1.Lý do chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm:
Đất nước ta đang trong thời kì đổi mới. Ngày nay sự
phát triển kinh tế, xã hội đang đặt ra một số yêu cầu
ngày càng cao đối với hệ thống giáo giục đào tạo.
Trong đó Tiếng Việt là một trong những môn học quan trọng đối với
học sinh tiểu học, nó có vai trò hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho
học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện trong 4 dạng hoạt
động: nghe, nói, đọc và viết trong đó đọc cũng góp phần quan trọng đối với
các em. Ở lớp 5 các em phải đọc với tốc độ 150 tiếng/phút. Nếu đọc tốt thì
các em có khả năng giao tiếp tốt, hiểu được nội dung mình đọc, viết đúng
chính tả và học tốt được các môn học khác…các em sẽ tự tin hơn trong học
tập cũng như trong đời sống.
Trong quá trình giảng dạy tôi thấy học sinh đọc sai từ quá nhiều như :
âm đầu, bỏ mất đi âm đệm và sai thanh điệu. Khi các em đọc không đúng
thì dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như: làm người nghe hiểu sai
nghĩa của từ. Đọc sai thì các em viết sai, các em sẽ gặp khó khăn nhiều
trong môn chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn và các môn học
khác…………
Nhận thức được các vấn đề trên, là một giáo viên đang đứng trên bục
giảng tôi luôn tâm niệm không ngừng nâng cao trình độ kiến thức chuyên
môn và đổi mới phương pháp giảng dạy, sao cho đạt hiệu quả nhất.Vì vậy
tôi mạnh dạn chọn đề tài:
“Biện pháp rèn đọc cho học sinh lớp 5” mong rằng sự đóng góp một
phần công sức nhỏ của mình trong việc rèn luyện cho học sinh phát triển
một cách toàn diện hơn.
- Đối tượng nghiên cứu Học sinh lớp5 trường Tiểu Học Phú Điền 3
- Nhiệm vụ nghiên cứu Tìm hiểu thực trạng về tình hình đọc của học
sinh lớp 5,Tìm ra biện pháp rèn đọc đúng từ cho học sinh lớp 5.
- Giới hạn đề tài. Vì thời gian có hạn cho nên tôi chỉ rèn cho học sinh
Đọc đúng từ trong môn tập đọc.
2.Nội dung :
+ Đối tượng :
- Là học sinh lớp 5 trường tiểu học Phú Điền 3.
Ấp Mỹ Phú, xã Phú Điền,Huyện Tháp Mười ,tỉnh Đồng Tháp.
+ Phương pháp :
- Phương pháp trực quan, đàm thoại,gợi mở,nêu gương,phân tích,…
2. Quá trình khảo sát thực trạng :
- Trong các tuần đầu đứng lớp năm học: 2010 – 2011 qua khảo sát chất
lượng đầu năm tôi phân loại tình hình đọc của học sinh lớp tôi như sau
Xếp loại Số lượng Tỉ lệ
Giỏi 3 16.7%
Khá 7 38.9%
Trung bình 4 22.2%
Yếu, khó khăn về ngôn ngữ 4 22.2%
3. Đánh giá thực trạng :
+ Ưu điểm :
- Được sự quan tâm của ban giám hiệu nhà trường.
- Cơ sở vật chất đầy đủ.
- Sĩ số học sinh lớp ít, bản thân thuận lợi trong việc kiểm tra chính xác
từng em.
- Một số học sinh có giọng đọc tốt, rõ ràng, diễn cảm.
-Có sự giúp đỡ tận tình của đồng nghiệp.
+ Khuyết điểm :
-Có nhiều em học sinh còn đọc chậm, sai nhiều về:âm đầu, âm đệm,
thanh điệu.
- Học sinh chưa kết hợp môi, lưỡi, răng, hàm….khi phát âm.
- Một số phụ huynh chưa tạo điều kiện tốt để các em học sinh đọc bài
thêm ở nhà
- Đa số phụ huynh là nông dân nên việc giúp đỡ, hướng dẫn các em còn
hạn chế.
+ Học sinh đọc trung bình
4
+ Học sinh đọc yếu
3. Cách thực hiện :
3.1. Biện pháp rèn đọc :
- Những em đọc tốt :
- Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc rõ ràng rành mạch từng cụm từ, từng
câu, từng đoạn văn, biết đọc diễn cảm, biết nghỉ hơi ở dấu chấm, biết nghỉ
hơi ở dấu phẩy…
- Tốc độ đọc khoảng 150 chữ trong thời gian 1 phút
- Biết đọc thầm, không mấp máy môi, hiểu được nghĩa của các từ ngữ
trong bài, biết trả lời các câu hỏi về bài đọc.
