Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Chính sách “Một nước hai chế độ” trong quá trình đấu tranh thống nhất Đài Loan của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa." potx - Pdf 19

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007 47
Chính sách Một nớc hai chế độ
trong quá trình đấu tranh thống nhất Đài Loan của
Cộng hoà nhân dân Trung Hoa

Phạm Ngọc Tân
(a)
, Hắc Xuân Cảnh
(b)Tóm tắt. Bài viết tập trung phân tích bối cảnh lịch sử, quá trình hình thành, nội
dung cơ bản của chính sách Một nớc hai chế độ và việc vận dụng chính sách đó
vào qúa trình đấu tranh thống nhất Đài Loan của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa
(CHNDTH). Từ thực tế lịch sử, bài viết đã làm rõ ý nghĩa tích cực, cũng nh những
thách thức đặt ra đối với việc vận dụng chính sách Một nớc hai chế độ trong quá
trình đấu tranh thống nhất Đài Loan của CHNDTH.

1. Bối cảnh của sự ra đời chính
sách Một nớc hai chế độ
Một quốc gia, hai loại chế độ (gọi
tắt là Một nớc hai chế độ), là quốc
sách cơ bản của CHNDTH trong qúa
trình đấu tranh thống nhất đất nớc.
Đó chính là lý luận sáng tạo đợc Đặng

thực hiện biện pháp tôi không thanh
toán anh, anh cũng không thanh toán
tôi, hai bên đều có thể tiếp nhận, hai bờ
eo biển gác sang một bên sự khác biệt,
thống nhất trong một quốc gia. Còn chế
độ xã hội, lối sống và quan niệm giá trị
mỗi bên thì cứ giữ, anh theo Chủ nghĩa
Tam Dân, tôi theo CNXH, không ép
nhau phải nhất trí. Nh vậy thì sự trở
ngại cho thống nhất có thể gạt bỏ, hai
bên có thể ngồi lại đàm phán với nhau
[5; tr 450-451]. Đó chính là cơ sở ban
đầu của chính sách Một nớc hai chế
độ. Thứ hai, xuất phát từ sự thay đổi

Nhận bài ngày 1/12/2006. Sửa chữa xong 25/12/2006.

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007 48

của tình hình TQ vào cuối thập kỷ 70
của thế kỷ XX. Tháng 12-1978, Hội
nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung
ơng ĐCSTQ khoá XI, đã quyết định
đa TQ đi theo con đờng cải cách, mở

chút, gác sang một bên sự tranh chấp
về chế độ, trớc hết nắm điều chủ yếu
là thống nhất đất nớc[5; tr 450]. Đó
chính là cơ sở lý luận quan trọng cho
việc hình thành chính sách Một nớc
hai chế độ.
Ngoài ra, việc Liên Hợp Quốc khôi
phục quyền đại diện hợp pháp của
CHNDTH vào năm 1971 đã tạo cơ sở
pháp lý quốc tế cho nguyên tắc một
Trung Quốc của CHNDTH. Đó là một
trong những yếu tố quan trọng nhất
trong việc biến những ý tởng về
thống nhất nhng không loại trừ khác
biệt của các nhà lãnh đạo CHNDTH có
cơ sở thực hiện. Đồng thời, đó cũng
chính là cơ sở cho sự ra đời và tồn tại
của chính sách Một nớc hai chế độ
của CHNDTH.
Nói tóm lại, chính sách Một nớc
hai chế độ đã đợc hình thành trong
bối cảnh lịch sử có nhiều chuyển biến
quan trọng. Sự chuyển biến của tình
hình TQ cũng nh trên thế giới đã
cung cấp những cơ sở lý luận và thực
tiễn cho các nhà lãnh đạo CHNDTH
khái quát thành lý luận sáng tạo trong
sự nghiệp thống nhất đất nớc.
2. Quá trình hình thành và nội
dung cơ bản của chính sách Một

