Mở đầu
------***-------
Tìm hiểu sự phát triển của kinh tế hàng hoá ở Việt Nam dới thời
phong kiến là một trong những vấn đề quan trọng của lịch sử để góp phần
làm rõ quá trình hình thành chủ nghĩa t bản ở Việt Nam. Nền kinh tế hàng
hoá ở Việt Nam đã xuất hiện trớc thế kỉ X có thể từ thời đại Hùng Vơng và
cả thời kì Bắc thuộc và chống Bắc thuộc nhng cho đến nay do hạn về t liệu
hiện có thì nền kinh tế hàng hoá Việt Nam thực sự hình thành với các đặc
trng đầy đủ của nó là vào đầu thế kỉ X - thời kì độc lập. Trải qua thời Lý
Trần nền kinh tế hàng hoá Việt Nam đã phát triển đến một mức độ nhất
định. Đặc biệt ở các thế kỉ XVII - XVIII, trong khi Đại Việt bị chia cắt
thành Nam- Bắc triều rồi Đàng Trong - Đàng Ngoài thì trên thế giới có
nhiều biến động mới. Sự phát triển của công thơng nghiệp ở Tây Âu dẫn
đến sự kiện phát kiến lớn về địa lý, thơng nhân Châu Âu bắt đầu mở rộng
buôn bán với các nớc Phơng Đông. Đồng thời thơng nhân các nớc Đông á
nh Trung Quốc, Nhật bản, Inđônêxia. Cũng hoạt động rầm rộ; vì vậy hình
thành sự giao lu buôn bán quốc tế giữa Đại Việt và các nớc xung quanh.
Nhu cầu hàng hoá tăng lên. Tác động nhiều mặt của nông nghiệp cũng tạo
điều kiện thuận lợi cho sản xuất thủ công và trao đổi buôn bán. Nền kinh tế
công thơng nghiệp đại Việt chuyển sang một giai đoạn phát triển mới, nền
kinh tế hàng hoá Việt Nam có sự khởi sắc.
Việc tìm hiểu sự phát triển kinh tế hàng hoá Việt Nam là một vấn đè
phức tạp của lịch sử nớc ta. Phạm vi của nó cũng rất rộng. Vì muốn nghiên
cứu vấn hình thành chủ nghỉa t bản ở Việt Nam phải nghiên cứu sự hình
thành và lịch sử phát triển của kinh tế hàng hoá Việt Nam, tìm những đặc
trng của nó, tìm hiểu quy luật của nó. Đồng thời phải giải quyết vấn đề
quan trọng khác là vì sao chủ nghĩa t bản đã chậm xuất hiện ở Việt Nam
Vấn đề phức tạp lại rộng nh vậy cho nên với khả năng có hạn của cá nhân
và phạm vi bài tập điều kiện nên không thể giải quyết hết đợc. Vậy nên
thông qua bài tập điều kiện bản thân chỉ giới hạn trong việc tìm hiểu về sự
phát triển của kinh tế hàng hoá Việt Nam thế kỉ XVII - XVIII và đa ra
vay lãi và tín dụng cùng xuất hiện.
Thứ hai: Xuất hiện giai cấp thơng nhân môi giới giữa những ngời sản
xuất.
Thứ ba: Có chế độ t hữu về ruộng đất và cầm cố ruộng đất.
2
Thứ t: Lao động của nô lệ trở thành chính thức chi phối nền kinh tế.
ở đây Angghen nói đến sự xuất hiện kinh tế hàng hoá trong xã hội
nô lệ khi mà chế độ công xã nguyên thuỷ tan rã. Tuy nhiên trừ điểm thứ t ra
thì các điểm trên là đặc trng chung của nền kinh tế hàng hoá dù nó xuất
hiện trong bất cứ hoàn cảnh nao? Chắc chắn là kinh tế hàng hóa Việt Nam
đã xuất hiện từ rất sớm, từ thời Bắc thuộc và có thể còn xa hơn nữa, từ thời
Hùng Vơng. Các th tịch cổ cho biết từ thời Bắc thuộc, việc trao đổi buôn
bán trong nớc và với nớc ngoài, nhất là với Trung Quốc khá phát triển.
Hàng hóa bán ra nớc ngoài chủ yếu là hơng liệu, lâm sản quý, vải, gấm,
giấy bản, đờng. Hàng hóa nhập vào gồm nhiều chủng loại nhng đa số là
hàng xa xỉ phẩm, phục vụ bọn quan lại đô hộ và tầng lớp quý tộc giàu có.