- Những em đọc khá :
- Tôi chú ý xem những em này thường đọc sai ở những từ nào và ngắt nghỉ
hơi có đúng khi gặp dấu câu không để kịp thời uốn nắn, sửa chữa cho các
em.
- Những em đọc trung bình, yếu :
- Giáo viên phải tìm hiểu vì sao các em đọc chậm, đọc sai từ từ đó có
biện pháp sửa chữa tốt hơn. Song các em này thường đọc sai rất nhiều các
phụ âm đầu, âm đệm và kể cả thanh điệu. Do đó giáo viên có biện pháp rèn
cho học sinh được tốt hơn.
3.2.Phương pháp rèn đọc.
a. Những em đọc tốt.
- Tôi cho các em thay nhau đọc mẫu bài, có tuyên dương khen thưởng
tinh thần ham đọc của các em.
b. Những em đọc khá.
- Giáo viên cho các em thay nhau đọc các từ, câu, đoạn trong bài tập đọc
từ đó để kịp thời uốn nắn, sửa sai cho các em. Những tiếng, từ các em phát
âm sai tôi cho học sinh nhận xét, tìm ra cách đọc thích hợp. Nếu học sinh
không tìm được thì tôi hướng dẫn các em đọc, đánh lưỡi kết hợp răng,
tr, s, x, r, gi…do đó sửa cho các em tôi không phát âm mẫu, chuẩn cho học
sinh nghe rồi yêu cầu học sinh đọc lại. Nếu làm như thế tôi đã sử dụng
6
phương pháp nghe nhìn và bắt chước. Phương pháp này tôi thiết nghĩ sẽ
mang lại hiệu quả thấp, chæ vì giáo viên chỉ cung cấp cho học sinh một âm
thanh mẫu mà khi học sinh gặp một tiếng khác có âm tương tự thì các em
không biết tự điều chỉnh bộ máy phát âm và tìm ra cơ chế tạo âm đúng .
- Chính vì vậy khi sửa sai các tiếng đó tôi sẽ có cách làm như sau:
+ Như những tiếng có âm đầu là âm “ tr” mà học sinh đọc là “ ch”
hướng dẫn học sinh để đầu lưỡi uốn chạm vào vòm cứng, bật ra, không có
tiếng thanh.
Ví dụ: tre ngà, buổi trưa, trong trắng, …
+ Nếu như những tiếng có âm đầu là âm “ s” mà học sinh đọc là “ x”
hướng dẫn học sinh uốn đầu lưỡi về phía vòm, hơi thoát ra xát mạnh.
Ví dụ: siêng năng,sạch sẽ,buổi sáng,…
+ Những tiếng có âm đầu là âm “ r” mà học sinh đọc là “ g” hướng dẫn
học sinh uốn đầu lưỡi về phía vòm, hơi thoát ra xát , có tiếng thanh.
Ví dụ: rõ rang,ranh mãnh,rong rêu,…
+ Nếu tiếng có âm đầu là âm “x ” mà học sinh đọc là “ s” hướng dẫn
học sinh đầu lưỡi tạo với môi răng một khe hẹp hơi thoát ra xát nhẹ không
có tiếng thanh.
Ví dụ: xa xa,lên xuống,xám xịt,…
d.2. Đối với học sinh pháp âm sai âm đệm.
Đa số các em bỏ mất đi âm đệm.
Trong các bài tập đọc trong chương trình lớp 5 có từ: “ loanh quanh
trong rừng, rừng rào rào chuyển động, con vượn bạc má ôm con gọn ghẽ
chuyền nhanh như tia chớp, hoang dã, thấp thoáng, lưu truyền, khoái ra ban
công, cây hoa giấy, xòe ra, xoa đầu…” mà học sinh lại đọc
“lanh quanh trong rừng, rừng rào rào chyển động, con vượn bạc má ôm
con gọn ghẽ chyền nhanh như tia chớp, hang dã, thấp tháng, lưu tryền, khái
Ví dụ:
đỗ= độ + ố
mã= mạ + á
sẽ = sẹ + é
8
Thoáng = thú+ áng
Truyền = trù+ yền
Khoái = khú+ ái
Xòe = xù+ è
Xoa = xu+ a
Hoa= hu+a
kẽ = kẹ + é mõ= mọ + ó
xã= xạ + á mũ – mụ+ ú
Trng hp õm tit kt thỳc bng nguyờn õm ụi nh: va, da, sa,
a Tụi chuyn õm tit chun mang thanh ngó thnh 2 õm tit trung gian.
m tit th nht l ton b yu t õm on ca õm tit chun nhng mang
thanh nng, õm tit th 2 l nguyờn õm mang thanh sc.