Loan tất yếu phải thống nhất vào TQ.
Bốn điều là: 1. Sau khi Đài Loan
thống nhất vào TQ, trừ công việc ngoại
giao phải sáp nhập vào Trung ơng,
còn đại quyền quân chính, sắp xếp
nhân sự đều do Tởng Giới Thạch lo
liệu; 2. Tất cả chi phí về việc quân
chính, xây dựng kinh tế nếu thiếu sẽ
đợc Trung ơng bổ sung; 3. Việc cải
cách xã hội Đài Loan có thể tạm hoãn,
chờ cho tới điều kiện chín muồi ; 4.
Hai bên sẽ không phái gián điệp tới
đất đai của nhau và không có hành
động phá hoại đoàn kết của nhau[10;
tr 18].
Có thể nói, mặc dù cha nêu lên
đợc khái niệm Một nớc hai chế độ
và cũng cha xây dựng đợc thành
phơng châm để thống nhất đất nớc,
nhng những kiến nghị nói trên là
những ý tởng ban đầu về Một nớc
hai chế độ. Đó chính là tiền đề quan
trọng để các nhà lãnh đạo CHNDTH
sau này khái quát thành lý luận mang
tính sáng tạo và xây dựng thành
phơng châm để thống nhất đất nớc.
- Giai đoạn từ cuối năm 1978
đến tháng 8-1981: Đây là giai đoạn đề
ra và xác lập ý tởng ban đầu về Một
nớc hai chế độ.

CHNDTH coi ý tởng Một nớc hai
chế độ là một trong những giải pháp
để thực hiện thống nhất đất nớc, cho
thấy t tởng Một nớc hai chế độ đã
đợc xác lập.
- Giai đoạn từ tháng 9-1981 đến
1984: Đây là giai đoạn hình thành
chính sách Một nớc hai chế độ.
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007 50

Sau khi ý tởng Một nớc hai chế
độ đợc xác lập, các nhà lãnh đạo
CHNDTH đã vận dụng ý tởng đó vào
qúa trình thống nhất đất nớc. Trong
bài phát biểu với các phóng viên của
Tân Hoa xã ngày 30-9-1981, Chủ tịch
Uỷ ban thờng trực Quốc hội TQ Diệp
Kiếm Anh đã nêu lên phơng châm 9
điều của TQ trong việc giải quyết vấn
đề Đài Loan. Nội dung phơng châm 9
điều là: 1. Để sớm kết thúc cục diện
chia cắt Trung Hoa, tôi kiến nghị cuộc
đàm phán giữa hai đảng, thực hiện hợp
tác lần thứ 3; 2. Nhân dân các dân

Ngày 10-1-1982, trong khi trả lời
một vị khách nớc ngoài, Đặng Tiểu
Bình đã chỉ rõ, phơng châm 9 điều mà
Diệp Kiếm Anh đã nêu thực chất là
chính sách Một quốc gia, hai loại chế
độ (sau này đợc gọi tắt là Một nớc
hai chế độ). Đó là lần đầu tiên khái
niệm Một nớc hai chế độ đợc nêu
lên. Từ đây, t tởng Một nớc hai chế
độ bắt đầu đợc xây dựng thành lý
luận và trở thành phơng châm, chính
sách của CHNDTH trong việc thực
hiện thống nhất đất nớc.
Tháng 9-1982, trong cuộc hội kiến
với Thủ tớng Anh That-cher, Đặng
Tiểu Bình đã nêu lên quan điểm của
TQ trong việc áp dụng chính sách Một
nớc hai chế độ để thu hồi Hồng Công.
Điều 31 Hiến pháp 1982 của nớc
CHNDTH cũng đã quy định những nội
dung cơ bản của chính sách Một nớc
hai chế độ. Điều đó cho thấy, chính
sách Một nớc hai chế độ đã trở nên
thành thục [4; tr 65].
- Giai đoạn từ 1984 đến nay: Đây
là giai đoạn áp dụng lý luận vào thực
tiễn và không ngừng bổ sung, hoàn
thiện chính sách Một nớc hai chế độ.
Tháng 5-1984, t tởng Một nớc
hai chế độ đã đợc trình bày trong

