Bài tập điều kiện Lịch sử tổ chức bộ máy nhà nớc ở Việt Nam thời phong kiến
đặt vấn đề
-----***-----
Trong công cuộc xây dựng nền hành chính quốc gia, hầu nh nớc nào cũng
quan tâm đến hai yếu tố cơ bản: Hiện đại và dân tộc. Yếu tố hiện đại thờng gắn liền
với nguyện vọng ý chí của con ngời, nhất là của lớp ngời cầm quyền, mang ý nghĩa vĩ
mô, còn yếu tố dân tộc lại gắn liền với tính chất và hoàn cảnh cụ thể riêng của mỗi n-
ớc, mang ý nghĩa thực tiễn. nh vậy nếu nh yếu tố hiên đại thể hiện mong muốn vơn
lên tiến tiến so với các nớc xung quanh thì yếu tố dân tộc buộc con ngời phải tìm hiểu
thực tiễn lịch sử và xã hội nớc mình để sao cho bộ máy quản lí nhà nớc mà mình xây
dựng nên đạt đợc hiệu quả thốmg trị cao nhất.
Dân tộc Việt Nam có một lịch sử lâu đời và một truyền thông tốt đẹp. Lịch sử
lâu đời đó do chính những con ngời Việt Nam đã xây dựng và tạo nên những truyền
thống và quá khứ hào hùng, vẻ vang của dân tộc. Từ trong sự nghiệp dựng nớc, giũ n-
ớc, nhân dân Việt Nam đã tạo ra ý thức dân tộc, ý chí kiên trung, tinh thần yêu nớc
nồng nàn và lòng dũng cảm tuyệt vời để xây dựng nên những giá trị tinh thần cơ bản,
góp phần quan trọng làm nên sự nghiệp cách mạng, bảo vệ tổ quốc, chống các thế lực
đế quốc xâm lợc, thống nhất đất nớc. Công lao to lớn đó của cha ông ta rất đáng tự
hào và để giáo dục cho các thế hệ mai sau, nhất là trong công cuộc xây dựng đất nớc
thời kì hiện đại.
Tuy nhiên khi nói đến đất nớc, đến dân tộc Tổ quốc tức là chúng ta muốn nói
đến một khối cộng đồng ngời cùng sống trên cùng một lãnh thổ có tiếng nói chung,
một nền kinh tế thống nhất và đơng nhiên là dới sự quản lí của một nhà nớc thống
nhất. Thực ra lịch sử lâu đời của một dân tộc cũng là lịch sử lâu đời của công cuộc
xây dựng nhà nớc, xây dựng hệ thống quản lí nhà nớc.
Dân tộc Việt Nam ta đã có hơn một nghìn năm độc lập trứơc khi bị thực dân
Pháp xâm chiếm và đô hộ, nghĩa là đã từng có hơn một nghìn năm xây dựng hệ thống
1
Bài tập điều kiện Lịch sử tổ chức bộ máy nhà nớc ở Việt Nam thời phong kiến
hành chính quốc gia của mình. Trong hơn mời thế kỉ đó có 8 triều đại kế tiếp nhau
thống trị và thông thờng mỗi triều đại lớn nh Lý, Trần, Lê . đều có những giai đoạn
quan giám sát và cần có những kì khảo xét công tội. Vì vậy nhà nớc rất chú ý và đề
cao vai trò của các cơ quan thanh tra quan lại, Những ngời làm việc trong các cơ quan
này gọi là ngôn quan hay gián quan, không chỉ có quyền nhận xét, đàn hặc các quan
lại mà còn đợc phép góp ý về các sai sót của Vua và không phải Vua sẽ bỏ qua những
lời can ngăn đó .Đúng nh vậy, Thời Lý tuy hệ thống trng ơng còn đơn giản, năm
1028, Lý Thái Tông đã đặt hai chức Tả, Hữu Gián nghị đại phu chuyên việc thanh tra
đàn hặc quan lại, chế độ thanh tra giám sát quan lại đợc đa vào hoạt động, sang các
thời Trần, Lê Sơ, Nguyễn các cơ quan này tiếp tục đợc hoàn thiện.
I - tổ chức thanh tra, giám sát
1- Quá trình xây dựng.
* Nhà Lý: Từ khi nhà Lý mới đợc thành lập Lý Thái tông đặt quan, có các
chức Tả, Hữu Gián Nghị đại phu.
* Nhà Trần: Sang thời Trần, Năm 1250 Ngự sử đài đợc thành lập với t cách
vừa khuyên răn Vua vừa thanh tra giám sát quan lại. Cơ quan này gồm các chức:
+ Ngự sử đại phu.
+ Ngự sự trung tán.
+ Ngự sử trung tớng.
+ Giám sát ngự sử.
3
Bài tập điều kiện Lịch sử tổ chức bộ máy nhà nớc ở Việt Nam thời phong kiến
+ Thị ngự sử.
+ Ngự sử phụng chỉ.
+ Thị th ngự sử.
