bộ phận cấu âm quan trọng để tạo thành âm thanh
của con người (bộ máy phát âm: thanh hầu, dây thanh, khoang miệng và mũi)
Bốn bộ phận cấu âm quan trọng để tạo thành âm thanh của con người là: thanh
hầu, dây khoang, khoang miệng và mũi:
1. Thanh hầu: Nằm phía trên của khí quản. Thanh hầu được tạo thành bởi một
sụn hình giáp, vốn nhô ra phía trước cổ. Sụn này chỉ che được phía trước,
phía sau để hở. Để bù lại, phía dưới có một sụn hình nhẫn, quay mặt nhẫn
vào đằng sau, khiến cho phía sau vừa đủ che kín, làm thành một cái hộp.

vào những kết cấu lớn hơn. So sánh:
+ Mẹ và con cùng đi chơi. (“mẹ”, “con” làm chủ ngữ)
+ Họ thấy mẹ và con. (“mẹ”, “con” là bổ ngữ)
+ Những người chăm chỉ là mẹ và con nhà ông Ba. (“mẹ”, “con” là vị
ngữ)
2. Quan hệ chính phụ:
- Quan hệ chính phụ là quan hệ phụ thuộc một chiều giữa một thành tố chính
với một thành tố phụ, trong đó chức vụ cú pháp của thành tố chính chỉ được
xác định khi đặt toàn bộ tổ hợp chính phụ vào một kết cấu lớn hơn, còn chức
vụ của thành tố phụ có thể được xác định mà không cần điều kiện ấy.
- Ví dụ: “học tiếng Anh” là một tổ hợp mang quan hệ chính phụ trong đó
“học” là thành tố chính, “tiếng Anh” là thành tố phụ. Trong tổ hợp trên
“tiếng Anh” có chức vụ làm bổ ngữ cho động từ “học”, còn thành tố chính
có chức năng gì phải tùy thuộc vào kết cấu nó tham gia. So sánh:
+ Chúng tôi học tiếng Anh (“học” là vị ngữ)
+ Học tiếng Anh rất có ích (“học” là chủ ngữ)
3. Quan hệ chủ vị:
- Quan hệ chủ - vị là quan hệ giữa hai thành tố phụ thuộc lẫn nhau trong đó
chức vụ cú pháp của cả hai đều có thể được xác định mà không cần đặt tổ
hợp do chúng tạo nên vào một kết cấu lớn hơn.
- Ví dụ: “Xe chạy” là một tổ hợp mang quan hệ chủ - vị trong đó “xe” là chủ
ngữ và “chạy” là vị ngữ. Cả hai thành tố đó qui định lẫn nhau, phụ thuộc vào
nhau mà tồn tại, “xe” là chủ ngữ do nó được xác định bởi vị ngữ “chạy”,
ngược lại “chạy” là vị ngữ do có chủ ngữ “xe” ở bên cạnh. Trong tổ hợp “Ồn
quá!” thì dù đó là một câu, “ồn” cũng không thể là chủ hay vị vì nó đứng
một mình, tạo thành câu một trung tâm
Câu 15: Trong phương thức ngữ pháp, thế nào là phương thức láy, hư từ, trật
tự từ và ví dụ:
1. Phương thức láy:
- Phương thức láy là cách lặp lại toàn bộ hoặc bộ phận vỏ ngữ âm của căn tố

+ Mẹ tôi ốm. (tôi: nghĩa sở hữu)
- Trong các ngôn ngữ như tiếng Việt, tiếng Hán, tiếng Thái trật tự từ thường
biểu hiện các nghĩa quan hệ (nghĩa đối tượng, nghĩa chủ thể ) Sự thay đổi
trật tự từ ở những ngôn ngữ này thường không phải là hiện tượng đảo tùy
tiện mà biểu hiện những nội dung, ý nghĩa khác nhau. Trong các ngôn ngữ
như Anh, Nga, Pháp Trật tự từ thường biểu thị nghĩa tình thái của câu
(nghĩa tường thuật, nghi vấn, cảm thán
- Ví dụ: You are a teacher (nghĩa tường thuật)
Are you a teacher? (nghĩa nghi vấn)
Câu 16: Căn cứ vào cấu tạo của từ, có thể chia từ thành các loại nào, lấy ví dụ:
Căn cứ vào cấu tạo của từ, có thể chia ra các kiểu từ sau:
1. Từ đơn: là từ chỉ có một hình vị chính tố
Ví dụ: “man”, “work”, “sing”, “dance”, “bố”, “mẹ” …
2. Từ phái sinh: là từ gồm chính tố kết hợp với phụ tố cấu tạo từ.
Ví dụ: “home” – “homeless”, “make” – “maker” …
3. Từ phức: là sự kết hợp của hai hoặc hơn hai chính tố
Ví dụ: “kala” (thời gian) + “warta” (tin tức) -> “kalawarta” (tạp chí) (tiếng
Indonêxia) …
4. Từ ghép: là những từ cấu tạo bằng cách ghép hai hay hơn hai từ độc lập.
Ví dụ: “đất nước”, “xinh đẹp”, “blackboard” …
5. Từ láy: là những từ cấu tạo bằng cách lặp lại thành phần âm thanh của một
hình vị hoặc một từ.
Ví dụ: “thưa” -> “lưa thưa”
“đỏ” -> “đo đỏ”
Câu 17: Ngữ là gì? Đặc trưng cơ bản của ngữ, lấy ví dụ:
1. Ngữ là cụm từ sẵn có trong ngôn ngữ, có giá trị tương đương với từ.
2. Ngữ có nhiều đặc điểm giống với từ:
- Chúng có thể tái hiện trong lời nói như các từ
- Về mặt ngữ pháp, chúng có thể làm thành phần câu, cũng có thể là cơ sở để
cấu tạo các từ mới

