Đề cương ôn tập xã hội học - Pdf 11

Câu 8. Xã hội học nông thôn là? Đặc trưng cơ bản của xã hội nông thôn
hiện nay ở nước ta? Các lĩnh vực nghiên cứu của xã hội học nông thôn
Việt Nam?
XHH nông thôn là một chuyên ngành của XHH. Phạm vi nghiên cứu của nó được xác
định theo lát cắt lãnh thổ. Vì thế, khách thể nghiên của XHH là toàn bộ XHH nông thôn.
XHH nông thôn với nghĩa rộng, cũng là khách thể nghiên cứu của nhiều khoa học xã hội
và nhân văn khác. Vì vậy, tham gia nghiên cứu XHH nông thôn, XHH lấy các hiện tượng
xã hội, các vấn đề xã hội và các quá trình XHH nông thôn làm đối tượng nghiên cứu của
mình. Để đi đến làm rõ đối tượng XHH nông thôn cần hiểu dược nông thôn và XHH
nông thôn
. Đặc điểm của xã hội nông thôn nói chung và nông thôn Việt Nam nói riêng
* Đặc điểm của xã hội nông thôn
- Sinh thái nông thôn mang nhiều yếu tố tự nhiên: Nhà, vườn, ao, ruộng. Chúng
thường gắn với những điều kiện địa lý sẵn có, ít được cải tạo nên chưa thuận tiện cho
sinh hoạt giao lưu kinh tế văn hoá…
- Kinh tế nông thôn chủ yếu là kinh tế nông nghiệp (thường chiếm từ 50% lao
động trở lên). Trồng trọt và chăn nuôi là hai ngành chính, ngoài ra còn có các nghề thủ
công, chế biến lương thực, thực phẩm, buôn bán nhỏ theo hộ gia đình.
- Chính trị ở nông thôn: Ngoài hệ thống chính quyền xã, ấp, thôn do Nhà nước
điều hành trên cơ sở pháp luật còn có hệ thống cương vị chức sắc trong dòng tộc, già
làng, thân thuộc, tôn giáo… điều chỉnh hành vi của các thành viên bằng tục lệ những quy
ước ngoài pháp luật (phép vua thua lệ làng). Sự cưỡng chế việc thực hiện chuẩn mực đó
là uy tín, danh dự, dư luận xã hội. Hệ thống chính quyền pháp luật nhiều khi không có
hiệu lực bằng hệ thống dòng tộc, tôn giáo, và các chuẩn mực có tính quy ước trên.
- Văn hoá nông thôn chủ yếu là văn hoá dân gian, thông qua lễ, hội, ca hát, hò, vè,
kể chuyện… để truyền những giá trị thẩm mỹ, đạo đức, lối sống, kinh nghiệm sống, kinh
nghiệm sản xuất… từ thế hệ này sang thế hệ khác. Văn hoá nông thôn đã bảo tồn được
những giá trị quý báu mang tính truyền thống, nhưng nó cũng chứa đựng những yếu tố
không có lợi cho sự phát triển.
* Đặc điểm của nông thôn Việt Nam:
- Hiện nay ở nước ta có 85% dân cư sống ở vùng nông thôn. Xã hội nông thôn

hiện tượng xã hội mang tính khách quan, nó tồn tại trong điều kiện kinh tế- xã hội. Đến
một trình độ phát triển nhất định của xã hội loài người, sự phân tầng về thu nhập, về mức
sống vẫn đang còn tồn tại. Trong các xã hội nông nghiệp và nông thôn, sự phân tầng đó
cũng thể hiện sự cấp bách hơn bởi quy mô và tính chất nghiêm trọng của nó.
- Phân tầng xã hội về thu nhập và mức sống mà biểu hiện trực tiếp của nó là sự phân hoá
giàu - nghèo ở nông thôn không chỉ là hiện tượng kinh tế mà còn là vấn đề xã hôị lớn.
