Nghiên cứu một số đặc điểm giao tiếp của học sinh cuối bậc tiểu học ở thành phố Thanh Hóa - Pdf 26

Báo cáo thực tập
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Th.s Trương Khánh Hà đã tận tình chỉ
bảo, giúp đỡ em hoàn thành báo cáo thực tập này.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo cùng các em học sinh Trường
trung học cơ sở Tứ Hiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ em thực tập nhằm thu thập
thông tin để hoàn thành báo cáo thực tập.
Hà Nội ngày 30 tháng 3 năm 2004
Sinh viên
Bùi Việt Anh
Bùi Việt Anh - Tâm lý K45
1
Báo cáo thực tập
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sống trong xã hội, con người không chỉ có quan hệ với thế giới sự vật,
hiện tượng bằng hoạt động có đối tượng mà còn có quan hệ giữa con người
với con người, giữa con người với xã hội. Đó chính là mối quan hệ giao tiếp,
giao tiếp chính là sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người thông qua đó con
người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng
tác động qua lại với nhau. Nhờ đó mà kinh nghiệm, vốn sống, tri thức của lịch
sử văn hoá xã hội loài người được bảo tồn, lưu giữ và phát triển từ thế hệ này
sang thế hệ khác. Vì vậy cùng với hoạt động, giao tiếp là phương thức tồn tại
của xã hội loài người.
Với mỗi cá nhân giao tiếp không chỉ là phương thức để tồn tại mà đó
còn là điều kiện quan trọng để hình thành và phát triển nhân cách. Thông qua
giao tiếp cá nhân nhận thức được người khác, nhận thức được chính mình,
nhận thức được nền văn hóa mà mình đang sống, bằng hoạt động và giao tiếp
biến nó thành tâm lý của chính mình. Cuộc đời của mỗi người có huy hoàng
chãi lọi hay không còn phụ thuộc vào việc người đó có nỗ lực gia tăng vốn
giao tiếp hay không. Do đó giao tiếp trở thành đối tượng nghiên cứu của

4.1 nghiên cứu lý luận :
Nghiên cứu các tài liệu về tâm lý học giao tiếp, tâm lý học lứa tuổi, tâm lý
học gia đình và các tài liệu luận văn, sách báo có liên quan để từ đó xây dựng
cơ sở lý luận cho đề tài.
4.2 Nghiên cứu thực tiễn:
- Nghiên cứu thực trạng các đặc điểm giao tiếp của thiếu niên với cha mẹ
trong các gia đình hiện nay.
Bùi Việt Anh - Tâm lý K45
3
Báo cáo thực tập
- Nêu mét số kết luận về đặc điểm giao tiếp giữa thiếu niên với cha mẹ từ
đó đưa ra những kiến nghị với các nhà giáo dục các bậc phụ huynh để
có những phương pháp giáo dục thiếu niên tốt hơn.
5 Khách thể nghiên cứu
Học sinh trường Trung học cơ sở Tứ Hiệp
6. Phạm vi nghiên cứu
-Thời gian nghiên cứu : khoảng 01 tháng
- Khách thể nghiên cứu :100 học sinh líp 9
- Về nội dung nghiên cứu, chúng tôi chủ yếu nghiên cứu những đặc điểm
chung nhất trong giao tiếp của thiếu niên với cha mẹ như: tính chủ thể ( nhu
cầu, thái độ, nhận thức, giới tính, lứa tuổi ), nội dung, mục đích, hoàn cảnh,
hiệu quả giao tiếp, và một số yếu tố ảnh hưởng tới quá trình giao tiếp.

