MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU
B. NỘI DUNG
I. Qỳa trỡnh thực dân Anh xâm lược Ấn
Độ…………………………………
1. Hoàn cảnh Ấn độ trước khi bị thực dân Anh xâm lược……………………
2. Quá trình thực dân Anh xâm lược Ấn Độ………………………………….
3. Chính sách cai trị của Thực dân Anh ở Ấn Độ…………………………
II. Quá trình đấu tranh giành độc lập của nhân dân Ấn Độ từ 1885 đến 1950
1. Phong trào đấu tranh giải phóng dõn tộc ở Ấn Độ những năm đầu thế kỉ
XIX……………………………………………………………………………
2. Quá trình đấu tranh giành độc lập của nhân dân Ấn Độ từ 1885 đến 1950.
2.1. Sự ra đời của Đảng Quốc đại 1885………………………………………
2.2. Qúa trình đấu tranh giành độc lập từ 1885 đến 1950. …………………
2.2.1. Phong trào đấu tranh đòi quyền tự trị (Swaraj)………………………
2.2.2. Quá trình đấu tranh đòi độc lập (Purna Swaraj)
3. Kết quả, ý nghĩa lịch sử, bài học kinh nghiệm của phong trào đấu tranh
giải phóng dân tộc ở Ấn Độ………………………………………………….
C. KẾT LUẬN……………………………………………………………….
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………
1
A. MỞ ĐẦU
Thuộc địa là nhu cầu không thể thiếu của các nước thực dõn phương
Tõy trong quá trình phát triển của mình. Chớnh vì vậy, từ rất sớm các nước
lạc hậu ở Á, Phi, Mĩ latinh đã trở thành miếng mồi cho thực dõn phương
Tõy nhòm ngó. Bằng nhiều con đường và phương thức khác nhau mà các
nước phương Tõy đã lần lượt chinh phục và biến các nước Á, Phi, Mĩlatinh
thành nơi cung cấp nguyên liệu, nhõn công, và là thị trường tiêu thụ rộng lớn
của mình. Ấn Độ ở Chõu Á cũng vậy, là một quốc gia phong kiến lạc hậu,
rộng lớn, tài nguyên thiên nhiên phong phú đã trở thành miếng mồi của chủ
nghĩa thực dõn Tõy Ban Nha, Bồ Đào Nha , Pháp…và cuối cùng là Anh.
từng bước tiến hành cuộc chiến tranh ăn cướp trên bán đảo Ấn Độ.
2. Quá trình thực dân Anh xâm lược Ấn độ
Trước khi người Anh đặt chõn lên Ấn Độ thì vùng đất giàu có này đã
bị người Bồ Đào Nha xõm lược bởi vai trò tiên phong trong các cuộc phát
kiến địa lí. Bằng con đường đi mới, người Bồ đã đến Ấn Độ và tiến hành
hàng loạt các cuộc cướp bóc, thương mại ở Ấn Độ. Những hương liệu qúi
hiếm như hồi, quế, sa nhõn, ớt… được người Bồ đem về kiếm lói ở thị
trường Chõu Âu.
Nhưng từ cuối thế kỉ XVI đầu thế kỉ XVII trở đi, người Bồ Đào Nha
đã dần dần mất đi quyền ở Ấn Độ vì lúc này Hà Lan và Anh đã tiến vào con
đường tư bản chủ nghĩa vượt xa các nước Chõu Âu khác về trình độ phát
3
triển kinh tế và chớnh trị. Với mục tiêu cướp bóc để phục vụ cho quá trình
tích luỹ tư bản của mình mà người Hà Lan và người Anh đã xõy dựng cho
mình đội thương thuyền hùng mạnh đánh bại người Bồ và giành quyền
thống trị trên biển.
Để nô dịch được các nước lạc hậu nhưng giàu có, thực dõn phương
Tõy đã tiến hành xõm lược bằng phương thức đặt thương điếm rồi lập các
vùng đất thực dõn và tiến hành chinh phục bằng vũ lực cuối cùng là thiết lập
nền thống trị đế quốc. Chủ nghĩa thực dõn Anh và Pháp cũng không nằm
ngoài quỹ đạo này.