Con số tỷ lệ phản ánh chất lượng nghèo đói, con số biểu thị khoảng cách thu nhập giữa
người giàu và người nghèo giúp chung ta đọc được sự
phát triển và tiến bộ xã hội, đọc được sự quan tâm tới con người của chính phủ các quốc
gia. Đồng thời, qua những biện pháp của chính phủ, của cộng đồng đối với vấn đề đói
nghèo hiểu được các hành vi trong xã hội, hiểu được lối ứng xử với nhau giữa những
người cùng sống ở nông thôn. Hầu hết cac quốc gia trên thế giới, nông nghiệp còn chiếm
tỷ trọng lớn, các nước mới phát triển còn đang phải đương đầu với hiện tượng nghèo đói,
đó là sự biểu hiện phân tầng xã hội ở nông thôn. Sự phân hóa giàu - nghèo không chỉ là
hiện tượng kinh tế mà còn là một hiện tượng xã hội. Chúng ta cũng biết rằng, có nhiều
nguyên nhân đẫ đến nghèo đói,
nhưng ngoài những nguyên nhân về kinh tế như thiếu vốn, gặp khó khăn do đầu vào và
đầu ra trong sản xuất … còn có những nguyên nhân xã hội. Hơn nữa, những nguyên nhân
này lại chiếm tỷ trọng lớn như đông con,già cả, neo người, ốm đau đột xuất, thiếu kinh
nghiệm làm ăn …
5.1.5. Các thiết chế chính trị – xã hội ở nông thôn
5.1.5.1. Thiết chế làng
Làng (bản) xét về mặt xã hội là một tổ chức chính trị - xã hội mang sắc thái
của Việt Nam. Làng là một liên kết chặt chẽ về kinh tế và xã hội, giữa tập thể và gia đình,
giữa cá nhân và cộng đồng. Làng Việt Nam là chỗ dựa vững chắc về đời sống vật chất và
tinh thần cho người nông dân và người cư chú ở nông thôn. Làng ở nông thôn tồn tại lâu
dài trong lịch sử, nó đã được khẳng định như một đơn vị hành chính - kinh tế, là một đơn
vị xã hội có văn hoá. Vì vậy, sự vận động và phát triển của xã hội nông thôn, của quốc
gia đều có sự đóng góp của làng. Vì làng trong một chừng mực nhất định đã quy định
cuộc sống, mẫu người, phương thức làm ăn và ứng sử của những người sinh sống ở đó.

họ là những thành tố cấu thành cơ cấu xã hội nông thôn và làng là đơn vị cơ bản. Dòng
họ trong các làng xã – nông thôn có quá trình hình thành và tạo dựng nên đã trở thành cái
bảo đảm giá trị tinh thần cho mỗi thành viên trong dòng họ. Ở một chừng mực nhất định
như trong ứng xử, mỗi thành viên xuất hiện ngoài xã hội, còn có chỗ dựa tinh thần và thế
lực của gia đình và dòng họ. Là thành viên của gia đình, dòng họ, mỗi người đầu phải
tuân theo những quy ước, quy định vừa có tính
khách quan, vừa có tính chủ quan của thiết chế xã hội này. Đó là những quy định về thứ
bậc theo huyết thống, những quy ước về sinh hoạt dòng họ như lễ tế họ, giỗ chạp mồ mả,
hình thành ruộng họ, quỹ họ… Những quy định, quy ước đó vừa hình thành những khuôn
mẫu hành động những giá trị để định hướng cho con người tồn
tại và phát triển. Trong phạm vi không gian là làng – xã, mối quan hệ của những người
cùng dòng họ, huyết thống, cùng tổ tiên, có lúc đã trở thành mối quan hệ cơ bản nhất,
chặt chẽ nhất. Quan hệ họ hàng đã tạo nên sự ố kết, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau,
động viên nhau những lúc khó khăn, kể cả những thành đạt của các thành viên trong các
lĩnh vực đời sống, sản xuất, học hành. Quan hệ họ hàng là một trong những cơ sở hình
thành nên tình cảm quê hương, cội nguồn, có giá trị trong đời
sống tinh thần của người dân nói chung, và của người nông dân nói riêng.