Cao cũng đợc thông qua. Điều đó
đánh dấu qúa trình pháp chế hoá chính
sách Một nớc hai chế độ về cơ bản
đã hoàn thành.
Sau khi hoàn thành về cơ bản qúa
trình xây dựng và pháp chế hoá chính
sách Một nớc hai chế độ, Chính phủ
CHNDTH đã vận dụng chính sách đó
để thu hồi Hồng Công và Ma Cao. Ngày
1-7-1997, TQ đã thành công trong việc
thu hồi chủ quyền đối với Hồng Công.
Ngày 20-12-1999, Ma Cao cũng trở về
với TQ bằng phơng thức Một nớc
hai chế độ, đánh dấu sự thành công
của chính sách này.
Sau gần 10 năm áp dụng chính
sách Một nớc hai chế độ vào thực tế,
chính sách này ngày càng chứng tỏ sức
sống và tính sáng tạo của nó. Hiện nay
Một nớc hai chế độ vẫn là phơng
châm chỉ đạo cao nhất để thống nhất
Đài Loan của CHNDTH và nó đang
hứa hẹn thành công mới trên con
đờng hoàn thành sự nghiệp thống
nhất đất nớc của TQ.
2.2. Nội dung cơ bản của chính sách
Một nớc hai chế độ
Có thể nói, Một nớc hai chế độ là
lý luận quan trọng, là t tởng khoa
học có nội dung phong phú. Trong đó,

tr 66].
Hai là, chủ thể của Một nớc hai
chế độ chính là CNXH. Ngoài việc
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007 52

tuân thủ nguyên tắc chỉ có một TQ, thì
nội dung cơ bản của chính sách Một
nớc hai chế độ đã khẳng định chủ thể
của hai chế độ là CNXH. Đặng Tiểu
Bình đã nhấn mạnh Một nớc hai chế
độ, ngoài CNTB còn có CNXH là chủ
thể của TQ, vùng rộng lớn hơn 1 tỉ dân
vững vàng xây dựng CNXH. Đó là một
tiền đề. Không có tiền đề đó thì không
đợc. Dới tiền đề đó, có thể cho phép
thực hiện CNTB trong khu vực nhỏ và
phạm vi nhỏ ngay bên cạnh mình[5; tr
457].
Ba là, hai chế độ trong chính sách
Một nớc hai chế độ là chỉ sự cùng
tồn tại và phát triển của hai loại chế độ
xã hội khác nhau ở TQ. Sự tồn tại của
hai chế độ còn đợc thể hiện đó là,
sau khi thống nhất, tất cả các phơng

đã không đợc thực hiện. Nguyên nhân
là do sự khác nhau về lập trờng và
quan điểm giữa ĐCS và QDĐ về vấn đề
thống nhất TQ. Vì vậy, trớc sự chuyển
biến của tình hình quốc tế và trong
nớc, thế hệ lãnh đạo thứ hai của TQ
đã cố gắng tìm giải pháp nhằm loại trừ
sự khác biệt đó.
Sau khi ý tởng Một nớc hai chế
độ về cơ bản đợc xác lập, CHNDTH
đã đa ra những động thái nhằm vận
dụng ý tởng đó vào thống nhất Đài
Loan. Tháng 10-1978, Đặng Tiểu Bình
đã chỉ rõ: Trong việc giải quyết vấn
đề Đài Loan, chúng tôi sẽ tôn trọng
hiện thực của Đài Loan đầu t của
Mỹ và Nhật vào Đài Loan, phơng thức
sinh hoạt của bên đó có thể không động
đến, nhng phải thống nhất[2; tr 171].
Đó chính là bớc đầu của chính sách
Một nớc hai chế độ đợc ĐCSTQ xây
dựng thành phơng châm thống nhất
Đài Loan.
Ngày 1-1-1979, Uỷ ban thờng vụ
Quốc hội TQ đã công bố Th gửi đồng
bào Đài Loan, chỉ rõ, khi giải quyết
vấn đề Đài Loan, tôn trọng hiện trạng
Đài Loan và ý kiến nhân sĩ các giới,
không làm cho Đài Loan thiệt hại[1;
tr 4]. Cùng ngày hôm đó, Ban thờng