7- Phương pháp nghiên cứu
7.1- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp này được sử dụng với mục đích xây dựng cơ sở lý luận và
định hướng cho đề tài nghiên cứu thông qua việc tìm hiểu các tài liệu, các
công trình nghiên cứu về Tâm lý học xã hội: Tâm lý học giao tiếp, tâm lý
học gia đình, tâm lý học lứa tuổi, tâm lý học đại cương, tâm lý học phát
triển và các tài liệu có liên quan khác.

thực dụng đã khẳng định vai trò của giao tiếp đối với sự tồn tại của con người.
Ông viết: “Nếu mỗi người muốn có cái riêng của mình thì phải có “cái tôi”
khác. Đó là những khách thể xã hội khác với khách thể vật lí vì nó có khả
năng tác động tích cực lên cái tôi của người khác mà ngày nay chóng ta
thường gọi là những chủ thể”.
Watsơn, nhà tâm lí học người Mỹ, đại diện cho chủ nghĩa hành vi cho rằng :
Giao tiếp của cá nhân là quá trình tiếp nhận kích thích ngoại giới và phản ứng
đáp lại kích thích đó của cơ thể.
Vấn đề giao tiếp được nghiên cứu mạnh vào những năm 20- 30 của thế
kỷ XX, trong đó phải nhắc đến vai trò quan trọng của các nhà tâm lý học Đức:
S. Frued (1856- 1939) cho rằng trong hệ thống giao tiếp có người phát tín
hiệu, có người nhận thông tin và quá trình này diễn ra trên cơ sở cả hai bên
đều muốn tìm hiểu lẫn nhau, muốn làm theo nhau.
Đến giữa thế kỉ XX, những nghiên cứu về giao tiếp ở phương Tây bao
trùm một phạm vi tương đối rộng lớn, đi từ lý luận về thông tin, ngữ nghĩa
Bùi Việt Anh - Tâm lý K45
6
Báo cáo thực tập
học và ngôn ngữ học, qua nghiên cứu thực nghiệm về hệ thống giao tiếp nằm
trong những nhóm nhỏ, cho tới những phân tích về giao tiếp đại chúng.
ở Liên Xô, ngay từ đầu thế kỉ XX, các nhà tâm lý học như L.X.
Vưgôtxki, X.L. Rubinstein, B.G. Ananhev đã nghiên cứu vấn đề giao tiếp
dưới góc độ Tâm lý học theo quan điểm triết học Macxit. Vưgôtxki nhận xét,
giao tiếp là quá trình chuyển giao tư duy và cảm xúc. Còn Rubinstein khảo sát
giao tiếp dưới góc độ hiểu biết lẫn nhau giữa người với người. Còn Ananhev
thừa nhận giao tiếp là một trong ba dạng của hoạt động
Nhưng mãi đến năm 1970, phạm trù giao tiếp được các nhà tâm lý học
Liên Xô thực sự quan tâm và phát triển một cách mạnh mẽ nổi bật là các tác
giả :A.A Leôn chiev với các tác phẩm : “tâm lý học giao tiếp ( 1974 ) “ giao
tiếp sư phạm “(1979).

2.1. Khái niệm giao tiếp
Có rất nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra các định nghĩa về giao tiếp trong
tâm lý học tùy theo sự nhìn nhận đánh giá riêng của mỗi tác giả.
T. Chuccôn (Mỹ) xem giao tiếp như là sự tác động qua lại trực tiếp lên
nhân cách và dẫn đến sự hình thành những ý nghĩa, biểu tượng, chuẩn mực và
mục đích hành động; là một tổ hợp nhiều hành vi khác nhau: hành vi ngôn
ngữ, hành vi điệu bộ, hành vi cử chỉ. Tác giả mới chỉ nhấn mạnh đến mặt tác
động lẫn nhau dẫn đến hình thành những chuẩn mực, mục đích hành động,
hành vi.
Trong tâm lí học Liên Xô, cũng có rất nhiều cách hiểu khác nhau về
tâm lí. Theo X.L Rubinstein thì giao tiếp là hình thức liên kết giữa những con
người với nhau.
Nhìn chung các định nghĩa trên đều nhấn mạnh đến khía cạnh tiếp xúc,
trao đổi thông tin, tác động lẫn nhau giữa con người với con người, qua đó sự
tiếp xúc tâm lí, quan hệ liên nhân cách được thực hiện, bộc lé, hình thành.
Bùi Việt Anh - Tâm lý K45
8
Báo cáo thực tập
Tóm lại, trong Tâm lí học Liên Xô vẫn tồn tại hai quan niệm khác nhau
về giao tiếp. Quan niệm coi giao tiếp là một dạng đặc biệt của hoạt động hoặc
là điều kiện, phương thức của hoạt động, đại diện là A.A Lêonchiev. Ông cho
rằng “Giao tiếp là một dạng đặc biệt của hoạt động bởi vì nó bao gồm đầy đủ
các thành phần trong sơ đồ cấu trúc của hoạt động: chủ thể – hoạt động - đối
tượng.”
Bên cạnh đó, ở Việt Nam các nhà nghiên cứu cũng đưa ra các định
nghĩa khác nhau về giao tiếp:
Đỗ Long khẳng định “Giao tiếp là sự trao đổi kinh nghiệm, tri thức kỹ
năng và cũng là sự tác động qua lại, ảnh hưởng tương hỗ và hiểu biết lẫn
nhau”.
Theo Trần Trọng Thủy “Giao tiếp là quá trình tác động qua lại giữa