Với những điều kiện lịch sử, xã hội nhất định, quan hệ dòng họ, thân tộc cũng dễ
làm nảy sinh tính chất cục bộ, hẹp hòi trong sự đánh giá, nhìn nhận các dòng họ khác,
hoặc trong ứng xử ở cộng đồng. Cùng với các hiện tượng tâm lý, xã hội khác, quan hệ
dòng họ cũng có thể bị lợi dụng trong việc tranh chấp quyền lực của cá nhân, hay một
dòng họ nào đó trong làng – xã. Tuy vậy, thiết chế dòng họ, thân tộc từ xưa đến nay,
chưa khi nào giữ vai trò quyết định đối với mọi mặt đời sống của làng – xã nói riêng và
của nông thôn nói chung.
5.1.5.3. Hệ thống chính trị ở nông thôn
Quản lý và điều hành sự vận động, phát triển xã hội ở nông thôn là cả một hệ thống các
thiết chế chính trị – xã hội. Làng và quan hệ dòng họ thân thuộc là những thiết chế xã hội
cơ sở và cơ bản, nhưng chưa đủ để quản lý xã hội nông thôn. Trong những điều kiện lịch
sử, xã hội cụ thể, các đơn vị xã hội cơ bản ở nông là làng – xã có tính độc lập tương đối
và nó có “thế giới riêng”. Những đơn vị xã hội cơ bản đó cũng là một bộ phận hợp thành

tình đoàn kết tương trợ lẫn nhau trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, phường hội hỗ trợ
nhau trong phát triển sản xuất, nghề nghiệp… Tóm lại, các tổ chức, các thiết chế xã hội
đã quán xuyến toàn bộ đời sống, khuôn mẫu, hành động của người dân, đồng thời chúng
cũng bảo đảm cho con người hoà nhập với xã hội để tồn tại và phát triển. Như vậy, để xã
hội nông thôn vận động và có sự quản lý tốt cần có một hệ thống các thiết chế chính trị –
xã hội phong phú, đa dạng, phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội nông thôn. Mọi
hiện tượng đơn giản hoá, nhập cục, hay quá nhấn mạnh vào thiết chế chính trị – xã hội
hoặc kinh tế nào đó, đều không phù hợp với thực tiễn xã hội nông thôn.
Câu 10. Hãy cho biết sự biến đổi của xã hội nông thôn ở nước ta từ khi
đổi mới đến nay. Theo Anh (chị), Đảng, Nhà nước cần có những chính
sách gì để xây dựng và phát triển nông thôn mới giàu mạnh và văn
minh theo định hướng XHCN?
Sự biến đổi của XHH nông thôn ở nước ta từ khi đổi mới đến nay:
- Xu hướng giảm tương đối về tỉ lệ và tuyệt đối về số lượng nông dân trong cơ cấu xã hội
và dân cư ở nước ta.
- Xu hướng phân nhánh, phân tầng đa dạng hóa trong cơ cấu giai cấp nông dân.
- xu hướng biến đổi trong thiết chế gia đình và xã hội ở nông thôn.
Đảng và Nhà nc
Nhà nc đã tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội và trợ giúp về điều
kiện sản xuất, naag cao kiến thức để người nghèo, hộ nghèo, vùng nghèo tự vươn lên
thoát nghèo và cải thiện mức sống 1 cách bền vững đồng thời đẩy mạnh việc thực hiện
chính sách đặc biệt về trợ giúp đầu tư phát triển sx , nhất là đất sx; trợ giúp đất, nhà ở , nc
sạch, đào tạo ghề và việc làm cho đồng bào nghèo trong các dân tộc thiểu số. Nhà nước
dã ban hành nhiều chính sách khuyến khích mạnh các DN đầu tư xây dựng nền kinh tế
nông thôn
- Cần nâng cao nhận thức trong xã hội đối với công cuộc xóa đói giảm nghèo, coi xóa đói
giảm nghèo là trách nhiệm của toàn xã hội trong đó Nhà nc có vai trò rất quan trọng.
- Thực hiện chính sách an sinh xã hội.