đó là: Sau khi thống nhất, Đài Loan
trở thành khu hành chính đặc biệt, có
thể thực hiện chế độ khác với Đại lục;
Đài Loan còn có quân đội riêng, nhng
không đợc tạo sự đe doạ đối với Đại
lục; Đại lục không cử ngời đến Đài
Loan, các hệ thống đảng, chính quyền,
quân đội của Đài Loan đều do Đài
Loan tự quản lý; Chính phủ Trung
ơng còn để dành ghế cho Đài Loan;
Hy vọng nhà đơng cục Đài Loan
nghiên cứu tỉ mỉ ý kiến của chúng tôi
để xoá bỏ hiểu lầm[1; tr 4].
Sau khi Đặng Tiểu Bình và Diệp
Kiếm Anh đa ra những ý kiến về việc
áp dụng chính sách Một nớc hai chế
độ để thống nhất Đài Loan, các nhà
lãnh đạo TQ đã nhiều lần nhắc lại và
xem đó là chủ trơng cơ bản của TQ
trong qúa trình đấu tranh thống nhất
Đài Loan. Tháng 5-1984, kỳ họp thứ
hai khoá VI Đại hội đại biểu nhân dân
TQ đã nhất trí thông qua việc áp dụng
chính sách Một nớc hai chế độ trong
quá trình đấu tranh thống nhất Đài
Loan. Từ đó, về cơ bản đã hình thành
nên phơng châm Hoà bình thống
nhất, Một nớc hai chế độ trong đấu
tranh thống nhất Đài Loan của
CHNDTH.


Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007 54

điểm, hay Tám điểm của Giang. Đó
chính là sự thể hiện lập trờng của
CHNDTH trong việc thực hiện thống
nhất Đài Loan bằng con đờng hoà
bình. Từ đó đến nay, Chủ trơng tám
điểm là phơng châm chỉ đạo cao nhất
để thực hiện hoà bình thống nhất Đài
Loan.
Bên cạnh đó, việc vận dụng chính
sách Một nớc hai chế độ để thống
nhất Đài Loan bằng con đờng hoà
bình cũng đã đợc các Đại hội của
ĐCSTQ thảo luận và thông qua. Đại
hội XVI ĐCSTQ (11-2002), khẳng định:
Chúng ta kiên trì phơng châm cơ
bản Hoà bình thống nhất, Một nớc
hai chế độ và Chủ trơng 8 điểm,
phát triển quan hệ hai bờ, thúc đẩy tiến
trình hoà bình thống nhất Tổ quốc, kiên
quyết phản đối các thế lực chia rẽ Đài
Loan [8; tr 77-78].
Hiện nay, thế hệ lãnh đạo thứ t
của TQ do Hồ Cẩm Đào làm hạt nhân
vẫn kiên trì chủ trơng hoà bình thống