các quan hệ xã hội giã chủ thể này với chủ thể khác.
Vì vậy khi bàn về khái niệm gia đình, văn bản của Liên hiệp quốc có lưu
rằng: Gia đình là một thể chế có tính toàn cầu nhưng lại có những hình thức,
vai trò khác nhu thay đổi từ nền văn minh này sang nền văn minh khác, dân
téc này so với dân téc kia. Do đó, không thể đưa ra một định nghĩa chung có
thể áp dụng cho toàn cầu. Tuy nhiên trong nghiên cứu của mình chúng tôi tán
thành định nghĩa về gia đình của PGS Trần Trọng Thủy “Gia đình là một
nhóm nhỏ liên kết với nhau bởi mối quan hệ hôn nhân, huyết thống hay nhận
con nuôi, tạo thành một hệ riêng biệt, tác động qua lại và giao tiếp lẫn nhau
qua vai trò xã hội của từng người: là chồng, là vợ, là cha, là mẹ, là con trai, là
con gái, anh em, tạo thành một nền văn hóa chung”.
Qua các định nghĩa trên chúng ta thấy giao tiếp là một hiện tượng tâm lí
rất phức tạp, nhiều mặt và nhiều góc độ khác nhau. Có những định nghĩa thu
hẹp khái niệm giao tiếp, có những định nghĩa lại mở rộng khái niệm giao tiếp.
Mỗi định nghĩa của mỗi tác giả nêu ra đều dùa trên một quan điểm riêng và có
hạt nhân hợp lí của nó, cho nên đến nay vẫn chưa có khái niệm thống nhất về
giao tiếp.
Bùi Việt Anh - Tâm lý K45
10
Báo cáo thực tập

2.2.2 Giao tiếp trong gia đình
Giao tiếp có vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của cá
nhân và xã hội. Đối với cá nhân, giao tiếp không chỉ là phương thức để tồn tại
mà còn là điều kiện để hình thành và phát triển nhân cách. Mỗi cá nhân đều
được sinh ra, được nuôi dưỡng và phát triển trong quan hệ gắn bó, giao tiếp
với những người khác (trước hết là với cha mẹ và những người thân trong gia
đình), được giáo dục bởi cha mẹ, thầy cô về văn hóa, đạo đức, khoa học, ngôn
ngữ, cách ứng xử, các giá trị của xã hội loài người, nhờ đó nhân cách được
hình thành và phát triển. Đối với xã hội giao tiếp là phương thức để con người