Từ cuối thế kỉ XVI, các kị sĩ chuyên cướp bóc thuộc địa của Anh đã
đến Ấn Độ. Để xõy dựng một tổ chức đi cướp bóc Ấn Độ, ngày 31 tháng
12 năm 1600, công ti Đông Ấn Độ của Anh đã ra đời. Trong suốt thế kỉ
XVII, Công ti Đông Ấn của Anh hoạt động ráo riết và thành lập được hệ
thống thương điếm ở những vị trí quan trọng ở bờ biển phớa Tõy và Đông
Ấn Độ.
Năm 1602, Công ty Đông Ấn của Hà Lan được thành lập.
Pháp là nước thực dõn đến Ấn Độ sau cùng, nhưng lại có tham vọng
lớn. Năm 1644, Công ty Đông Ấn của Pháp được thành lập, trung tõm của
năm 30 của thế kỉ XIX, chớnh phủ Anh đã dần khống chế công ti Đông Ấn
và đến cuối thế kỉ XIX thì nắm quyền cai trị trực tiếp Ấn Độ.
Sự thống trị của người Anh đã biến triều đại phong kiến Môgôn trở
thành bù nhìn và quyền lực thực tế nằm trong tay viên toàn quyền người
Anh.
Người Anh đã triệt để lợi dụng sự khác biệt về đẳng cấp, tôn giáo, và
các tiểu quốc để thực hiện chớnh sách “chia để trị”. Với chớnh sách dùng
người bản xứ đánh người bản xứ, thực dõn Anh đã chú trọng xõy dựng lực
lượng đội quõn người Ấn. Từ 1746, Anh đã thành lập đội quõn người bản xứ
5
Ấn độ đầu tiên và được gọi là “Xipay”. Năm1830, đội quõn này lên tới
225000 người.
Sau cuộc khởi nghĩa Xipay (1857- 1859), chớnh quyền Anh xoá bỏ
hoàn toàn triều đại phong kiến Môgôn, giải thể công ty Đông Ấn và trực tiếp
cai trị Ấn Độ. Thay mặt chính phủ là một phó vương người Anh với một
Hội đồng gồm 5 uỷ viên có chức năng như một chớnh phủ. Ngày 1.1.1874,
Nữ hoàng Anh tuyên bố đồng thời là nữ hoàng Ấn Độ. Như vậy, Ấn Độ
chớnh thức trở thành một bộ phận trong đế quốc Anh. Để ngăn chặn người
Ấn nổi dậy, thực dõn Anh cũng cho tổ chức lại quõn đội với thànhphần và
vai trò của người Anh trong quõn đội được tăng cường với tỉ lệ từ 1/6 lên
1/2 hoặc 1/3.
Về văn hoá, xã hội: Thực hiện nền văn hoá giáo dục ngu dõn nhằm
phục vụ cho công cuộc cai trị và bóp chết nền văn hoá dõn tộc Ấn Độ. Họ
mở một số trường trung học với tiêu chí là “cải cách giáo dục” nhưng thực
chất là để đào tạo đội ngũ tay sai. Chỉ một số ít con em nhà giàu theo học để
phục vụ cho chính quyền Anh cũn lại đa số người dõn Ấn Độ bị mù chữ.
Chớnh phủ Anh luôn duy trì sự phõn chia đẳng cấp để gõy mõu thuẫn
giữa các tầng lớp giai cấp ở Ấn Độ, khuyến khích những tập quán cổ xưa
phản động của tôn giáo Ấn Độ và tích cực truyền bá đạo Thiên Chúa vào
Ấn Độ. Tất cả mọi hành vi chống đối lại đạo Thiên Chúa đề bị đàn áp.
Trong công thương nghiệp: chớnh phủ Anh dùng mọi biện pháp để vơ
vét bóc lột nguyên liệu tiền của phục vụ cho nền công nghiệp Anh, biến Ấn
độ thành nơi tiêu thụ hàng hóa cho công nghiệp Anh. Nguyên liệu như tơ,
bông thô, lông cừu ở Ấn Độ nối nhau chảy về Anh giúp cho cuộc cách
mạng công nghiệp ở nước này, để rồi máy móc Anh lại biến nó thành vải
đưa trở lại Ấn Độ. Ngành dệt vải có tiếng của Ấn Độ đã bị bóp chết, hàng
vạn thợ thủ công bị phá sản.