+ Tam ty Viện ( Trớc là Đô hộ phủ rồi đổi là Đô vệ phủ)
gồm 3 ty: Phụng Tuyên, Thanh Túc, Hiến chính.
+ Thẩm hình viện.
+ Đăng văn kiểm phát viện ( Đình uý, Tự khanh, Thiếu
khanh ) sau đổi thành Thợng Lâm Tự có các chức Thủ Phán, Khu mật viện
( do đại S phụ trách )
* Nhà Lê: Thành lập Ngự sử đài theo chế độ nhà Trần, Lê Thái Tổ cho
đạo trong cả nớc và một số nhân viên giúp việc. Tổng cộng có 52 ngời. Quyền hạn và
nhiệm vụ đợc quy định cho từng chức danh các cấp sự trung và ngự sử giám sát các
đạo.
2 - Tuyển dụng.
Ngự sử đài là cơ quan quan trọng của nhà nớc, Ngự sử đài giữ phong hoá,
pháp độ, chức danh rất trọng, nên đều sử dụng các quan lại có tiếng là chính trực
thanh liêm, minh mẫn , lịch duyệt. Thời Lê sơ các quan Ngự sử đài đều phải là các
chức quan đã giữ chức đủ 4 lần khoả khoá (làm quan đợc 12 năm ) mới đợc trao chức
này. Các quan chức này đều đợc học hành đỗ đạt cao. Lê Hiển Tông năm Cảnh
Thống thứ mhấtquy định rõ: Tuyển ng ời Tiến Sĩ nào có thành tích về chính trị để
bổ giữ chức ở Ngự sử đài. Tuy nhiên bên cạnh đó còn có những ông quan dầu
5
Bài tập điều kiện Lịch sử tổ chức bộ máy nhà nớc ở Việt Nam thời phong kiến
không có học vị cao nhng nổi tiếng là cơng trực, thanh liêm thì cũng đợc tuyển dụng
làm quan ở Ngự sử đài.
Về phẩm trật và bổng lộc, Đô ngự sự đứng hàng thứ ba, tức chức tam phẩm chỉ
sau các chức Tam Thái, Tam Thiếu hởng lơng 120 quan tiền, 120 phơng gạo, và 20
quan tiền quần áo. Phó Đô ngự sử hàm chánh ngũ phẩm. Giám sát ngự sự các đạo
hàm chánh thất phẩm quan Ngự sử đ ợc phong tớc Tử hoặc Nam.
3 - Chức năng, nhiệm vụ.
Thời Lý, Trần, Ngự sử đài giữ việc xem xét, chấn chỉnh kỉ cơng trong triều
đình. Thời Lê, chức trách của Ngự sử đài đợc quy định rõ hơn, cụ thể hơn. Qua các t
liệu lịch sử, có thể thấy đợc Ngự sử đái có những chức năng nhiệm vụ sau.
* Can gián nhà Vua, giám sát việc làm của các quan.
Nhà Lê: Lê Thái Tổ năm 1429, đã nêu rõ nhiệm vụ của Ngự sử đài qua đạo
dụ: Hễ thấy trẫm có chính sự hà khắc làm hại dân, thởng phạt không dùng phépvà
quan lại không giữ phép công thì kíp dâng giấy tờ lên đàn hặc. Nếu ai t vị nể nang,
buông thả dung túng hoặc chỉ chăm chắm những việc nhỏ nhặt hay là bắt bóng nói
càn thì càng phải tội. .
lê Nhân Tông năm 1456 hạ chiếu chỉ dụ: Viên quan trong Ngự sử đài thì tâu
* Xem xét lựa chọn quan lại.
Việc lựa chọn quan lại có các hình thức: Bảo cử, tiến cử, sau này phải qua thi
cử. Bộ lại chịu trách nhiệm chính, Ngự sử đài làm việc góp ý, kiểm tra. Các quan đợc
xét công lao, gọi là khảo khoá. Không có lỗi lầm thì đợc thăng trật (có 3 bậc). Thời
Lý thì 9 năm một lần khảo khoá, thời Trần 15 năm, thời Lê 3 năm, sau năm 1499 lại
trở lại 9 năm.
7
Bài tập điều kiện Lịch sử tổ chức bộ máy nhà nớc ở Việt Nam thời phong kiến
ở các địa phơng quan lại Thừa ty, Hiến ty, xét công các quan phủ huyện để
trình bộ lại. Ngự sử đài xét công tội của Thừa ty, Hiến tycác sứ. Đầu đời Trung Hng,
định lại phép khảo khoá thì Ngự sử đài xét các quan chức đề lĩnh, Phủ doãn và các
Ty, Thừa, Hiến. Còn Phủ doãn và Thừa ty, Hiến týet các quan phủ huyện dới quyền.
