Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của bệnh do giun móc ancylostoma SPP gây ra trên chó tại huyện văn lâm, hưng yên c - Pdf 23

BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI NGUYỄN THỊ MÙI

ðỀ TÀI
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ðẶC ðIỂM BỆNH LÝ CỦA BỆNH
DO GIUN MÓC ANCYLOSTOMA SPP. GÂY RA TRÊN CHÓ
TẠI HUYỆN VĂN LÂM, HƯNG YÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ


LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH: THÚ Y
MÃ SỐ: 60. 64. 01. 01 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS – TS NGUYỄN HỮU NAM
HÀ NỘI, NĂM 2013
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
iLỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa ñược ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tôi xin cam ñoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñược
ghi rõ nguồn gốc. Tác giả luận văn

DANH MỤC ẢNH v
DANH MỤC BẢNG vi
CHƯƠNG 1
.
MỞ ðẦU 1
1.1. ðẶT

VẤN

ðỀ 1
1.2. MỤC

ðÍCH



YÊU

CẦU 2
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ANCYLOSTOMA SPP 3
2.1.1 Một số nghiên cứu trên thế giới 3
2.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 5
2.2 HIỂU

BIẾT

VỀ

GIUN


RA



CHÓ 15
2.3.1 Những tác hại do Ancylostoma spp. gây ra 15
2.3.2 Cơ chế sinh bệnh 17
2.3.3 Triệu chứng lâm sàng 18
2.3.4 Bệnh tích 18
2.3.5 Phương pháp chuẩn ñoán và biện pháp phòng trị bệnh 19
2.3.6 Giun móc chó là bệnh có khả năng lây truyền sang người 20
CHƯƠNG 3.

ðỐI TƯỢNG - NỘI DUNG VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.25
3.1 ðỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 25
3.2 NỘI

DUNG

NGHIÊN

CỨU 25
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
iv

3.3 NGUYÊN



NHIỄM,

CƯỜNG

ðỘ

NHIỄM

GIUN

MÓC

ANCYLOSTOMA

SPP.

TẠI

04

XÃ/THỊ

TRẤN

HUYỆN

VĂN

LÂM,


SỐ

CHỈ

TIÊU

SINH



MÁU

CỦA

CHÓ

NHIỄM

GIUN

MÓC

ANCYLOSTOMA

SPP 40
4.3.1 Một số chỉ tiêu sinh lý hệ hồng cầu máu chó nhiễm Ancylostoma spp 42
4.3.2 Số lượng bạch cầu và công thức bạch cầu 46
4.4 BỆNH


Ảnh 4.3&4.4: Chó nhiễm giun móc: tích nước trong xoang bụng 52
Ảnh 4.5: Phổi xuất huyết thành ñám trên bề mặt 52
Ảnh 4.6: Xuất huyết niêm mạc ruột 52
Ảnh 4.7: Lát cắt ngang giun móc chó

trong ruột (HE x 60) 57
Ảnh 4.8: Lát cắt ngang giun móc chó trong ruột (HE x 150) 57
Ảnh 4.9: Lát cắt ngang giun móc chó trong ruột (HE x 150) 57
Ảnh 4.10: Lát cắt ngang giun móc chó trong ruột (HE x600) 57
Ảnh 4.11: Khoảng lông nhung rách nát do giun móc cắm sâu vào niêm mạc
hút máu (HE x 150) 57
Ảnh 4.12: ðỉnh lông nhung ruột hoại tử (HE x 600) 57
Ảnh 4.13: Vùng ruột có giun móc cắm sâu hút máu, ñỉnh lông nhung ruột hoại
tử (HE x 60) 58
Ảnh 4.14: ðỉnh lông nhung ruột hoại tử (HE x 60) 58
Ảnh 4.15 Thâm nhiễm tế bào viêm ở

vùng hạ niêm mạc ruột (HE x 600) 58
Ảnh 4.16 Thâm nhiễm bạch cầu ái toan ở phần hạ niêm mạc ruột (HE x 600) 58
Ảnh 4.17: Vùng phổi xuất huyết (HE x 60) 58
Ảnh 4.18: Vùng phổi xuất huyết, hồng cầu chứa ñầy trong lòng phế nang (HE x 150)58
Ảnh 4.19: Gan thoái hóa không bào (HE x 60) 59
Ảnh 4.20: Gan thoái hóa không bào (HE x 600) 59
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
vi