- Thực hiện chiến lược an ninh về lương thực. Phải dự trữ lương thực đủ để cung cấp cho
dân cư khi có thiên tai và các hiểm họa do thiên nhiên gây ra. An ninh lương thực ko chỉ

và có trách nhiệm hơn vào quá trình chuẩn bị, thực hiện và giám sát và đánh giá các chủ
trương, chính sách của đảng và Nhà nước cũng như các hoạt động cụ thể, thường xuyên
của các tổ chức chính quyền.
- Các phương tiện thông tin đại chúng điều chỉnh, định hướng sự phát triển của dư
luận xã hội: hệ thống truyền thông đại chúng phải dành phần thích đáng cho việc đăng tải
các thông tin được kiểm chứng và mang tính định hướng xây dựng. Đặc biệt, khi các sự
việc, sự kiện diễn ra có tầm quan trọng và liên quan đến lợi ích của đất nước, của dân tộc,
đụng chạm đến các giá trị chuẩn mực của xã hội cơ bản, khi đó định hướng thông tin phải
phản ánh được quan điểm của Đàng và Nhà nước, ý kiến chính thức của cơ quan chức
năng và phản ánh được sự phán xét, đánh giá chung của xã hội
Ví dụ: về vụ án cướp tiệm vàng ở Bắc Giang do tội phạm Lê Văn Luyện gây ra
đã gây xôn xao dư luận trong xã hội. các trang web, báo, tạp chí, cũng như thông in
truyền thông đã đăng tải đầy đủ về vụ án này. Biết bao ý kiến phản hồi về việc xét án,
định tội danh cho Lê Văn Luyện. Với vài trò cung cấp thông tin nhanh nhạy, chính xác,
các phương tiện thông tin đại chúng còn là nơi cư dân bàn luận công khai xung quanh vụ
án của Lê Văn Luyện. Nhờ các ý kiến đóng góp, phản hồi, mà tòa án nhận biết được yêu
cầu nguyện vọng cũng như suy nghĩ của người dân về vụ án này. Vụ án tạo được sự quan
tâm đặc biệt của mọi tầng lớp nhân dân. Và trên các phương tiện thông tin đại chúng đã
dăng tải đầy đủ những định hướng, cách giải quyết của tòa án và sự phát triển của dư luận
xã hội.
. Mối quan hệ giữa thông tin với công chúng
Quan hệ giữa thông tin đại chúng với công chúng là mối quan hệ tác động hữu cơ
.Quan hệ này chịu ảnh hưởng từ hai phía:
+ ảnh hưởng bởi các thiết chế xã hội và công chúng tới HT thông tin, chẳng hạn: ảnh
hưởng bởi chính trị, giai cấp hay trình độ của công chúng
Ví dụ: như người kém văn hoá, không biết đọc, biết viết không tiếp thu đầy đủ lượng
thông tin
+ Các phương tiện thông tin cũng ảnh hưởng đến chông chúng
- Nếu các phương tiện thông tin hiện đại : Internet, truyền hình ký thuật số, báo điện tử
công chúng dễ nắm bắt, dễ tiếp thu và tiếp thông tin thu đầy đủ hơn và dễ cập nhật hơn

- Cơ cấu Xh là kết cấu và hình thức tổ chức bên trong của 1 hệ thống xh nhất định biểu
hiện như là 1 thống nhất tương đối bền vững của các nhân tố, các mối liên hệ, các thành
phần cơ bản nhất của hệ thống xh.
- ND cơ bản của CCXH nghề nghiệp: Được hình thành dựa trên sự phân công lao động
xh, từ đó dẫn đến sự chuyên môn hóa lao động và nghành nghề -> sự xuất hiện của cơ
cấu nghề nghiệp.
ND: Nghiên cứu về các nghành nghề CN, NN, DV và tỉ trọng của nó.
Đặc trưng CC nghành nghề ở Việt Nam nông nghiệp là chủ yếu.
Sự biến đổi cơ cấu nghành nghề: NN->CN->DV.
-> lựa chọn và định hướng nghành nghề.
+ Do nhu cầu xh đã xuất hiện 1 số nghành nghề mới như quản lí văn phòng, thông tin
thư viện, công tác xh, chứng khoán, bất động sản…
- Ảnh hưởng đến việc lựa chọn ngành nghề đối với hs:
Học sinh có nhiều lựa chọn hơn trong việc định hướng nghề nghiệp.