Vớ d: Va= va + ẹiaừ = ủiaù= ụự
Dửừa = da +
Sa = sa +
Trng hp õm tit khộp bng nguyờn õm ngn nh: mui, mi, bóo,
chóoTụi chuyn õm tit chun mang thanh ngó thnh 2 õm tit trung gian,
õm tit th nht l ton b yu t õm on tớnh ca õm tit chun nhng
mang thanh nng, õm tit th hai l nguyờn õm ngn khộp mang thanh sc.
Vớ d: Trng hp õm tit khộp bng õm mi nh: Nhn, sm, rónh,
rngtụi chuyn õm tit chun mang thanh ngó thnh 2 õm tit trung gian
õm tit th nht l ton b yu t ca õm on tớnh ca õm tit chun nhng
mang thanh nng õm tit th 2 l nguyờn õm ( ging mi) mang thanh sc.
Vớ d: Nhn= nhn+
trợ thêm cho các em trong lúc đọc, nhờ phụ huynh tạo điều kiện cho các em
có điều kiện đọc thường xuyên ở nhà như cho học sinh đọc đơn từ,
báo….Khi các em đọc tốt phụ huynh nên giáo dục các em có thói quen xem
đài để nghe phát thanh âm chuẩn từ đó học sinh có ý thức phát âm đúng và
chính xác. Ở
lớp những em đọc sai tôi cho học sinh nhận xét lẫn nhau để thấy được chỗ
sai của bạn từ đó các em rút kinh nghiệm cho cách đọc của mình.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm :
Với những biện pháp nêu trên cùng với sự nổ lực cố gắng của các em
học sinh từ đầu năm học cho đến nay tôi đã thu được kết quả đọc thành
tiếng của lớp 5
1
như sau:
Không những kết quả đọc thành tiếng ở giai đoạn cuối kì 1 lớp tôi đạt
như thế mà môn đọc thầm còn đạt tỉ lệ học sinh Giỏi:5học sinh chiếm
27.8%, Khá: 9 học sinh chiếm 50.0 %.hoc sinh trung bình lachiếm 27.8%.
10
Xếp loại Đầu năm Cuối kì I Tỉ tệ
Giỏi 3 7 38.9%
Khá 7 10 55.5%
Trung bình 4 1 5.5%
Yếu, khó khăn về ngôn ngữ 4 0 0%
Chính tả Giỏi: 5 học sinh chiếm 50.0%, Khá: 12 học sinh chiếm 66.6% học
sinh trung bình la2 chiếm5%: Môn toán các em có ý thức đọc các bài toán
có lời văn, hiểu được đề bài và tìm ra cách giải hợp lí và chính xác.
Trong tổng số 9 em đạt giỏi ở học kì 1 nhìn chung các em đọc đúng tốc
độ khoảng 130 – 150 chữ/phút. Giọng đọc tốt, rõ ràng biết ngừng nghỉ đúng
quy định, ý thức đọc diễn cảm và biết thể hiện giọng đọc thích hợp cho từng
loại văn bản đặc biệt là có thói quen phát âm tốt.
môn khác. Vì vậy giáo viên phải tìm các phương pháp dạy học sao cho phù
hợp với từng đối tượng học sinh. Với những biện pháp đề ra cùng với lòng
yêu nghề mến trẻ quyết tâm khắc phục những khó khăn trong giảng dạy và
rèn luyện cho học sinh ngày học tốt hơn.
Song trên đây là một số biện pháp mà tôi tiến hành thự hiện ở lớp đạt
được kết quả khả quan. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện bản thân mong
quý thầy cô đóng góp ý kiến cho tôi để lần sau tôi tiếp tục thực hiện .
3.2. Kiến nghị :
- Mở hội thi về cách phát âm như hội thị đọc thơ,văn xuôi,truyện ngắn,…
- Tập huấn cho giáo viên tiểu học đặc biệt là giáo viên lớp 1,2
12
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Sách giáo viên tiếng việt 1
2.Sách giáo khoa tiếng việt 5
3.Sách giáo dục hòa nhập trẻ có khó khăn về ngôn ngữ Viện
khoa học giáo dục,Trung tâm tật học Hà Nội- năm 2002
4. sách Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật bật tiểu học, của viện
khoa học giáo dục Trung tâm tật học Hà Nội – năm 2002
5. sách Ngữ âm học – Đại học Huế
13
14