Tài chính của Ấn Độ cũng hoàn toàn lệ thuộc Anh. Ngõn hàng Luõn
Đôn cho Chớnh phủ Anh ở Ấn Độ vay từ 4 triệu bảng lên 133 triệu trong
7
nửa sau thế kỉ XIX. Số tiền đó thực dõn Anh tập trung vào đầu tư ở các lĩnh
vực cơ sở hạ tầng, xí nghiệp chế biến… Năm 1848- 1849, Anh bắt đầu xõy
dựng hệ thống đường sắt và đường bộ. Xõy dựng nhà máy dệt ở Bom bay,
nhà máy đay ở Băng gan, ….Thực chất đõy không phải là Anh đầu tư phát
triển công nghiệp Ấn Độ mà mục đích chớnh là để tạo điều kiện vật chất
nhằm mở rộng khai thác nguồn tài nguyên giàu có của đất nước này.
Chớnh sách khai thác của thực dõn Anh đã làm cho xã hội Ân Độ có
chuyển biến mạnh mẽ. Đó là sự phõn hoá giai cấp trong xã hội ngày càng
sõu sắc, cơ cấu giai cấp thay đổi.
Bộ phận phong kiến cũ do chế độ Daminda của thực dõn Anh đã cam
tõm tình nguyện làm tay sai cho thực dõn Anh, là đồng minh và là chỗ dựa
cho chính quyền thực dõn. Nhưng trong số đó cũng có một số bộ phận
phong kiến do bị mất đất mất ruộng đã đứng dậy lónh đạo nhõn dõn đứng
lên chống thực dõn Anh.
Nông dõn là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Ấn Độ mõu thuẫn
sõu sắc với thực dõn Anh bởi bị bóc lột nặng nề đời sống điêu đứng. Họ
muốn lật đổ chế độ phong kiến, đánh đuổi thực dõn xõm lược.
Chớnh sách đầu tư vào lĩnh vực khai thác công nghiệp của tư bản Anh
đã dẫn đến đội ngũ công nhõn thuộc địa ngày càng đông đảo và sống tập
trung. Các nhà máy càng nhiều số công nhõn càng tăng. Đầu thế kỉ XX, Ấn
tranh vũ trang mà lực lượng tham gia chủ yếu là nông dõn, các bộ lạc và
tầng lớp phong kiến thất thế.
Những cuộc nổi dậy của nông dõn và phong kiến diễn ra sôi nổi và
quyết liệt vào năm 1807 ở Đêli, những năm 1813 và 1831 ở Bắc Xirờcara,
1817- 1818 ở Ôritxa, 1826- 1829 ở Maixo, 1846- 1847 ở Các nan, 1844 ở
Bombay…
Tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa Xipay (1857- 1859) đã diễn ra ở
nhiều nơi trên đất nước Ấn Độ. ĐẶc biệt là ở Mirut, Đêli, Canpua,
9
Lacnao…Đõy là cuộc khởi nghĩa mang tớnh toàn dõn chống thực dõn Anh
xõm lược, với qui mô lớn có tính quần chúng sõu rộng. Cuộc khởi nghĩa đã
phản ánh mõu thuẫn dõn tộc sõu sắc giữa nhõn dõn Ấn Độ với thực dân
Anh, giữa những người bị trị và kẻ thống trị. Cuộc khởi nghĩa mặc dù thất
bại nhưng đã khiến thực dõn Anh phải thay đổi chớnh sách thống trị ở mảnh
đất giàu có này là phế truất triều đại Môgôn, trực tiếp cai trị Ấn Độ.
Tiếp theo cuộc khởi nghĩa Xipay là cuộc “bạo loạn cõy chàm” nổ ra ở
Băng gan vào những năm 1859- 1962 nhằm chống thực dõn Anh cướp đất
trồng chàm. ….