DANH MỤC BẢNG

lây sang con người. ðiển hình là bệnh Ancylostomatidosis lây nhiễm qua
ñường tiêu hóa và qua da do loài giun móc Ancylostoma spp. gây ra. Bệnh phổ
biến ở các nước chậm phát triển có phong tục tập quán lạc hậu, nhất là các
nước nhiệt ñới và cận nhiệt ñới, trong ñó có Việt Nam. Bệnh ảnh hưởng ñến
sức khỏe của con người nói riêng và loài chó nói chung, mặc dù ñã có nhiều
nghiên cứu về bệnh này nhưng còn hạn chế trong việc tuyên truyền cho cộng
ñồng vì vậy nghiên cứu về ñặc ñiểm bệnh lý do giun móc Ancylostoma spp.
gây ra là rất cần thiết bởi ñó là cơ sở khoa học ñể ñưa ra những chẩn ñoán
chính xác và biện pháp phòng trừ hiệu quả, góp phần bảo vệ sức khỏe ñàn chó,
mà sâu xa hơn nữa là nâng cao sức khỏe cộng ñồng.
Xuất phát từ tình hình thực tế ñó chúng tôi tiến hành nghiên cứu ñề tài:
“Nghiên cứu một số ñặc ñiểm bệnh lý của bệnh do giun móc Ancylostoma
spp. gây ra trên chó tại huyện Văn Lâm, Hưng Yên ”.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
21.2. MỤC ðÍCH – YÊU CẦU
Làm rõ các ñặc ñiểm bệnh lý chủ yếu của bệnh do giun móc chó Ancylostoma
spp. gây ra. Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
3


Năm 1984, Railliet ñã tiến hành phân loại và tìm thấy loại giun móc
Uncinaria stenocephala gây bệnh Ancylostomatidosis và sau ñó A.M.Petro và
cộng sự (1977) xác ñịnh vòng ñời và ñường xâm nhập của ấu trùng vào cơ thể
vật chủ, kết quả là xác ñịnh ấu trùng có thể xâm nhập qua da ký chủ, qua
ñường tiêu hoá.
Nghiên cứu ở Mỹ và Hy Lạp, Jubb (1963) thông báo, một giun móc ký
sinh ở chó trong một ngày hút 0,78ml máu. Lượng máu bị mất ñi do giun móc
hút và bị chảy từ vết thương sẽ làm mất ñi chất Haematopotae ñược tạo thành
ở ruột, mà ñây là chất cần thiết cho việc tạo hồng cầu.
Nghiên cứu về tác hại của giun móc gây ra cho ký chủ, FAO (1993)
nhận xét: Giun móc con nhanh chóng bám vào thành ruột hút máu và tạo ra
các vết thương ở nhung mao ruột, làm cho các vết thương luôn rỉ máu. Tác giả
bài viết còn cho biết thời gian giun móc hút máu lúc ñói ñến khi no là 100 –
250 phút. Giun móc cái hút lượng máu nhiều hơn giun móc ñực. Một giun móc
trưởng thành hút của ký chủ 0,84ml máu trong khoảng 24 giờ.
Năm 1961, nghiên cứu tại Mỹ, Smith H. và cộng sự ñã chỉ ra rằng:
Ancylostoma caninum là nguyên nhân gây bệnh thiếu máu và khi ấu trùng xâm
nhập qua da vào cơ thể ký chủ sẽ gây viêm da. Trong một vài trường hợp ấu
trùng sau khi qua da có thể ñi sâu hơn vào mô và có thể là nguyên nhân gây
bệnh phổi và viêm cơ. Ấu trùng giun móc ñược phát hiện thấy thường xuyên
có mặt trong tự nhiên. Ấu trùng có thể sống vài tuần trong ñất ẩm nhưng chết
nhanh trong băng giá, hoặc trong ñiều kiện nóng, khô.
Nghiên cứu ở Liên Xô (cũ), Petrov A.M. (1977) cho thấy, từ những nơi
tổn thương gây ra bởi giun móc Ancylostoma caninum và Uncinaria
stenocephala, các vi khuẩn có sẵn trong ñường tiêu hoá sẽ xâm nhập vào các
vết thương, gây ra viêm ruột và dạ dày cấp tính, có thể gây tử vong cho chó.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
5