Việc bổ xung quan lại của đời Hồng Đức có quy định: do phủ liêu kê danh
sách dâng lên giao ra triều đờng bấy giờ để hình giám sát và Lục khoa bắt đầu bàn
luận, Lại khoa tuyên bố lời bàn, rồi đến các quan khanh trong Lục tự bàn luận một
lần: Tả hữu thị lang bàn luận một lần, Đô ngự sử và Phó Đô ngự sử đài chiết trung.
Thợng th sáu bộ và Chởng phủ, Th phủ trong Ngũ phủ quyết đoán.
II- Chế độ khảo xét quan lại.
1- Tiến trình thực hiện và thời hạn khảo xét quan lại.
Các quan lại trong các triều ở cấp trung ơng và địa phơng đợc lựa chọn, tuyển
dụng bằng nhiều hình thức khác nhau nh: ấm phong, tiến cử, bảo cử và thi cử, trong
đó bộ lại chịu trách nhiệm chính, Ngự sử đài làm việc góp ý, kiểm tra. Các quan đợc
xét công lao, gọi là khảo kháo, tuỳ theo thành tích hay sai phạm mà có sự thăng giáng
tơng đơng, nếu không có lỗi lầm gì thì đợc thăng trật cấp cao hơn. Thời lý thì 9 năm
một lần khoả khoá, Thời Trần 15 năm, thời Lê 3 năm một lần nhng từ sau năm 1499
thì quay trở lại chu kì 9 năm nh thời lý.
* Nhà Lý: Lý Cao Tông năm Trinh Phù thứ t ( Kỷ Hợi 1179 ), xét công các
quan, lấy những ngời văn học tài cán làm một loại, những ngời không thông văn học
mà siêng năng tài cán làm một loại, sai trị dân quản quân. Từ đó trăm quan tài năng
đều xứng đáng với chức vụ, không có nhũng lạm, không có ngời thừa hoặc vô dụng.
công, ba lần xét công mới thăng giáng. đến nhà Chu thì ba năm thi hành phạt
hay thởng. Phép của nhà Lý nhà Trần lại không theo nh thế. Huống chi việc
đời ngày càng nhiều, nếu không thời thờng thúc đẩy răn bảo, sao có thể lâu
9
Bài tập điều kiện Lịch sử tổ chức bộ máy nhà nớc ở Việt Nam thời phong kiến
mà không sinh tệ! Đại yếu ba năm một lần thăng giáng, hình nh có vội vàng.
Chỉ mỗi năm một lần xét chính tích mà lấy sáu năm để quyết định thăng
giáng thì mới là không buông thả mà cũng không bó buộc.
* Nhà Lê: Lê Thái Tổ năm Thuận thiên thứ nhất (Mậu thân- 1428) tháng sáu,
ra lệnh cho các đại thần khảo xét các quan trong ngoài; hạng nhất là những ngời có
tài văn võ, tháo vát, tinh nhanh; hạng nhì là những ngời biết chữ tháo vát, tinh nhanh;
hạng ba là những ngời viết tinh, viết thảo, làm tính; ngoài ra những ngời không đợc
xếp hạng nào thì kê riêng thành một hạng.
Ngày 28/ 11 vua ra lệnh cho các quan viên và thần dân cả nớc, hạn đến tháng 5
năm sau (tức năm kỷ Dậu 1429) tới Đông Kinh để các quan hỏi thi kinh sử, ai tinh
thông đợc bổ làm quan văn: các quan võ hỏi thi về võ kinh, pháp lịch ,kì th.
Lê Thái Tổ năm Thuận Thiên thứ 2 (Kỷ Dậu/ 1429), ngày 28/3 lệnh cho các
quan văn võ trong ngoài, ngời nào tinh thông kinh sử, từ tứ phẩm trở xuống, hạn đến
ngày 20 tháng này đều tới sảnh vào hội thi.
Lê Thái Tông năm Thiệu Bình thứ nhất (Giáp Dần/ 1434) , có chỉ dụ cho các
chức Hành khiển năm đạovà các chức tổng quản, Tuyên uý các trấn rằng: công
trạng của các quan ở lộ, trấn, huyện, thì giao cho Hành khiển đạo đó xét duyệt, của t-
ớng hiệu các trấn thì giao cho tổng quản và tuyên uý bản đạo xét duyệt, của các quan
ở Sảnh, Viện, Cục thì giao cho Thiếu bảo, Hữu bật sát hạch, của các quan ở tả hữu
banvà ở nội điện thì giao cho áp nha hữu ban và Nội mật viện sát hạch. Mỗi loại chia
làm ba bậc, cần phải công bằng thẳng thắn không đợc điên đảo
Lê Thánh Tông năm ất Mão Thiệu Bình thứ hai (1435), theo thứ bậc xét duyệt
mà phang thởng cho các quan tại chức trong ngoài làm việc lâu ngày siêng năng, bậc
nhất thì đợc tớc một t, tiền năm quan, bậc nhì thì đợc tớc một t, ngời nào mới đợc bổ
cha có công tội gì thì để làm hai bậc.
vi cai quản thì phải xét kĩ thành tích trong công việc mà viên quan đó đã làm. Nếu
11