Vào những năm 70, khởi nghĩa nông dõn bùng nổ ở Băng gan,
Maharastra…nhưng tất cả các cuộc khởi nghĩa đều bị thất bại. Nguyên nhõn
thất bại là do các cuộc khởi nghĩa đều mang tớnh tự phát, thiếu tổ chức chặt
chẽ, thiếu đường lối cách mạng phù hợp để lónh đạo quần chúng đấu tranh
cho nên các phong trào đều chịu một kết cục chung là bị đàn áp đẫm mỏu và
thất bại. Yêu cầu lịch sử dõn tộc đặt ra cho nhõn dõn Ấn Độ, cho các giai
cấp tiên tiến là phải lựa chọn con đường đi đúng đắn, phải có đường lối cách
mạng phù hợp để phong trào đi đến thắng lợi.
2. Phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân Ấn Độ từ 1858 đến
1950.
2.1. Sự ra đời của Đảng Quốc Đại 1885.
Phong trào tư sản dõn tộc Ấn Độ ra đời từ những năm 70 của thế kỉ
Hai mươi năm sau, Đảng mới bắt đầu nói được tiếng nói riêng của
mình. Quá trình này gắn với quá trình trưởng thành của giai cấp tư sản Ấn
Độ.
Trong một thời gian dài, Đảng Quốc đại chưa xác định được phương
hướng đấu tranh. Phải đến năm 1908, Đảng mới đề ra tự trị là mục tiêu đấu
tranh cao nhất của Đảng. Đấu tranh tự trị nghĩa là đấu tranh để mở rộng sự
tham gia của người Ấn Độ vào bộ máy chớnh quyền. Một trong những mốc
quan trọng trong sự phát triển của phong trào dõn tộc Ấn Độ là công ước
11
Lucnow (1916), nó thể hiện bước ngoặt của Đảng Quốc đại: đưa mục tiêu
quyền tự trị vào lời tuyên bố với thực dõn Anh. Đảng Quốc đại yêu cầu phải
tăng số đại biểu trong chính quyền, trong đó tăng số đại biểu là người bình
dõn. Như vậy, Đảng đã xác định được phương hướng đấu tranh cụ thể hơn.
Từ năm 1917 đến năm 1920, Đảng Quốc đại bắt đầu có sự chuyển
biến lớn nhất là khi Ganđi gia nhập Đảng (1919). Một năm sau ông trở thành
người lónh đạo Đảng, tạo ra một dấu ấn lớn mà ngời ta gọilà Đảng Quốc Đại
của Gan đi. J. Nờru đã đánh giá sự xuất hiện của Ganđi “Gan đi tới không
khác gì một luồng gió mát mẻ, mạnh mẽ khiến chúng ta tự phơi mình ra và
hít thở thật sõu. Ông như một chùm ánh sáng chọc thủng màn đêm va lật đổ
những gì che mắt chúng ta…Ông không đi từ đỉnh cao xuống, hình như ông
nổi lên từ trong hàng triệu người của Ấn Độ…”[5;109]. Khi Gan đi trở thành
thành viên của Đảng, ông thay đổi cơ cấu đảng, đưa Đảng này trở thànhmột
tổ chức quần chúng dõn chủ. Xuất phát từ những đặc điểm của dõn tộc, Gan
đi đã định ra đường lối đấu tranh cách mạng thích hợp. Ông phấn đấu cho sự
đoàn kếtdõn tộc, đấu tranh không khoan nhượng với thực dõn Anh nhưng
bằng phương pháp cách mạng độc đáo dựa trên hai nguyên tắc “Ahimsa” và
“Satyagraha”. Với hai nguyên tắc này ông đã xõy dựng lên đường lối của
mình. Sau này người học trò của ông là J.Nờru đa lónh đạo phong trào quần
chỳngđấu tranh đòi độc lậpdõn tộc trên cơ sở đường lối đó. Chủ nghĩa Ganđi
là sản phẩm của sự kết hợp những truyền thống văn hoá dõn tộc với quyền
các tôn giáo này có điểm chung là tư tưởng cầu an, hoà bình, bất bạo động,
chống phát sinh. Do đó người Ấn Độ dễ dàng chấp nhận tư tưởng của Gan
đi. Về lịch sử, Ấn Độ là “đế quốc hướng nội” đã chịu nhiều cuộc xõm lăng
từ bên ngoài, nhưng người Ấn luôn chiến thắng bởi đặc điểm “thu hút vào
vòng ôm của họ” [1; 223] những khác biệt để tạo nên sự thống nhất trong đa
dạng. Trong lịch sử, Ấn Độ gồm nhiều tiểu quốc cuối cùng cũng thống nhất
thành một quốc gia rộng lớn. Khi bị thực dõn Anh xõm lược thống trị thì
Anh lại là một đế quốc mạnh đứng hàng đầu trong số các nước đế quốc và
13
chính sách cai trị của Anh ở thuộc địa khác rất nhiều với các đế quốc khác.