nêu lên đã không đợc thực hiện. Điều
đó đã khiến cho thế hệ lãnh đạo thứ
hai của TQ phải trăn trở tìm ra giải
pháp để loại trừ sự khác biệt đó. Trong
bối cảnh đó chính sách Một nớc hai
chế độ đã trở thành một giải pháp
quan trọng. Thực tế cho thấy, thực
hiện chính sách Một nớc hai chế độ,
nghĩa là thống nhất nhng không loại
trừ khác biệt đã làm giảm mâu thuẫn
trong lập trờng thống nhất của hai
bên. Hai bờ eo biển có thể đàm phán
để thống nhất nhng vẫn có thể giữ
nguyên chế độ chính trị của mình.
Hai là, chính sách Một nớc hai
chế độ đã trở thành cơ sở quan trọng
của chủ trơng Hoà bình thống nhất,
Một nớc hai chế độ. Trong suốt một
thời gian dài cả ĐCSTQ và QDĐ đều
muốn có sự thống nhất giữa Đài Loan
và Đại lục, tuy nhiên bên nào cũng
muốn thống nhất dới sự lãnh đạo của
mình. Điều đó đã làm cho hai bên
không thể tiến hành đàm phán và
mong muốn thống nhất Đài Loan bằng
con đờng hoà bình cũng không có cơ
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007

bên ngoài hòng can thiệp vào Đài
Loan. Chính sách Một nớc hai chế
độ đã khẳng định sự toàn vẹn về lãnh
thổ của TQ và chủ quyền của TQ đối
với Đài Loan, điều đó khiến cho các
thế lực bên ngoài không còn lý do để
quốc tế hoá vấn đề Đài Loan và can
thiệp vào công việc nội bộ của TQ.
Cho đến nay, Một nớc hai chế độ
vẫn là một giải pháp chính trị hữu
hiệu nhất cho công cuộc thống nhất
Đài Loan của CHNDTH. Trớc chính
sách đòi Đài Loan độc lập của chính
quyền Trần Thuỷ Biển, việc kiên trì
nguyên tắc một TQ và phơng châm
Một nớc hai chế độ sẽ là điều kiện
tiên quyết đảm bảo thành công cho sự
nghiệp thống nhất Đài Loan của
CHNDTH.
5. Những thách thức đặt ra đối
với việc vận dụng chính sách Một
nớc hai chế độ trong quá trình
đấu tranh thống nhất Đài Loan
Chính sách Một nớc hai chế độ
đã đem lại hiệu quả to lớn trong qua
trình thu hồi Hồng Công và Ma Cao
của CHNDTH. Tuy nhiên, khi vận
dụng chính sách đó để thống nhất Đài
Loan, CHNDTH gặp phải không ít
thách thức từ nhiều phía.


sự tiếp tục chính quyền này lật đổ
chính quyền kia Thế lực nớc ngoài
can thiệp vào Đài Loan là thông qua
nhà đơng cục Đài Loan và thế lực
chính trị địa phơng Đài Loan, trong
ngoài kết hợp, lợi dụng lẫn nhau, làm
tăng hẳn mức độ khó khăn trong việc
hoà bình thống nhất Đài Loan[3; tr
556]. Chính sự phát triển phức tạp của
vấn đề Đài Loan đã và đang tạo ra
thách thức rất lớn cho công thức Một
nớc hai chế độ của CHNDTH.
Thứ ba, sự chênh lệch về mức sống
giữa Đài Loan và Đại lục cũng là thách
thức lớn khác đối với chính sách Một
nớc hai chế độ. Cho đến nay, mặc dù
CHNDTH đã đạt đợc những bớc tiến
vợt bậc trong qúa trình xây dựng và
phát triển kinh tế, nhng so với thu
nhập và mức sống của Đài Loan thì
vẫn còn một khoảng cách khá xa. Vì
vậy, sức mạnh tổng hợp của Đại lục
tuy không nhỏ, tiềm lực rất lớn, nhng
bình quân đầu ngời lại thấp hơn quá
nhiều so với Đài Loan làm cho TQ
đại lục khó bề phát huy tác dụng lớn
trong các sự vụ quốc tế và ngăn chặn
Đài Loan thực hiện chính sách hai
nớc TQ [5; tr 557].