Nhng một nền kinh tế hàng hóa với những đặc trng đầy đủ của nó
thực sự hình thành vào thời kỳ độc lập, từ thế kỷ X trở đi. Các vơng triều
đều rất quan tâm và có nhiều chính sách phát triển nông nghiệp, nh chú
trọng công tác trị thủy, cấm giết trâu, thực hiện chính sách quân điền,
khuyến khích khai khẩn đất hoang Tạo điều kiện cho kinh tế nông nghiệp
phát triển. Đặc biệt dới thời Lý -Trần đã có chế độ t hữu về ruộng đất, có
việc mua bán, cầm cố ruộng đất do đó tầng lớp địa chủ đã xuất hiện. Trên
cơ sở quyền sở hữu ruộng đất của mình họ có thể tự do sử dụng sản phẩm
mình kiếm đợc hoặc bóc lột đợc, sau khi đã nộp thuế cho nhà nớc. Do đó
các tầng lớp này tích lũy đợc nhiều tiền của, có khả năng tiêu thụ hàng hóa
trên thị trờng. Chính vì thế nền kinh tế hàng hóa có thể phát triển sớm dới
thời Lý - Trần.
Nông nghiệp phát triển đã tạo khả năng cho một số nghề thủ công
thoát ly một phần khỏi nông nghiệp để phát triển độc lập, mặt khác do đời
cho hàng ngũ nông dân t hữu cũng tăng lên. Tình hình này cộng với chế độ
t hữu về ruộng đất do nền kinh tế hàng hoá phát triển dới thời Trần đã làm
cho chế độ ruộng đất nửa thế kỉ XV phát triển hơn trớc.
Cùng với chế độ t hữu về ruộng đất nửa đầu thế kỉ XV là sự tăng tiến
về diện tích trồng trọt, hàng nông phẩm lu thông trên thị trờng ngày càng
nhiều hơn trớc, tạo điều kiện cho thủ công nghiệp hoàn toàn thoát ly khỏi
nông nghiệp và phát triển mạnh. Số lợng phờng thủ công tăng lên, các trung
tâm buôn bán nhỏ trong nớc cũng tăng nhiều hơn trớc. Nhà nớc cũng rất
chú trọng tới việc đúc tiền và thống nhất đơn vị đo lờng, ban hành những
quy định về thống nhất tiền tệ. 1475, vua Lê Thánh Tông ban hành các mẫu
cân, thớc, thủng, đấu theo thể thức của nhà nớc và còn trừng trị nghiêm
khắc những ngời không tuân theo. Năm 1427 Thánh Tông cũng quy định
mẫu, sào, thớc. Tất nhiên những quy định thống nhất đo lờng trên đây trớc
4
hết vì nhu cầu thu thuế của nhà nớc, nhng nó cũng phản ánh nhu cầu phát
triển của nền kinh tế hàng hóa lúc đó.
Thăng Long vẫn là nơi tập trung buôn bán lớn nhất cả nớc, dân các
nơi về đây tụ tập làm ăn ngày càng đông đến nỗi chức quan cai quản phủ
Phụng Thiên sợ, lệnh đuổi hết họ về nguyên quán. Năm 1481, tả trung doãn
Quách Đình Bảo phải dâng sơ tâu xin vua bỏ lệnh đó và đã đợc Lê Thánh
Tông chấp nhận. Ngoại thơng cũng phát triển hơn trớc.
Sự phát triển của kinh tế hàng hóa lại tác động trở lại đến sản xuất
nông nghiệp, làm cho quá trình phân hóa ruộng đất hết sức mau chóng, chế
độ t hữu về ruộng đất đặc biệt phát triển vào thế kỷ XV. Tình trạng cớp
đoạt, tranh tụng, mua bán ruộng đất vào nửa sau thế kỷ XV dới triều Lê
Thánh Tông là rất phổ biến. Bộ luật Hồng Đức đã dành một phần quan
trọng để quy định về việc này.
Nh vậy là những điều kiện cần thiết cho nền kinh tế hàng hóa có thể
phát triển đợc đã xuất hiện đầy đủ vào thế kỷ XV. Trải qua các thế kỷ XVI -
XVII - XVIII do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, dới sự kích thích của ngoại th-
giấy và khắc bản in, nghề làm chiếu, nghề thuộc da, nghề làm đờng, nghề
làm quạt, lọng, nghề sơn, nghề làm hơng, nghề nhuộm, làm nón,nghề đúc
đồng, khảm trai, chạm vàng bạc Cũng tăng c ờng hoạt động, sản xuất ra
nhiều mặt hàng khác nhau, phục vụ cuộc sống.