Anh cho người của mình tham gia cai trị đến từng thôn xúm, quõn đội được
tổ chức theo kiểu 1/3 hoặc ẵ cứ 2 hoặc 3 lớnh Ấn Độ thì có một lớnh Anh…
Chính vì vậy mà ở Ấn Độ khó có thể diễn ra một cuộc khởi nghĩa vũ trang
như ở Trung Quốc hay Việt Nam.
Về tương quan lực lượng cũng có nét khác so với ở Việt Nam và
Trung Quốc. Đó là sự non yếu của giai cấp vô sản Ấn Độ. Bộ phận giai cấp
vô sản công nghiệp cũn thấp về chất lượng và số lượng. Đảng cộng sản
thành lập muộn (1933), nhưng sau 10 năm thành lập mới tiến hành đại hội
Đảng lần thứ nhất trong khi đó giai cấp tư sản Ấn Độ ra đời sớm, có chớnh
đảng sớm, trở thành một lực lượng xã hội khá mạnh. Bộ phận đại tư sản vừa
có mối quan hệ kinh tế với chính quốc, vừa có mối quan hệ chặt chẽ dõn tộc
Ấn Độ. Chớnh vì thế giai cấp tư sản dễ dàng chấp nhận đường lối đấu tranh
của Ganđi- một con đường đấu tranh có lợi cho họ. Và họ cũng sẵn sàng huy
động quần chúng nhõn dõn khi cần thiết nhưng luôn luôn giữ phong trào đấu
tranh “bất bạo động” để duy trì quan hệ với chớnh quyền Anh. Đường lối
đấu tranh hoà bình nghị viện là hình thức đấu tranh chủ yếu mà Đảng Quốc
đại duy trì suốt cho tới khi giành độc lập.
Chớnh vì giai cấp tư sản là lực lượng lónh đạo cho nên quan tõm chủ
yếu của họ là quyền lợi của giai cấp tư sản mà không quan tõm tới quyền lợi
của các giai cấp khác. Nó chủ yếu làm nhiệm vụ giải phóng dõn tộc chứ
hai nội dung cơ bản: thứ nhất là sự mở rộng các quyền chớnh trị của người
Hồi giáo, thứ hai là việc trao cho Ấn Độ quyền tự trị trong phạm vi đế quốc
Anh sau khi chiến tranh kết thúc.
Từ năm 1917, phong trào cách mạng thế giới ngày càng lên cao, tháng
10- 1917, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới đã diễn ra
và thắng lợi ở nước Nga. Tuy nhiên, trong những năm này tác động của cách
mạng Tháng Mười đối với Ấn Độ cũn ở mức độ nhất định bởi giai cấp vô
sản Ấn Độ lúc nàyđang lớn lên, không có tổ chức và yếu thế, số lượng của
15
giai cấp vô sản lúc này không đủ tạo nên sự khác biệt trong ý thức chớnh trị
Ấn Độ.
Chiến tranh thế giới thứ nhất đã đẩy nhõn dõn Ấn Độ vào cảnh cùng
cực, 12 triệu người dõn Ấn Độ bị chết đói trong khi sản phẩm làm ra lại
phải phục vụ cho quõn đội Anh. Mặt khác chiến tranh cũng tạo điều kiện
cho sự phát triển của tư sản Ấn Độ bởi những đơn đặt hàng của Anh để
phục vụ cho chiến tranh. Các trung tõm công nghiệp mọc lên và theo đó số
lượng giai cấp vô sản cũng tăng nhanh.