yên mạnh khỏe”. Như vậy “vuông”,“tròn” chỉ có nghĩa là “bình yên”,
“mạnh khỏe” khi kết hợp với các từ “mẹ”, “con”.
+ “kỷ luật sắt” có nghĩa là “kỷ luật nghiêm khắc”. Từ “sắt” chỉ có
nghĩa là “nghiêm khắc” khi kết hợp với từ “kỷ luật”
Câu 18: Ngôn ngữ có nguồn gốc như thế nào? Điều kiện nào làm nảy sinh
ngôn ngữ.
1. Nguồn gốc của ngôn ngữ
a. Thuyết tượng thanh
- Theo thuyết này, toàn bộ ngôn ngữ nói chung và các từ riêng biệt của
nó đều là do ý muốn tự giác hay không tự giác của con người bắt
chước những âm thanh của thế giới bao quanh.
- Cơ sở của thuyết này là: Trong tất cả các ngôn ngữ đều có một số
lượng nhất định các từ tượng thanh và từ sao phỏng.
- Ví dụ: con mèo kêu meo meo nên gọi là con mèo
b. Thuyết cảm thán
- Thuyết cảm thán cho rằng ngôn ngữ loài người bắt nguồn từ những
âm thanh của mừng, giận, buồn, vui, đau đớn phát ra lúc tình cảm bị
xúc động.
- Cơ sở của thuyết này là trong các ngôn ngữ đều có các thán từ và
những từ phái sinh từ thán từ.
- Ví dụ: tiếng Việt có các từ: ối, chao ôi, ái, a ha v.v
c. Thuyết tiếng kêu trong lao động
- Theo thuyết này, ngôn ngữ đã xuất hiện từ những tiếng kêu trong lao
động tập thể. Thuyết tiếng kêu trong lao động có cơ sở thực tế trong
sinh hoạt lao động của con người hiện nay.
- Ví dụ: những tiếng hổn hển do hoạt động cơ năng phát ra, nhịp theo
lao động trở thành tên gọi của động tác lao động
d. Thuyết khế ước xã hội
- Thuyết này cho rằng: ngôn ngữ do con người thỏa thuận với nhau mà
qui định ra.

- Âm sắc: Âm sắc là sắc thái riêng của âm thanh. Âm thanh của lời nói cũng
như hầu hết các âm thanh của thế giới tự nhiên không phải là một sự rung
động đơn giản, mà là hợp thể của nhiều rung động xảy ra đồng thời.
- Các khoang cộng hưởng (khoang miệng, khoang mũi…) trong bộ máy cấu
âm của mỗi người không hoàn toàn giống nhau, điều đó là một trong những
cơ sở quan trọng khiến mỗi người có một giọng nói riêng.
3. Tính chất xã hội của ngữ âm (về phương diện chức năng)
- Mỗi xã hội, mỗi dân tộc có một ngôn ngữ với hệ thống ngữ âm riêng. Có âm
được xã hội này sử dụng mà xa lạ với xã hội kia. Trong tiếng Anh, tiếng Nga
có những âm xa lạ với người Việt, ngược lại tiếng Việt có những âm (như ư,
nh; h, th) mà tiếng Anh, Nga không có.
- Mỗi xã hội xử lý âm thanh theo cách riêng của mình. Tiếng Việt phân biệt
hai âm ô và o trong khi đó sự phân biệt đó không có trong tiếng Nga. Tiếng
Việt cũng phân biệt âm t và th nhưng tiếng Anh chỉ coi đó là một mà thôi.
Câu 20: Thế nào là nguyên âm, trình bày các loại nguyên âm.
1. Nguyên âm là các âm thanh được tạo ra do luồng hơi phát ra tự do.
2. Các loại nguyên âm:
- Phân loại trên cơ sở cấu âm:
+ Độ mở của miệng: tùy theo miệng mở ra ít hay nhiều mà ta có các
nguyên âm khác nhau. Có bốn độ mở chính: hẹp (khép), nửa hẹp (khép
vừa), nửa rộng (mở vừa) và rộng (mở); do đó các nguyên âm được phân
ra thành bốn loại tương ứng sau:
1. Nguyên âm hẹp: [i] ty, [u] lu đù, [Ɯ] tư lự
2. Nguyên âm nửa hẹp: [e] lê, [o] tô, [ɤ] lơ mơ
3. Nguyên âm nửa rộng: [ε] le te, [ɔ] lo, [٨] trong từ but của tiếng Anh
4. Nguyên âm rộng: [a] ta, [ɑ] pâté (patê) của tiếng Pháp, [ɐ] hot (nóng)
của tiếng Anh
Độ mở của miệng phụ thuộc vào vị trí của lưỡi, lưỡi nâng cao, miệng sẽ
mở hẹp; lưỡi hạ thấp miệng sẽ mở rộng. Do đó có khi người ta gọi
nguyên âm hẹp là nguyên âm cao và nguyên âm rộng là nguyên âm thấp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status