Giun móc trưởng thành sống ở ruột non của chó, tập trung ở tá tràng,
không tràng, kết tràng và ñẻ trứng tại ñó. Trứng theo phân ra ngoài gặp ñiều
kiện thích hợp: Nhiệt ñộ từ 20 - 30ºC sẽ phát triển thành ấu trùng. Ấu trùng
giai ñoạn 1 lột xác 2 lần ở môi trường ngoài và sau 6 - 7 ngày trở thành ấu
trùng cảm nhiễm. Sự phát triển của giun móc trong ruột chó ñến giai ñoạn
trưởng thành kéo dài 14 - 16 ngày. Thời gian sống của giun móc từ 8 - 20
tháng trong cơ thể chó.
Trứng giun móc ở ngoại cảnh gặp nhiệt ñộ, ñộ ẩm thích hợp, sau 1 tuần
ấu trùng ñược nở ra, qua 2 lần lột xác thành ấu trùng gây nhiễm, ấu trùng này
có màng bọc bên ngoài, dài 0,59 – 0,69 mm, có thể bò trên cây cỏ hoặc bò ở
tường, nền chuồng nuôi ñộng vật. Ấu trùng lẫn vào thức ăn, nước uống qua
ñường tiêu hoá vào cơ thể vật chủ, nhưng ñường truyền bệnh chủ yếu là chui
qua da trong tài liệu của Trịnh Văn Thịnh và cộng sự (1978).
Cũng theo tác giả Trịnh Văn Thịnh, tỷ lệ nhiễm Ancylostoma caninum ở
chó săn dao ñộng từ 75% - 82% tuỳ theo lứa tuổi và giống chó, chó sơ sinh
ñến 4 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm là 82%; chó từ 6 - 12 tháng tuổi nhiễm 75%;
chó trên 12 tháng tuổi nhiễm tỷ lệ 70%. Các giống chó có nguồn gốc nước
ngoài hoặc chó lai dễ mắc bệnh hơn với tỷ lệ 83%, các giống chó có nguồn
gốc trong nước có tỷ lệ nhiễm thấp hơn vào khoảng 63%.
Từ năm 1989 – 1991, Phạm Sỹ Lăng ñã xét nghiệm phân chó cảnh ở
vườn thú Thủ Lệ, thành phố Hà Nội, ñã phát hiện 5 loài giun tròn ký sinh ở
chó trong ñó có loài Ancylostoma caninum, tỷ lệ nhiễm là 72%. Hai nhóm giun
tròn gây hại lớn nhất cho chó là giun ñũa và giun móc. Trong ñó giun ñũa gây
hại cho chó con từ 1 - 4 tháng tuổi, giun móc gây tác hại cho chó từ 2 - 19
tháng tuổi. Thuốc Mebendazole với liều 0,09g/kg trọng lượng cho hiệu quả tẩy
trừ giun móc là 93%.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
7



tiêu hóa của chó tại một số ñịa phương tỉnh Thanh Hóa cho biết: Khi mổ khám
toàn diện ñường tiêu hóa của 177 chó nuôi tại một số ñịa ñiểm thuộc tỉnh
Thanh Hóa, kết quả cho thấy: Tỷ lệ nhiễm giun tròn của chó trung bình là
62,14%. Tỷ lệ nhiễm qua xét nghiệm phân là 64,41%. Phát hiện thấy 6 loài
giun tròn ký sinh ở ñường tiêu hoá của chó là Ancylostoma caninum,
Ancylostoma braziliense, Uncinaria stenocephala, Toxocara canis, Toxascaris
leonina, Trichuris vulpis. Các loài giun phát hiện ñều là những giun tròn phổ
biến ký sinh ở ñường tiêu hóa của chó. Tỷ lệ nhiễm A.caninum ở các vùng
nghiên cứu: Vùng núi, ñồng bằng khá cao, dao ñộng từ 43,85 - 53,33%. Chó ở
mọi lứa tuổi có tỷ lệ nhiễm khá cao ñối với Ancylostomatidae: 15,0 - 70,0%.
Những nghiên cứu khác về ñặc ñiểm bệnh lý do giun móc Ancylostoma
spp. như giun gây ra bệnh tích vi thể trên ký chủ như thế nào còn rất ít các tài
liệu tuy nhiên từ tổng quan tài liệu hữu ích trên là cơ sở, tiền ñề ñể tiếp tục
nghiên cứu sâu hơn ở cấp ñộ vi thể khi giun gây bệnh cho người và ñộng vật.