giữa các chức năng sinh lÝ và do đấy cũng gây ra sự mất cân bằng tạm thời
về tâm lí.
Một đặc điểm nữa trong sự phát triển sinh lÝ của lứa tuổi này là sự phát
dục (dạy thì). Biểu hiện bên ngoài chủ yếu là sự chín muồi của các cơ quan
sinh dục, ở các em trai là sự xuất tinh, ở các em gái là hiện tượng kinh nguyệt.
Đây là một nhân tố sinh lÝ – xã hội có ảnh hưởng rất quan trọng đối với sự
phát triển tâm lí và nhân cách ở lứa tuổi này.
Bên cạnh đó sự phát triển mạnh mẽ của hưng phấn thần kinh, tạo ra một sự
mất cân bằng tạm thời so với sự phát triển của ức chế, sự mất cân đối giữa
phần dưới vỏ não có xu hướng phát triển nhanh hơn và mãnh liệt hơn so với
hoạt động của vỏ não. Từ đó dẫn đến sự mất cân bằng của hai hệ thống tín
hiệu. Do vậy thiếu niên dễ bị xúc động mạnh, bị kích động, bực tức
ĐẶC ĐIỂM TÂM LÍ
Đặc trưng tâm lí cơ bản của lứa tuổi thiếu niên là mâu thuẫn giữa một bên
là tính chất quá độ “không còn là trẻ con nữa, nhưng chưa phải là người lớn”
và bên kia là ý thức về bản thân mình phát triển mạnh mẽ, các em có nghĩ
Bùi Việt Anh - Tâm lý K45
12
Báo cáo thực tập
cho rằng mình đã là người lớn và đòi hỏi mọi người phải đối xử với mình như
đối xử với người lớn.
Đối với bản thân các em bắt đầu chú theo dõi bản thân mình và hoạt động
tự giáo dục. Trứơc hết các em để đến mái tóc, vẻ mặt, thân hình, dáng điệu,
sau đó đến tác phong, cử chỉ, cách ăn mặc, cách nói năng và tiếp đó là các
phẩm chất tâm lí, nhân cách.
Về mặt xúc cảm tình cảm thiếu niên có nhiều cảm xúc diễn biến đa dạng,
vui buồn bất chợt, cường độ cảm xúc mạnh nhưng chưa bền vững. Vì vậy
thiếu niên rất hăng hái nhiệt tình khi được động viên khích lệ, dễ buồn chán
thất vọng nếu gặp thất bại. Tình cảm đạo đức, tình cảm trí tuệ, tình cảm thẩm
mỹ ở thiếu niên phát triển mạnh.

Bảng 1 : Nhận thức của thiếu niên về mức độ quan trọng của việc giao
tiếp với cha mẹ
STT
Nhóm khách thể
Số lượng
%
Mức độ
1 Rất quan trọng 60 60
2 Quan trọng 20 20
3 Ýt quan trọng 12 12
4 Không quan trọng 8 8
Tổng 100 100
Có 60% thiếu niên coi việc giao tiếp với cha mẹ là rất quan trọng, 20% là
quan trọng, 12% thiếu niên cho rằng việc giao tiếp với cha mẹ là Ýt quan
trọng, 8% thiếu niên quan niệm việc giao tiếp với cha mẹ là không quan
trọng. Các em giải thích: “Vì việc thường xuyên tâm sự, trao đổi với cha mẹ
sẽ giúp bố mẹ và em hiểu nhau hơn, cha mẹ sẽ chỉ bảo cho chóng em những
kinh nghiệm cần thiết trong cuộc sống”. Tuy nhiên vẫn còn có một số em cho
rằng việc giao tiếp với cha mẹ là Ýt quan trọng và không quan trọng. Các em
quan niệm “Mỗi khi tâm sự với cha mẹ, cha mẹ thường không hiểu em và đôi
khi nói những điều khó nghe, bởi vì cha mẹ vẫn cho rằng chúng em chỉ là
những đứa con nít chưa đến tuổi để trao đổi với cha mẹ về những vấn đề của
người trưởng thành” hoặc “Đối với em việc trao đổi tâm sự với cha mẹ là
không cần thiết vì em vẫn thường tự mình giải quyết các vấn đề của mình.
Khi tự giải quyết vấn đề chúng em cảm thấy mình như trưởng thành hơn và
tạo được niềm tin lớn khi bước vào cuộc sống”. Qua sự giải thích của các em
Bùi Việt Anh - Tâm lý K45
15
Báo cáo thực tập
chóng ta có thể thấy rằng việc đánh giá mức độ quan trọng của việc giao tiếp