Tạo ra nhiều việc làm hơn hay công việc sau khi ra trường.
Thúc đẩy các học sinh có những sáng tạo hay tư duy đổi mới kịp thời đại để dần đưa
nước ta có bước phát triển vượt bậc các quốc gia trong khu vực và nông thôn.
Câu 14. Hãy phân biệt DLXH với tin đồn, chuẩn mực xã hội. Đặc điểm,
bản chất và quá trình hình thành Dư luận xã hội.
• DLXH là một hiện tượng xã hội đặc biệt biểu thị phán xét, đánh giá và thái độ của
các nhóm XH đối với những vấn đề liên quan đến lợi ích của các nhóm trong xã hội;
DLXH được hình thành qua các cuộc trao đổi, thảo luận.
D luËn x· héi vµ mét sè kh¸i niÖm liªn quan
3.1 Dư luận xã hội và tin đồn
Cần phân biệt dư luận xã hội với tin đồn. Dư luận xã hội mang tính khách quan và
được truyền đi một cách công khai, chính thức trên các thông tin đại chúng và có tính
trách nhiệm xã hội cao bởi nó hàm chứa, gợi ý cả cách giải quyết vấn đề. Còn tin đồn là
hiện tượng truyền thông tin từ cá nhân này sang cá nhân khác mang nặng chính kiến, yếu
tố chủ quan của cá nhân, bao hàm cả sự phóng đại, xuất phát từ sự thật nhưng do qua lan
truyền nên tính bịa đặt khá cao, làm sai lệch so với thông tin ban đầu. Tin đồn thường lan

một sự kiện, hiện tượng nào đó diễn ra trong xã hội .
+Mặt khác, DLXH lại không phải là sự tổng hợp máy móc các ý kiến cá nhân mà được
coi như sự tích hợp, đại diện của các ý kiến đó. DLXH trong trạng thái toàn vẹn của nó
không còn là ý kiến cá nhân mà là ý kiến đã được đông đảo cá nhân chia sẻ và ủng hộ .
* Đặc điểm của dư luận xã hội
(1). DLXH có tính công chúng, công khai.
Đây là đặc tính quan trọng nhất của DLXH. Nó được thể hiện trên hai phương
diện cơ bản:
- Chủ thể của DLXH.
- Đối tượng của DLXH.
+ Chủ thể của DLXH:
Tính đặc thù của DLXH gắn liền với chủ thể của nó. Nhưng việc xác định chủ thể của
DLXH là một trong những vấn đề gây tranh cãi gay gắt trong lý luận về DLXH. Có
người coi "đám đông", "công chúng" thậm chí nhóm người bất kể nhóm lớn hay nhỏ đều
là chủ thể của DLXH. ta có thể khẳng định chủ thể của DLXH là các nhóm trong xã hội
mà lợi ích của họ có mối quan hệ nhất định với các vấn đề diễn ra trong xã hội và dược
đưa ra thảo luận công khai. Trong một số trường hợp chủ thể của DLXH có thể là toàn
thể nhân dân, toàn bộ cộng đồng hoặc đại đa số. Dưới điều kiện của CNXH phát triển có
thể khẳng định một cách tương đối rằng DLXH XHCN chính là dư luận nhân dân.
+ Đối tượng của DLXH:
Ta thấy DLXH nảy sinh trước các vấn đề cấp bách và có ý nghĩa xã hội được mọi người
quan tâm và nó là sản phẩm của sự thảo luận, trao đổi giữa các ý kiến. Như vậy, ta có thể
nói rằng đối tượng của DLXH là các sự kiện, hiện tượng, quá trình đang diễn ra trong xã
hội gây được sự quan tâm của mọi người bởi mối quan hệ của chúng đến lợi ích của
nhóm xã hội đó. Song không phải tất cả mọi sự kiện, hiện tượng diễn ra đều trở thành đối
tượng của DLXH mà chỉ có những sự kiện,hiện tượng có đủ các điều kiện sau mới được
coi là đối tượng của DLXH:
* Thứ nhất, các sự kiện, hiện tượng xã hội đang diễn ra phải được xem xét trong mối
quan hệ mật thiết với lợi ích của các nhóm khác nhau.Trong đó bao gồm:
- Lợi ích vật chất được nhận thức rõ nét khi các hiện tượng diễn ra có liên quan chặt chẽ

(3). Tính biến đổi
Biến đổi theo không gian và môi trường văn hoá: Sự phán xét, đánh giá của DLXH về bất
kỳ một hiện tượng, sự kiện, quá trình xã hội nào cũng phụ thuộc vào hệ thống giá trị,
chuẩn mực trong nền văn hoá của cộng đồng người. Chính vì vậy với cùng một vấn đề
diễn ra nhưng DLXH của các cộng đồng người khác nhau lại thể hiện sự phán xét khác
nhau .