Sau khi chiến tranh kết thúc, thực dõn Anh đã phản bội lại lời hứa của
mình bằng cách đưa ra cải cách Môngtagu- Sennơpho với chế độ “lưỡng
quyền song tồn”. Nội dung chủ yếu của cải cách này là tăng thêm số thành
viên người Ấn Độ vào Hội đồng nhà nước và đổi Hội nghị lập pháp thành
chế độ hai viện. Trên thực tế quyền lập pháp vẫn nằm trong tay viên toàn
quyền Anh cũn chế độ hai viện chỉ là cơ quan tư vấn. Điều này có nghĩa là
địa vị chớnh trị của Ấn Độ vẫn không có gì thay đổi.
Trước sự phản bội của thực dõn Anh phong trào đấu tranh đòi quyền
tự trị ngày càng bùng lên mạnh mẽ. Trước tình hình đó nhà cầm quyền Anh
đã công bố đạo luật Raolat (Rowlatt) vào tháng 3 năm 1919 trong đó quy
định quyền khám xét bắt bớ của chính quyền Anh đối với bất kì người Ấn
Độ nào bị nghi ngờ là chống chính quyền.
Đạo luật Raolat đã như lửa đổ thêm dầu dẫn đến phong trào quần
đường lối “bất hợp tác trong bất bạo động” để đảm bảo vị trí lónh đạo của
mình. Cương lĩnh Napua (1920) của Đảng được đề ra là: “Đấu tranh cho nền
tự trị trong thành phần đế quốc bằng các biện pháp hoà bình và hợp pháp”.
Bộ máy lónh đạo của Đảng cũng được củng cố và kiện toàn.
Cuộc vận động bất hợp tác được triển khai trong toàn quốc với những
đoàn nghĩa dũng tình nguyện, quần chúng đấu tranh sôi nổi.
17
Phong trào đấu tranh trong những năm 1923- 1928 đã giảm sút mạnh,
uy tín của Đảng Quốc đại bị giảm sút nhưng thực tế đõy chớnh là thời kì
chuẩn bị lực lượng cho cuộc đấu tranh mới.
2.2.2. Quá trình đấu tranh đòi độc lập (Purna Swaraj)
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929- 1933 đa tác động mạnh mẽ
đến Ấn Độ. Nền kinh tế Ấn Độ lao đao trong cuộc khủng hoảng: một mặt
làm cho đời sống nhõn dõn Ấn Độ trở nên khổ cực, bấp bênh, công nhõn bị
sa thải khỏi nhà máy, giá nguyên liệu giảm. Mặt khác khủng hoảng cũng làm
cho mõu thuẫn giữa tư bản Anh và Ấn tăng lên. Mõu thuẫn giữa dõn tộc Ấn
với đế quốc Anh càng trở nên sõu sắc và nó đã tạo ra phong trào đấu tranh
sôi nổi trong giai đoạn 1929- 1939.
Trong nội bộ Đảng Quốc Đại lúc này cũng xuất hiện nhúm “Swaraj”
với những chủ trương của nhúm Cực đoan dùng các biện pháp đấu tranh
nghị trường, tham gia ứng cử hội đồng lập pháp địa phương để tiến tới mục
tiêu tự trị. Nhúm tả do J. Nờru đứng đầu gồm những đảng viên trẻ tuổi chủ
trương đẩy mạnh những hoạt động chớnh trị trong và ngoài nước, liờn hệ và
tỡm ra sự ủng hộ của các tổ chức quốc tế trong phong trào đấu tranh giải
phóng dõn tộc chống đế quốc trên thế giới. Mục tiêu của nhóm này đề ra là
“độc lập hoàn toàn” (Purna Swaraj). Đại hội Lahor (1929) đã bầu J. Nờru
làm chủ tịch đảng và nêu cao khẩu hiệu “Purna Swaraj”. Sự chuyển biến này
của Đảng Quốc đại đánh dấu bước tiến mới của phong trào đòi độc lập Ấn
Độ đồng thời nó cũng là lí do của sự phát triển phong trào trong giai đoạn từ
1929- 1939.
trong và ngoài nước. Theo Găng đi, hàng chục vạn dõn chúng Ấn Độ đã ra
bờ biển lấy muối, tự do bán muối một cách công khai khắp nơi bất chấp luật
độc quyền muối của nhà nước. Ảnh hưởng và uy tín của Găng đi cũng như
Đảng Quốc đại càng lên cao trong quần chúng.