2.2 HIỂU BIẾT VỀ GIUN MÓC CHÓ ANCYLOSTOMA SPP.
2.2.2 Một số giun tròn kí sinh ở ñường tiêu hóa của chó
Giun tròn có hơn 5000 loài sống tự do và hơn 3000 loài sống kí sinh.
Tất cả chúng ñều thuộc ngành Nemathelminthes, lớp Nematoda.
Những công trình nghiên cứu của Trịnh Văn Thịnh (1963), Phan Thế
Việt và cs (1977), Phạm Sĩ Lăng (1990), Phạm Văn Khuê (1993) cho thấy: Ở
nước ta, chó nhiễm nhiều loài giun tròn, trong ñó số lượng loài ký sinh ở
ñường tiêu hóa là phổ biến. Những loài gây nhiều tác hại cho chó là giun ñũa
(Toxocara canis, Toxascaris leonina), giun móc (Ancylostoma caninum,
Ancylostoma braziliense, và Uncinaria stenocephala), giun tóc (Trichuris
vulpis) , giun thực quản (Spirocerca lupi). Trong phạm vi ñề tài, chúng tôi chỉ
nghiên cứu về loài giun móc Ancylostoma caninum, Ancylostoma braziliense
và Uncinaria stenocephala ký sinh ở ñường tiêu hóa của chó nhà.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp

1996). Xoang miệng sâu, có hình cầu, ñược kitin hóa hoàn toàn. Phía trước
thực quản không có phần phình rộng.
2.2.4 ðặc ñiểm sinh học của giun móc chó Ancylostoma spp.
• Hình thái
Theo mô tả của tác giả Skrajabin K.I. và Petrov A.M. (1977)
Ancylostoma spp. có ñặc ñiểm: ðầu cong về phía lưng, thân hơi dẹp về phía
trước. Ở vị trí vòng thần kinh có 2 gai. Miệng hình bầu dục, hướng về phía
lưng. Bao miệng cấu tạo rất ñặc biệt, to và nằm ở hai rìa phía trước của bụng,
có ñôi răng lớn ñối xứng hình chìa khóa cong về phía bụng. Từ ñáy của bao
miệng có phủ lớp kitin lồi lên tạo thành hình dạng như một thứ trang sức rất
ñặc biệt. Có 1 chỗ lồi ở phía lưng và 2 chỗ lồi ở phía bụng. Chỗ lồi lưng ñơn
chiếc, nằm ở giữa và ñi tới rìa xoang miệng, kề với thành bao miệng. Phía
bụng có 2 chỗ lồi hình ly mỏng manh, cạnh trước tù, nằm ñối xứng lườn bụng,
không kề vào thành bao miệng nhưng nhô ra ở 2 bên ñáy bao miệng. Có một
tuyến thực quản lưng theo ñường giữa của thân. Ống sinh dục ñực và cái rất
dài, uốn khúc theo hướng ngang.
Con ñực có túi ñuôi rất ñặc biệt, gồm 3 thùy: Thùy giữa nhỏ, 2 thùy bên
lớn hơn. Sườn bụng hơi phân nhánh ở ñỉnh. Các sườn bên tách từ nhánh chung
chia ra thành từng nhánh riêng. Sườn lưng ngoài tách khỏi nhánh chung và
nhánh lưng, ở phần cuối còn phân thành 2 nhánh ñối xứng, mỗi nhánh lại chia
thành 3 nhánh khác nhau. Kết quả là sườn lưng kết thúc bởi 6 ñỉnh tách rời
nhau với kích thước khác nhau. Gai giao cấu dài bằng nhau, tận cùng hình sợi
tóc, không có bánh lái.
Trịnh Văn Thịnh và cộng sự (1978) ñã miêu tả một số ñặc ñiểm về hình
thái của 3 loài giun móc như sau:
Ancylostoma caninum: Có màu vàng nhạt hoặc hồng nhạt, ñoạn trước
cong về phía lưng. Túi miệng rất sâu, ở rìa mép phía mặt bụng có 3 ñôi
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
11