mong muốn của mình
24 24 59 59 17 17 100 100
6 Thoả mãn nhu cầu được trao đổi
tình cảm
31 31 50 50 19 19 100 100
7 Mục đích khác 17 17 45 45 38 38 100 100
Bùi Việt Anh - Tâm lý K45
16
Báo cáo thực tập
Bảng 2 cho thấy: có 72% thiếu niên “thường xuyên”, 21 thiếu niên
“thỉnh thoảng” giao tiếp với cha mẹ nhằm mục đích “nâng cao sự hiểu biết về
bản thân, gia đình, xã hội”; chỉ có 7% thiếu niên không bao giê nhằm mục
đích này. Mục đích để “hiểu và cảm thông với cha mẹ” có 60% thiếu niên
“thường xuyên”; 37% “thỉnh thoảng” và 3% “không bao giờ”. Điều này cho
thấy khi giao tiếp với cha mẹ đa số thiếu niên có mong muốn được hiểu và
cảm thông với cha mẹ.
Có 69% thiếu niên “thường xuyên” giao tiếp với cha mẹ nhằm mục
đích “để gia đình có bầu không khí vui vẻ”; 27% “thỉnh thoảng” còn 4%
“không bao giờ” nhằm mục đích này. Như vậy, thiếu niên giao tiếp với cha
mẹ không chỉ để hiểu và cảm thông với cha mẹ mà còn để xây dựng bầu
không khí vui vẻ trong gia đình.
Có 70% thiếu niên giao tiếp với cha mẹ “thường xuyên” nhằm mục
đích “biết cách cư xử về đạo đức, lối sống cho phù hợp”; 29% thiếu niên
“thỉnh thoảng” nhằm mục đích này và 1% thiếu niên “không bao giờ” nhằm
mục đích này. Giáo dục đạo đức, lối sống cho con cái là trách nhiệm của cha
mẹ. Qua giao tiếp hàng ngày cha mẹ dạy dỗ và giáo dục con cái. Tuy nhiên
vẫn còn có một số Ýt các em không bao giê hoặc thỉnh thoảng nhằm mục đích
này.
Kết quả điều tra còng cho thấy: có 24% “thường xuyên”; 59% “thỉnh thoảng”;
17% “không bao giờ” giao tiếp với cha mẹ nhằm mục đích “để cha mẹ hiểu

1 Cha 6 6
2 Mẹ 54 54
3 Bạn thân 30 30
4 Thầy cô 8 8
5 Không hái ai 2 2
Tổng 100 100
Qua số liệu trên ta có thể được mức độ hỏi, tâm sự của thiếu niên khi
gặp khó khăn với cha mẹ chiếm tỉ lệ khá cao là 60% (cha 6% và mẹ 54%).
Theo các em thì “Mẹ là người hiểu em nhất nên khi trao đổi với mẹ thì mọi
vấn đề của em đều được giải quyết”; “Cha là người gần gũi và thương em
Bùi Việt Anh - Tâm lý K45
18
Bỏo cỏo thc tp
nht vỡ vy nu trao i vi cha thỡ nhng khú khn ca em s c cha giỳp
. Cú 30% thiu niờn khi gp khú khn ó tỡm n bn thõn. Bi vỡ bn l
ngi cựng trang la vi mỡnh nờn d dng tõm s nhng khú khn ca mỡnh
hn. iu ny cho thy thiu niờn thng tõm s vi bn khi gp khú khn
hay tõm s nhng iu thm kớn riờng t vi bn chim mt t l khỏ cao. õy
cng l mt xu hng khỏ ph bin ca thiu niờn hin nay. Điều này cho
thấy thiếu niên thờng tâm sự với bạn khi gặp khó khăn hay tâm sự những
điều thầm kín riêng t với bạn chiếm một tỉ lệ khá cao. Đây cũng là một xu
hớng khá phổ biến của thiếu niên hiện nay.
Cú 8% thiu niờn ó nh n s giỳp ca thy cụ giỏo khi gp
nhng iu khú khn, khú hiu. Cũn li 2% thiu niờn khụng hi ai m t gii
quyt vn ca mỡnh. iu ny cho thy cú mt s em rt ngi bc lộ, tõm
s nhng chuyn ca mỡnh cho ngi khỏc bit. Nhng cú nhng em mun t
khng nh mỡnh bng vic t gii quyt vn ca mỡnh m khụng cn s
giỳp ca ai.
Nh vy, t l thiu niờn tin tng hi, tõm s vi cha m l khỏ ln c
bit l tõm s vi m; tip n l tõm s vi bn thõn v thy cụ giỏo. Bờn