- Biến đổi theo thời gian: Cùng với sự phát trển của xã hội , những giá trị chuẩn mực văn
hoá cũng thay đổi ngay trong cùng một nền văn hoá dẫn đến sự thay đổi trong cách nhìn
nhận, đánh giá của DLXH. Chẳng hạn ở nước ta trong thời kỳ bao cấp, khi nhà nước chịu
trách nhiệm chu cấp và đảm bảo cho cuộc sống tối thiểu của người dân thì các hoạt động
buôn bán kiếm lời, làm giàu cá nhân bị xã hội lên án và quy kết thành tội đầu cơ tích trữ.
Nhưng trong thời kỳ kinh tế thị trường định hướng XHCN hiện nay, DLXH đã không còn
đánh giá hoạt động đó một cách tiêu cực mà coi đó như hoạt động làm giàu chính đáng
của cá nhân và là một việc bình thường.
Tuy nhiên, phụ thuộc vào những bối cảnh cụ thể DLXH còn biến đổi theo đối tượng của
các phán xét đánh giá khi công chúng phát hiện thêm mối liên hệ giữa đối tượng ban đầu
với các sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội diễn ra kèm theo nó. Mặt khác, xuất phát là
các phán xét đánh giá bằng lời DLXH còn có thể chuyển hoá thành các hành động mang
tính tự phát hoặc có tổ chức để thể hiện thái độ đồng tình hay phản đối của mình. Ví dụ:
Một mặt dư luận xãc hội lên án đòi xử lý nghiêm khắc ( thể hiện bằng ý kiến ) các vụ tội
phạm tấn công vào các chiến sĩ công an đang thi hành nhiệm vụ ; mặt khác chính người
dân đã tích cực quyên góp từ thiện ( thể hiện bằng hành động ) để hỗ trợ một phần cho
gia đình của những công an nhân dân đã dũng cảm hi sinh trong khi làm nhiệm vụ .

(4). DLXH liên hệ chặt chẽ với quyền lợi của các cá nhân và cá nhóm xã hội
Quá trình hình thành DLXH
DLXH không phải là sư tổng hợp đơn giản, máy móc những ý kiến cá nhân. Các
cá nhân là những người mang DLXH, DLXH là kết quả của sự tương tác của các ý kiến
cá nhân hình thành nên sự phán xét chung của số đông cộng đồng người.
Để trở thành DLXH, các hiện tượng, các sự kiện xã hội phải qua một số giai

hữu, cũng như đòi lại nó, vì chưa bao giờ nó là của Trung Quốc. Trên bản đồ thế giới,
Trường Sa là của Việt Nam. Tuy nhiên, đây chỉ là nhận thức ban đầu của cá nhân người
Việt.
b. Giai đoạn trao đổi thông tin giữa mọi người
Các ý kiến cá nhân được chia sẻ, trao đổi, bàn luận với nhau trong nhóm xã hội. Cơ
sở cho quá trình thảo luận trong nhóm xã hội này là lợi ích chung của cả nhóm và hệ
thống các giá trị, chuẩn mực xã hội đang chi phối các khuôn mẫu tư duy và khuôn mẫu
hành vi của các thành viên trong nhóm. Thông qua quá trình trao đổi, bàn luận các suy
nghĩ, các ý kiến xung quanh đối tượng của dư luận mà ý kiến đã được trao đổi chuyển
dần từ lĩnh vực ý thức cá nhân sang lĩnh vực ý thức xã hội.