+ Ấu trùng xuyên qua da, vào cơ thể ký chủ. Trong cơ thể ký chủ, ấu
trùng theo hệ thống tuần hoàn về tim, lên phổi, chui qua phế bào ñến khí quản,
rồi về ruột non, phát triển tới dạng trưởng thành. Khi ấu trùng di hành ở chó
trong thời kỳ mang thai, ấu trùng theo hệ thống tuần hoàn về ký sinh ở bào
thai, vì thế chó con khi ñẻ ra ñã có thể bị nhiễm giun móc. Thời gian hoàn
thành vòng ñời của giun móc chó từ 14 ñến 20 ngày.
Theo Petrov A.M và Skrajabin K.I (1977), cảm nhiễm ấu trùng
Ancylostoma caninum ở chó con nặng hơn ở chó trưởng thành. Tuy nhiên, khi
ấu trùng chui qua da chó con thì ít gây ra phản ứng, trong khi ñó ấu trùng gây
ra phản ứng viêm rõ rệt khi chui qua da của chó trưởng thành. Hiện tượng này
ñược giải thích là do ấu trùng chết và bị giữ lại ở da chó trưởng thành và gây
ra phản ứng viêm cục bộ tại ñó.
Theo Phan ðịch Lân, Phạm Sĩ Lăng, ðoàn Văn Phúc (2005) cho biết,
trứng theo phân ra ngoài gặp ñiều kiện thích hợp: ðủ oxy, ñộ ẩm cao, nhiệt ñộ
24
o
- 35
o
C trong bóng mát, pH trung tính thì sau 24- 48h trứng sẽ phát triển
thành ấu trùng, ở nhiệt ñộ 27
o
C thì chỉ cần 24h trứng sẽ phát triển thành ấu
trùng (theo Looss), ở 20-30
o
C trứng phát triển thành ấu trùng mà không cần
vật chủ trung gian. Ấu trùng giai ñoạn 1 lột xác 2 lần ở môi trường bên ngoài
và sau 6 ñến 7 ngày trở thành ấu trùng gây nhiễm.
Ancylostoma spp. trong ruột chó phát triển ñến giai ñoạn trưởng thành mất
14- 16 ngày. Giun có thể sống 8-20 tháng trong cơ thể chó. Ở Liên Xô cũ, người

2
cơ bản giống ấu trùng A
1
về cấu tạo, nhưng kích thước lớn hơn,
hoạt ñộng mạnh hơn.
Trong ñiều kiện thích hợp, từ vài giờ ñến vài chục giờ, ấu trùng A
2
tiếp
tục lột xác trở thành ấu trùng A
3
(ấu trùng gây nhiễm). Ấu trùng A
3
dài hơn A
2

và có thêm lớp vỏ bọc mới. Nhờ lớp vỏ này, ấu trùng có sức ñề kháng cao với
ñiều kiện ngoại cảnh bất lợi. Các lỗ tự nhiên như lỗ miệng, hậu môn, lỗ bài tiết
bị bịt kín bởi lớp biểu bì cũ. Thực quản của ấu trùng A
3
hình ống, phình ra ở
phía sau, không có chỗ phình và van tạo thực quản hình sợi. Ruột cũng có
nhiều biến ñổi. Ấu trùng sử dụng những hạt dinh dưỡng tích tụ trong tế bào
ruột làm thức ăn. Ấu trùng giai ñoạn này có thể di ñộng theo chiều thẳng ñứng,
nó có thể trườn lên cây cỏ. Sự di chuyển của ấu trùng phụ thuộc nhiều yếu tố
của ngoại cảnh. Ấu trùng chỉ di chuyển khi nhiệt ñộ bên ngoài >10
o
C và cỏ ẩm
ướt. Khi ánh sáng mạnh, ấu trùng di chuyển xuống ẩn nấp ở dưới gốc cây cỏ.
Một số ấu trùng xâm nhiễm vào cơ thể vật chủ qua da thì sẽ vào hạch
lâm ba, mao quản hay tĩnh mạch rồi theo máu qua tim, phổi, ñộng mạch, phế