Có tới 67% thiếu niên có mong muốn “cha mẹ hiểu và thông cảm với
mình”. Điều này được đa số các em chọn lùa và giải thích là: “Khi gặp điều gì
buồn phiền, em chỉ mong cha mẹ hiểu và thông cảm với em như vậy em mới
thấy dễ chịu và thoải mái”; “Cha mẹ có hiểu và cảm thông với em thì em mới
dám tâm sự”. Như vậy, đa số thiếu niên đều có mong muốn được cha mẹ hiểu
và thông cảm với mình, muốn được cha mẹ tin tưởng chấp nhận, tôn trọng
nhân cách của các em.
Tóm lại, đa số thiếu niên đều có mong muốn cha mẹ lắng nghe, hiểu và
thông cảm khi giao tiếp với mình. Điều này cho thấy các em có sự đòi hỏi khá
cao về thái độ của cha mẹ khi giao tiếp với mình.
5. Khi được hỏi về mức độ trao đổi của thiếu niên với cha mẹ trong giao
tiếp chúng tôI thu được kết quả như sau:
Bảng 5 : Các em thường xuyên trao đổi với cha hay mẹ trong gia đình:
Bùi Việt Anh - Tâm lý K45
20
Báo cáo thực tập
STT
Đối tượng
Số lượng
%
1 Cha 9 9
2 Mẹ 56 56
3 Cả hai 35 35
Tổng 100 100
Ta có thể thấy rõ rằng, sự tin tưởng lớn được các em trao cho người mẹ
khi có tới 56% các em thường xuyên tâm sự với mẹ. Chỉ có một số Ýt các em
trò chuyện với cha chiếm 9% và một số lượng tương đối các em chọn cả cha
lẫn mẹ để tâm sự chiếm 35%.
6. Thái độ lắng nghe của thiếu niên
Lắng nghe là một thái độ rất quan trọng trong giao tiếp. Giao tiếp giữa

Báo cáo thực tập
9% thiếu niên “không bao giờ” lắng nghe và đáp lại vui vẻ. Số liệu này cho
thấy đa số thiếu niên khi giao tiếp với cha mẹ vẫn giữ thái độ lễ phép, lắng
nghe và đáp lại vui vẻ; Có 18% thiếu niên”thường xuyên” và 72% thiếu niên
“thỉnh thoảng” thanh minh giải thích khi giao tiếp với cha mẹ. Như vậy, đa số
các em cũng có thái độ thanh minh, giải thích khi giao tiếp với cha mẹ. Mặc
dù phần lớn các em chỉ biểu hiện thái độ này ở mức độ thỉnh thoảng nhưng
cũng cho thấy các em đã bắt đầu biết đòi hỏi ở cha mẹ sự bình đẳng, xu
hướng muốn được đối xử như người lớn. Tuy vậy, trong giao tiếp giữa cha
mẹ và thiếu niên không phải bao giê các em cũng thẳng thắn bày tỏ thái độ
thanh minh, giải thích của mình với cha mẹ. Điều này được thể hiện khi chỉ
có 10% thiếu niên “không bao giờ” bày tỏ thái độ này khi giao tiếp với cha
mẹ.
Bảng 6 còng cho thấy, đa số thiếu niên “không bao giờ” vừa nghe vừa
khó chịu” (77%); “không quan tâm điều cha mẹ nói” (81%) và “không nghe”
(92%). Chỉ có một số Ýt các em thể hiện thái độ “vừa nghe, vừa khó chịu”
(7% thường xuyên và 16% thỉnh thoảng). Điều này cho thấy đôi khi giao tiếp
giữa cha mẹ và thiếu niên cũng xảy ra những cảm xúc tiêu cực ở các em. Đôi
khi các em cũng bầy tỏ thái độ “không quan tâm điều cha mẹ nói” (1%
thường xuyên và 18% thỉnh thoảng) và rất Ýt em có thái độ “không nghe” khi
giao tiếp với cha mẹ (1% thường xuyên và 7% thỉnh thoảng).
Tóm lại, đa số thiếu niên đều có thái độ chú ý lắng nghe và đáp lại vui
vẻ; thỉnh thoảng thanh minh, giải thích khi giao tiếp với cha mẹ, chỉ có rất Ýt
các em có thái độ không quan tâm, không nghe những điều cha mẹ nói.
7. Phản ứng của thiếu niên khi cha mẹ nói những điều làm các em không
hài lòng
Nhu cầu muốn được đối xử như người lớn là một đặc trưng tâm lý ở lứa
tuổi thiếu niên. Qua nghiên cứu về mức độ phản ứng của thiếu niên khi cha
mẹ nói những điều làm các em không hài lòng chúng tôi thu được kết quả:
Bùi Việt Anh - Tâm lý K45