Ví dụ như: về việc tranh chấp ở biển Đông, đã có nhiều ý kiến cá nhân tranh luận, bàn
bạc về vấn đề này thông qua các website, báo chí, truyền thông. Và dần dần, nó trở thành
vấn đề nổi cộm được cả xã hội quan tâm, và chú ý đến. Đa số mọi người đều cho rằng:
Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam, vì nó thuộc chủ quyền lãnh thổ của người Việt
Nam, và điều đó được ghi nhận trên bản đồ thế giới. Vấn đề biển đảo ảnh hưởng trực tiếp
tới quyền và lợi ích của công dân Việt Nam. Nó thể hiện lòng yêu nước, tự tôn dân tộc
c. Giai đoạn tranh luận có tính chất tập thể về các vấn đề quan trọng
Ở giai đoạn này, các thông tin, vấn đề không quan trọng, không phù hợp hoặc những
thông tin nhiễu về đối được sẽ bị lược bỏ. Các nhóm trao đổi, tranh luận với nhau về
những nội dung quan trọng, đưa ra các loại ý kiến khác nhau và thống nhất lại xung
quanh các quan điểm cơ bản, cùng tìm đến những điểm chung trong quan điểm và ý kiến.
Từ đó mà hình thành cách phán xét, đánh giá chung, thỏa mãn được ý chí chung của địa
đa số các thành viên trong cộng đồng người. Cơ sở cho quá trình tranh luận này vẫn là
lợi ích chung và hệ thống các giá trị, chuẩn mực xã hội chung cùng được các nhóm xã hội
chia sẻ và thừa nhận.
Ví dụ: nhà nước Việt Nam là nhà cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chỉ có một
chính đảng uy nhất đi theo con đường chủ nghĩa xã hội. đã có thời kì, có nhiều ý kiến
tranh luận về con đường của Việt Nam sau này, nhưng đa số đều thống nhất con đường
xã hội chủ nghĩa là duy nhất. Một số bộ phận phản động Việt quốc, Việt cách đã và đang
tìm cách chống phá, thêm thắt một số dư luận không tốt để chống phá cách mạng và con

+ Trao đổi , bàn luận về các cảm nghĩ , các ý kiến xung quanh đối tượng của dư
luận .Từ đây ý kiến cá
của cá nhân chuyển từ ý thức cá nhân sang ý thức xã hội
+ Các ý kiến cá nhân khác nhau được thống nhất lại xung quanh các quan điểm
cơ bản , hình thành quan điểm đánh giá chung về sự kiện xã hội , sự đánh giá của cá nhân
phù hợp với sự nhận định của đa sè céng ®ång ngêi
+ Từ việc đánh giá dẫn đến sự phán xét về hành động đễn những kiến nghị trong
hoạt động thực tiễn
Như vậy, DLXH hình thành qua các giai đoạn sau :
+ Hình thành
+ Thể hiện
+ Thực hiện hoá trong thực tế
Tóm lại : DLXH được hình thành qua sự bàn bạc , do va chạm giữa các ý kiến
khác nhau, hay có sự phán xét khác nhau. Nó là sản phẩm hoạt động giao tiếp xã hội, nếu
không có giao tiếp xã hội thì không có tính sáng tạo tập thể, không có sự phán xét , đánh
giá chung của đại đa số cộng đồng người
Câu 15. Hãy phân tích những nhân tố tác động đến sự hình thành
DLXH. Theo anh(chị), hiện nay DLXH đang nổi lên quan tâm nhất tới
những vấn đề gì?
Sự hình thành DLXH phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, về KT-CT-
VH-XH. Các yếu tố tác động đến việc hình thành DLXH :
a. Tính chất của các sự việc, sự kiện, hiện tượng xã hội, quá trình xã hội đang diễn ra
trong xã hội
Thực tế xã hội luôn diễn ra đa dạng, phong phú và phức tạp với nhiều sự việc, hiện
tượng xã hội hay quá trình xã hội khác nhau. Dư luận xã hội là hiện tượng tinh thần phản
ánh tồn tại xã hội. Sự phản ánh đó trước hết phụ thuộc vào quy mô, cường độ, tính chất
của các sự việc, sự kiện, hiện tượng xã hội mà nó phản ánh; đồng thời phụ thuộc và ý
nghĩa của các sự việc, hiện tượng đó đối với các nhu cầu, lợi ích về vật chất, tinh thần của
cộng đồng người mang dư luận.