Nghề làm gốm: Vốn là một nghề truyền thống, phát triển ở nhiều nơi
trong nớc và nổi lên các làng gốm danh tiếng nh Bát Tràng, Thổ Hà, Hơng
Canh, Vân Đình, Đình Trung, Hàm Rồng, Phù Lãng, Mỹ Thiện, Phú Khang,
Biên Hòa Số l ợng và chất lợng các sản phẩm gốn tăng lên rất nhiều, hình
ảnh trang trí trên các dồ gốm ngày càng tinh xảo, đẹp mắt, men có nhiều
màu, nhiều loại. Bát đĩa sứ, gốm tráng men của ngời Việt trở thành một
hàng hóa rất đợc thơng nhân nớc ngoài a chuộng, thậm chí dùng làm mẫu
cho nghề gốm nớc mình.
Nghề kéo tơ dệt lụa: Hầu hết các làng đều có nghề kéo tơ dệt lụa.
Giáo sĩ A. đơ Rốt nhận xét "Đàng Trong rất nhiều tơ, nhân dân dùng cả tơ
để làm lới đánh cá", thơng nhân Bori cũng viết, ở Đàng Trong "có rất nhiều
tơ lụa, đến nỗi những ngời lao động và hạ lu dùng thờng xuyên, hàng ngày".
6
ở Đàng Ngoài, nổi tiếngcác làng La, "Hà Tây quê lụa", các xã Hạ Hội,
Thiên Mỗ, Y La, Trung Thụy và Đại Phùng có tài dệt lụa, trìu, lĩnh, là.
Thăng Long và Phú Xuân là hai trung tâm dệt truyền thống với các phờng
Yên Thái, Bởi, Trích Sài,Trúc Bạch, Nghi Tàm, Thành Công và Sơn Điền,
Dơng Xuân, Vạn Xuân "Thăng Hoa, Điện Bàn biết dệt vải lụa, vóc,
đoạn, lĩnh, là hoa, màu khéo đẹp không kém Quảng Đông". Khối lợng
sản xuất lớn, mặt hàng vải lụa gồm nhiều loại: Lụa trắng lụa vàng the, lĩn,
lụa hoa, sồi, nhiễu...
Nghề làm đờng: Phát triển rộng ở các thế kỉ XVII- XVIII, mía đợc
trồng ở nhiều nơi, nhân dân dùng trâu bò kéo máy ép và lò nấu đ ờng, nấu
mật àm đờng hay làm mật.Đặc biệt phát triển ở Đàng Trong nh châu Xuân
Đài, xã Đông Phiên (Quảng Nam), Quảng Ngãi. Hàng năm nhà chúa đẫ thu
15.922 cân đờng phên, 7690 cân đờng cát thuế của Xuân Đài..
thông cũng tăng lên.
Thế kỷ XVI - XVIII chứng kiến một thời kỳ phát triển khá rầm rộ của
thơng nghiệp . Một mặt do nhu cầu thoát thỏi sự gò bó của nông nghiệp
cũng nh do sự phát triển t thân của nó, do điều kiện dao thông đi lại thuận
lợi hơn trớc, do nhu cầu của cuộc sống hàng ngày tăng lên nên s chao đổi
hàng hóa ngày càng cần thiết .
Mặt khác sự hình thành của luồng dao lu buôn bán quốc tế tác động
mạnh mẻ đến các vùng lâu nay xa cách dóng kín, và làm cho nhu cầu hàng
hóa đặc sản địa phơng tăng lên không ngừng. Bên cạnh đó một thời nhà
thanh thực hiện bế quan tỏa cảng buộc các thơng nhân Trung Quốc cung
nh thơng nhân nơc ngoài khác phải dồn sang Việt Nam Tất cả nh ng điều
đó vừa làm cho việc buôn bán với nớc ngoài phát triển vừa làm cho nội th-
ơng thêm nhộn nhịp .
* Buôn bán trong nớc: Các chợ ở địa phơng mọc lên khắp nơi, hầu nh
mỗi làng đều có chợ hoặc các cụm làng chia phiên trong tuần để họp chợ. Mỗi
huyện có khoảng 14- 22 chợ làng, chợ chùa, chợ huyện, các làng thủ công
chuyên nghiệp thờng có chợ riêng. Nhiều chợ lớn nổi tiếng trong vùng nh chợ
Lim, chợ Nành, Châu Cầu, Bình Vọng, Phơng Đình, Bí Giang, Lâm Xá, Trạo
Hà, An Lâm là nơi ngời và hàng hóa tụ họp đông đú ', phố Kỳ Lừa buôn
bán đông đúc , chợ Gia Hội, chợ An Cựu, Đại Lộc, Diên Sinh , Trà Quang, An
Thái, Vĩnh Thế, Phú Thịnh, Yên Lơng, chợ Phủ Thiên Trờng, chợ Côi Sơn, chợ
Kỳ Bố, Hội Xuyên, Đông Am, Hàm Giang, Đại Phúc, Phú Xá, Ba Đồn, chợ
Nghèn, chợ Cày, chợ Vực, chợ Nài, chợ Vĩnh, Đô Lơng, Sóc, Bảo Lân, Dơng
8