cách “không nghe, bỏ đi chỗ khác” và 6% thiếu niên “thường xuyên” và 3`4%
thiếu niên “thỉnh thoảng” có phản ứng khác như: khóc lóc, dỗi, bỏ ăn
Nhìn chung, thái độ của thiếu niên khi giao tiếp với cha mẹ mang
những đặc điểm riêng, các em phần nào đã thể hiện xu hướng muốn được đối
xử như người lớn, được tôn trọng thể hiện trong thái độ thanh minh, giải
thích khi cha mẹ nói những điều làm các em không hài lòng. Nhưng đa số các
em vẫn giữ thái độ im lặng nghe và đáp lại vui vẻ khi giao tiếp với cha mẹ
hoặc im lặng nghe sau đó giải thích hoặc không phản ứng gì khi cha mẹ nói
những điều làm các em không hài lòng.
Bùi Việt Anh - Tâm lý K45
23
Báo cáo thực tập
8. Để giao tiếp được tiến hành một cách thuận lợi thì bầu không khí tâm
lý là một yếu tố rất quan trọng. Giao tiếp giữa cha mẹ và thiếu niên cũng
vậy. Tìm hiểu vấn đề này ở 100 thiếu niên chúng tôi thu được kết quả:
Bảng 8 : Bầu không khí tâm lý giao tiếp giữa thiếu niên và cha mẹ
STT
Mức độ
Bầu không khí
Thường
xuyên
Thỉnh
thoảng
Không bao
giê
Tổng cộng
SL % SL % SL % SL %
1 Vui vẻ, thoải mái 75 75 21 21 4 4 100 100
2 Gay gắt, căng thẳng 7 7 26 26 67 67 100 100
3 Tẻ nhạt, buồn chán 5 5 22 22 73 73 100 100

Tổng 100 100
Có 46% thiếu niên “thường xuyên” kể cho cha mẹ nghe những điều sai
trái, hay bị điểm kém của mình. Lý do các em giải thích: “Vì khi kể cho cha
mẹ nghe cha mẹ sẽ giúp em sửa chữa và động viên em cố gắng”. Có 41%
thiếu niên “thỉnh thoảng” mới kể cho cha mẹ nghe những khuyết điểm của
mình. Vì theo các em “Nếu em cứ dấu thì đến một lúc nào đó cha mẹ cũng sẽ
biết như thế tội sẽ nặng hơn”. 13% thiếu niên “không bao giờ” kể cho cha mẹ
những lỗi lầm của mình vì “Em chưa bao giê bị điểm kém” hay “em sợ bị cha
mẹ trách mắng nên phải dấu”.
Nhìn chung, phần lớn thiếu niên đều kể cho cha mẹ những khuyết điểm,
những việc làm sai trái của mình để nhận được những lời khuyên bảo của cah
mẹ. Như vậy, mức độ tin tưởng của thiếu niên đối với cha mẹ là khá cao.
10. Hiệu quả về mặt xúc cảm
Giao tiếp có vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của cá
nhân và xã hội. Đối với cá nhân, giao tiếp không chỉ là phương thức để tồn tại
mà còn là điều kiện để hình thành và phát triển nhân cách. Giao tiếp giữa cha
mẹ và con cái chủ yếu dùa trên những xúc cảm tích cực để cha mẹ và con cái
Bùi Việt Anh - Tâm lý K45
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status