Tiếp đó, tháng 4- 1930, phong trào “bất hợp tác” được Găng đi chính
thức phát động với mục tiêu:
19
Không tuõn theo điều lệ về việc giữ độc quyền muối
Tẩy chay hàng vải ngoại hoá
Tổ chức các đội kiểm soát việc mua bán vải vóc ở các cửa hàng
Kiểm soát sự lui tới ở các quán rượu và tiệm hút
Bói bỏ sự đối xử bất công với những hạng người hốn hạ
Tổ chức biểu tình chống đế quốc Anh và các cuộc bói công, bói khoá
của công nhõn, học sinh, sinh viên và viên chức.
Sự tham gia đông đảo của quần chúngnhõn dõn vào phong trào đã làm
cho thực dân Anh lo sợ. Vì thế, 5- 1930, chúng ra lệnh bắt Găng đi, ra lệnh
đặt mọi tổ chưc, đảng phái chính trị trong đó có cả Đảng Quốc đại ra ngoài
vòng pháp luật, tiến hành bắt bớ, giam cầm hàng vạn người yêu nước. Chỉ
trong năm 1930, có 60.000 người bị bắt trong đó chủ yếu là các lónh tụ của
Đảng Quốc đại, lónh tụ các đảng phái và các tổ chức quần chúng khác.
Sự đàn áp của thực dân Anh càng làm cho phong trào quần chúng trở
nên sôi động, mạnh mẽ trong cả nước. Tiêu biểu là các cuộc đấu tranh vũ
trang của nhõn dõn vùng Sôlapua, Petsava, các cuộc bói công ở Bombay,
Băng gan, Pengiáp, Madrat, nông dân vùng Tõy Bắc Trong các cuộc đấu
tranh này, các tầng lớp nhõn dõn đã hình thành một cách tự nhiên mặt trận
dõn tộc thống nhất chống đế quốc Anh. Các đẳng cấp xã hội, tôn giáo đã thể
hiện tình đoàn kết đấu tranh, tuy nhiên nó hoàn toàn tự phát, thiếu sự lónh
đạo nên đều thất bại.
Trước phong trào quần chúng, thực dõn Anh vội vã thả Găng đi và
nhiều lónh tụ khác của Đảng Quốc đại (26-1- 1931). Ngày 5- 3- 1931, Găng
pháp tổ chức ngày 7- 2- 1935. Hầu hết các đảng phái chính trị và tổ chức
quần chúng yêu nước đều tham gia cuộc mit tinh này.
Phong trào đấu tranh những năm 1929- 1939 mang tớnh chất quần
chúng và trình độ tổ chức ngày càng cao hơn. Trong phong trào Mặt trận
thống nhất đã hình thành.
21
Phong trào không cũn dừng lại ở mục tiêu “Swaraj” mà tiến đến
“Purna Swaraj”. Tuy nhiên trong thực tế đấu tranh, quyền tự trị (Swaraj) vẫn
được đưa ra làm mục tiêu.
Cuộc đấu tranh của nhõn dõn Ấn Độ bước đầu gắn bó với phong trào
cách mạng trên thế giới, nhõn dõn Ấn tuyên bố chống chiến tranh, chống
chủ nghĩa phát xít, ủng hộ cách mạng Trung Quốc, ủng hộ nhõn dõn Tõy
Ban Nha
Tháng 9- 1939, khi Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, Anh đưa quõn
sang Ấn Độ và tự ý tuyên bố “Ấn độ là một nước tham chiến”. Nhõn dõn
Ấn chuyển sang đấu tranh trong điều kiện mới. Cuộc đấu tranh đòi độc lập
trong những năm 1939- 1945 nổ ra trong điều kiện Chiến tranh thế giới thứ
hai. Quyếtđịnh độc đoán của Chớnh phủ Anh về việc tham chiến của Ấn Độ
đã gõy ra một làn sóng phản đối trong nhõn dõn Âns Độ. Toàn quốc nơi
đõu cũng đòi thành lập Chính phủ Quốc gia Ấn Độ nhưng đế quốc Anh
không chịu nhượng bộ, cố duy trì Ấn Độ ở tình trạng một nước thuộc địa.