C, dưới 22
o
C trứng phát triển chậm, 12- 17
o
C trứng giun móc
ngừng phát triển. Khi nhiệt ñộ 0
o
C, trứng và ấu trùng dễ bị chết. Vì vậy ở
những vùng giá rét rất ít có bệnh giun móc. Ở nhiệt ñộ 37
o
C trứng tuy phát
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
15

triển rất nhanh nhưng không thể hoàn thành quá trình phát triển nên một số bị
chết. Khi nhiệt ñộ 40
o
C toàn bộ trứng và ấu trùng chết nhanh. Những nơi ẩm
ướt, thiếu ánh sáng, ấu trùng Ancylostoma caninum có thể tồn tại ñược một
thời gian dài.
- Tình hình phân bố ấu trùng giun móc ở bên ngoài: Phạm vi hoạt ñộng
của ấu trùng giun móc tương ñối hẹp, thường phân tán ở xung quanh phân,
không di chuyển ñược xa. Ở ñất xốp chỉ khoảng 10 cm, vì thế chó nuôi nhốt
trong chuồng ở sân chơi hẹp thường hay bị tái nhiễm ấu trùng phân tán ở bên
ngoài.
- ðường truyền lây: Bệnh truyền lây theo hai con ñường, qua thức ăn
nước uống hoặc ấu trùng cảm nhiễm chui qua da kí chủ. Khi chó nhiễm ấu
trùng qua da, ấu trùng theo tuần hoàn qua phổi. Ở phổi, ấu trùng dừng lại một
thời gian rồi sau ñó tiếp tục vào ñường tiêu hóa sau 6- 9h, tính từ lúc chúng
xâm nhập vào da. Ấu trùng từ phổi xâm nhập vào ñường tiêu hóa mạnh nhất

(không tràng, hồi tràng và tá tràng là chủ yếu), khi bám vào chúng còn tiết ra
chất ức chế quá trình ñông máu nên máu vẫn tiếp tục chảy rỉ rả liên tục, lượng
máu mất ñi tuy ít nhưng kéo dài trong thời gian dài dẫn ñến thiếu máu mạn
tính. Mặc dù hiện tượng xuất huyết trong lòng thành ruột thường xuyên xảy ra
nhưng ít khi chúng ta thấy ñược hình ảnh ñại thể của máu trong phân do lượng
máu này thường ít và chảy rỉ rả nên bị thoái biến dần trong lòng ống tiêu hóa.
Tác ñộng chiếm ñoạt dinh dưỡng của giun móc xảy ra thường xuyên,
liên tục trong suốt quá trình kí sinh ở ñường tiêu hóa. Tác ñộng này tỷ lệ thuận
với số lượng giun móc kí sinh.
• Tác ñộng do ñộc tố của giun móc
Trong quá trình kí sinh, những chất tiết của giun (một trong số các chất
tiết ấy là chất kháng ñông) hoặc những hoạt ñộng của giun thúc vào thành ruột
gây những hiệu ứng hóa học khiến cho thành ruột bị tổn thương. ðộc tố của
giun móc gây thiếu máu, thoái hóa, biến dạng nhung mao ruột, hạn chế sự
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
17

chuyển hóa và hấp thu dinh dưỡng, vitamin, gây buồn nôn, nôn mửa, ñau
bụng, ñại tiện phân lỏng, có thể phân lỏng kèm theo máu.
• Tác ñộng gây viêm nhiễm kế phát
Trong quá trình xâm nhiễm vào cơ thể kí chủ, giun móc mang theo một
số mầm bệnh gây ra tác ñộng viêm nhiễm kế phát.
Bình thường bệnh do giun móc không gây tác ñộng mạnh làm chết ñộng
vật mà chỉ làm suy giảm sức ñề kháng của cơ thể, làm giảm sức sống, giảm
sản lượng…Nhưng bệnh sẽ trở nên trầm trọng gây ra hậu quả rất xấu khi có
hiện tượng nhiễm trùng kế phát. ðối với trường hợp ấu trùng giun xâm nhiễm
qua da di hành khắp cơ thể mang theo vi khuẩn hoặc tạo ñiều kiện cho vi
khuẩn xâm nhập và gây bệnh kế phát tại nơi giun gây ra tổn thương. Như vậy,
chó nhiễm giun móc là một trong các nhân tố tạo ñiều kiện cho các bệnh khác
phát sinh, phát triển: Bệnh Care, bệnh do Parvovirus, bệnh viêm phổi, viêm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status