Ví dụ như: Theo thông tin từ Cục Y tế dự phòng, tính đến nay cả nước đã có hơn

- Các phương tiện thông tin đại chúng là diễn đàn ngôn luận công khai
- Các phương tiện thông tin đại chúng điều chỉnh, định hướng sự phát triển của dư
luận xã hội
Ví dụ: về vụ án cướp tiệm vàng ở Bắc Giang do tội phạm Lê Văn Luyện gây ra
đã gây xôn xao dư luận trong xã hội. các trang web, báo, tạp chí, cũng như thông in
truyền thông đã đăng tải đầy đủ về vụ án này. Biết bao ý kiến phản hồi về việc xét án,
định tội danh cho Lê Văn Luyện. Với vài trò cung cấp thông tin nhanh nhạy, chính xác,
các phương tiện thông tin đại chúng còn là nơi cư dân bàn luận công khai xung quanh vụ
án của Lê Văn Luyện. Nhờ các ý kiến đóng góp, phản hồi, mà tòa án nhận biết được yêu
cầu nguyện vọng cũng như suy nghĩ của người dân về vụ án này. Vụ án tạo được sự quan
tâm đặc biệt của mọi tầng lớp nhân dân. Và trên các phương tiện thông tin đại chúng đã
dăng tải đầy đủ những định hướng, cách giải quyết của tòa án và sự phát triển của dư luận
xã hội.
d. Những nhân tố thuộc về tâm lí xã hội
Trạng thái tâm lí xã hội thường biểu hiện ở nhiều nhân tố như thói quen, nếp sống, ý
chí, tâm trạng hay tình cảm của nhóm xã hội, cộng đồng người đã được hình thành do
ảnh hưởng trực tiếp của các điều kiện sống, lao động, sinh hoạt hàng ngày hoặc do tác
động của công tác tuyên truyền, giáo dục. Ảnh hưởng của nhân tố này có nhiều mặt đôi
khi khó nhận biết. tùy từng thời điểm nhất định, tâm trạng của con người có thể được thể
hiện ở các trạng thái khác nhau, thậm chí đối lập nhau như hưng phấn hoặc ức chế, tích
cực hoặc tiêu cực, lạc quan hoặc bi quan, yêu đời hoặc chán nản, hy vọng hoặc thất
vọng Khi con người đang ở trong tâm trạng phấn chấn, hồ hởi thì nội dung phán xét,
đánh giá về sự kiện, hiện tượng xã hội sẽ có những khía cạnh khác với khi đang ở trong
tâm trạng bi quan, chán nản. Thường khi phấn chấn, lạc quan thì thấy nhiều thuận lợi
hơn, ít thấy khó khăn và ngược lại. những nếp nghĩ bảo thủ, di sản của quá khứ cũng có
thể ảnh hưởng tới sự hình thành dư luận xã hội nếu không có sự định hướng đúng đắn.
e. Hoàn cảnh sinh hoạt chính trị- xã hội
Mức độ dân chủ hóa đời sống xã hội, khả năng và sự tham gia thực tế của người dân
vào các sinh hoạt chính trị- xã hội của đất nước có ảnh hưởng rất quan trọng tới sự hình
thành dư luận xã hội. Trong điều kiện xã hội có dân chủ rộng rãi, có thông tin đa dạng,

hiện đại, con người lại quan niệm về cách ăn mặc có phần mới mẻ hơn, theo cách ăn mặc
Âu hóa, tuy nhiên sự thay đổi này vẫn dựa trên hệ tư tưởng, chuẩn mực phong kiến. Nếu
có sự phá cách lộ liễu, hay mát mẻ quá, ngay lập tức cá nhân sẽ bị xã hội lên tiếng phê
phán.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status