hai chế độ. Tuy nhiên, thực tế cho
thấy, thái độ của dân chúng Đài Loan
ngày càng bất lợi đối với CHNDTH.
Sau một thời gian dài sống theo t
tởng tự do, dân chủ của phơng Tây,
lại chịu ảnh hởng từ sự tuyên truyền
chính sách thù địch của chính quyền
Đài Loan, nên ngày càng có nhiều
ngời Đài Loan phủ nhận mình là
ngời TQ. Điều đó làm cho việc lợi
dụng sợi dây tình cảm để thống nhất
hai bờ của CHNDTH ngày càng mất đi
chỗ dựa quan trọng. Theo nhiều cuộc
điều tra d luận đợc tiến hành ở Đài
Loan thì trung bình khoảng 80% số
ngời đợc hỏi cho rằng họ không nhận
thấy công thức Một nớc hai chế độ là
một giải pháp. Họ sợ rằng Đài Loan sẽ
bị thui chột(ảo hoá- chết), rằng thay
vì đợc là chủ nhân của ngôi nhà của
mình, ngời Đài Loan sẽ mất quyền
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007 57
kiểm soát đối với số phận của mình[6;
tr 10] Sự thay đổi đó trong dân

hình thành ý tởng và vận dụng ý
tởng đó vào thực tiễn để xây dựng
thành lý luận, từ đó hình thành nên
phơng châm, chính sách để đáp ứng
yêu cầu của sự nghiệp thống nhất đất
nớc của CHNDTH.
Chính sách Một nớc hai chế độ
đã và đang đóng vai trò tích cực trong
quá trình đấu tranh thống nhất Đài
Loan của CHNDTH. Vận dụng Một
nớc hai chế độ không những hình
thành đợc phơng châm Hoà bình
thống nhất, một nớc hai chế độ trong
đấu tranh thống nhất Đài Loan, mà
còn có thể gạt bỏ đợc mâu thuẫn giữa
hai bờ eo biển để tiến hành đàm phán
thống nhất đất nớc. Đồng thời, vận
dụng Một nớc hai chế độ còn tranh
thủ đợc sự ủng hộ ngày càng lớn của
nhân dân hai bờ eo biển Đài Loan,
cũng nh nhân dân thế giới đối với
công cuộc thống nhất đất nớc của
CHNDTH.
Dới sự chỉ đạo của chính sách
Một nớc hai chế độ, TQ đã thành
công trong việc thu hồi chủ quyền đối
với Hồng Công và Ma Cao, vì vậy nó đã
đợc đánh giá là một trong những
thành tựu nổi bật của TQ trong thời kỳ
cải cách, mở cửa. Tuy nhiên, trong qúa

2004.
[3] Trần Tiên Khuê, Đặng Tiểu Bình từ lý luận đến thực tiễn, NXB KHXH, Hà Nội,
2004.
[4] Dơng Văn Lợi, Chính sách Một nớc hai chế độ- thành tựu lớn của TQ trong
25 năm cải cách mở cửa, Nghiên cứu TQ số 1(53)-2004.
[5] Tiêu Thị Mỹ, Mu lợc Đặng Tiểu Bình, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996.
[6] Một đất nớc hai chế độ theo quan điểm của Đài Loan, Tài liệu phục vụ
nghiên cứu số TN 2003-04, Viện Thông tin KHXH, Hà Nội, 2003.
[7] TQ với chính sách Một nớc hai chế độ, TLTKĐB, 28/8/1999, TTXVN.
[8] Văn kiện Đại hội lần thứ XVI ĐCS TQ, NXB CTQG, Hà Nội, 2003. Summary

Policy One country, two systems during struggle for
Taiwan Unification of Peoples Republic of China

The writing focuses on analysis of historical background, process of forming
basic contents of policy One country, two systems and application of that policy
into process of struggle for Taiwan Unification of Peoples Republic of China.
Basing on historical reality the author of the writing has clarified the active
significance as well as challenge for application of policy One country, two
systems during struggle for Taiwan Unification of Peoples Republic of China.

(a)
Trung tâm giáo dục thờng xuyên, Trờng Đại học Vinh

(b)
Cao học 12 Lịch sử thế giới, Trờng Đại học Vinh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status