Tình hình chớnh trị Ấn Độ trở nên hết sức căng thẳng. Đời sống nhõn
dõn Ấn Độ. Do bọn đế quốc vơ vét hết lương thực để c ung cấp cho mặt
trận nên nạn đói hoành hành nhiều nơi trong nước. Chỉ riêng vùng Băng gan
đã có gần 4 triệu người chết đói. Mặt khác, cũng như trước kia, nhờ chiến
tranh mà tư sản Ấn Độ càng được dịp lớn mạnh.
Để làm suy yếu phong trào đũiđộc lập của nhõn dõn Ấn Độ, đế quốc
Anh tăng cường chính sách gõy thù hằn giữa người Ấn và người Hồi- một
biện pháp cổ truyền trong chính sách cai trị của chúng. Năm 1940, các lónh
tụ liên đoàn Hồi giáo đòi chia cắt Ấn Độ ra làm hai nước: nước Pakixtan
trở nên gay gắt và sõu rộng chưa từng thấy. Giai cấp công nhõn, tầng lớp
tiểu tư sản thành thị và thanh niên học sinh tham gia đấu tranh rất hăng hái.
Phong trào nông dõn cũng diễn ra sôinổi, đặc biệt ở Băng gan, khu liên tỉnh,
miền trung lưu sông Hằng, ở Biha, Pengiáp và các vùng miền Nam Ấn.
23
Cuộc đấu tranh lớn nhất trong thời kì này là cuộc binh biến của các
thuỷ thủ hải quõn Ấn Độ nổ ra đầu tiên ở Bombay (19- 2- 1946). Do chính
sách ngược đãi và khinh miệt chủng tộc của bọn sĩ quan Anh đối với thuỷ
thủ Ấn Độ, thể hiện trong việc đối xử bất bình đẳng giữa thuỷ thủ người
Anh và thuỷ thủ người Ấn về chế độ lương bổng cũng như về điều kiện làm
việc, thuỷ thủ người Ấn đã nhiều lần gửi kiến nghị cho bọn chỉ huy đòi cải
thiện chế độlàm việc nhưng đều không có kết quả. Vì vậy, họ liền bầu ra
một uỷ ban đỡnh công và ngày 19- 2- 1946, thuỷ thủ cảng Bom bay đã đi
đầu trong cuộc đỡnh công. Lập tức, thuỷ thủ ở các hải cảng khác ở Ấn Độ
cũng như đông đảo công nhõn các bến tàu nhiệt liệt hưởng ứng. Trước tình
hình đó thực dân Anh đã định đàn áp bằng vũ lực, do vậy các thuỷ thủ đình
công đã nổi dậy khởi nghĩa vũ trang ngày 21 – 2- 1946. Toàn thể công nhõn
thành phố Bombay liền hưởng ứng cuộc đấu tranh của những người thuỷ thủ
bằng một cuộc tổng bói công của 20 vạn công nhõn viên chức và học sinh.
Trên nhiều đường phố Bombay, những người biểu tình đã đặt chướng ngại
vật va dựng lên những hàng rào chiến đấu để đối phó với quõn đội và cảnh
binh. Cuộc bói công chẳng mấy chốc đã lan rộng đến các thành phố lớn
khác, thậm chí phong trào đấu tranh đa bắt đầu thõm nhập vào quõnđội các
ngành hàng không, hải quõn ở Cancútta, Mađrat, Đêli
Hoảng sợ trước nguy cơ của một sự sụp đổ toàn diện, thực dõn Anh
vội điều quõn từ khắp các địa phương về đàn áp. Gần 300 người bị giết,
1.700 người bị thương. Sự đàn áp dã man của thực dõn Anh làm cho ngày
21-2 hàng năm được nhõn loại tiến bộ chọn làm ngày Quốc tế đấu tranh
chống chủ nghĩa thực dõn. Thực dõn Anh cũn gõy sức ép với một số lónh tụ
đảng Quốc đại đến thuyết phục các thuỷ thủ Bombay đầu hàng. Tuy nhiên, ở
tất cả các nước chõu Á khác”. Chớnh phủ công đảng của Anh phải nhượng
bộ. Thực dõn Anh không thể đối phó với phong trào bằng những phương
thức cũ được nữa.
25