MỤC LỤC Trang
Ph n I: T ng quan v công ngh s n xu t bánh ph khôầ ổ ề ệ ả ấ ở 4
I. t v n .Đặ ấ đề 4
II. Quy trình công ngh s n xu t bánh ph khô.ệ ả ấ ở 4
1. Chu n b d ch b t.ẩ ị ị ộ 5
2. Quá trình tráng: 6
3. Quá trình s y.ấ 8
4. Bao gói v b o qu n.à ả ả 14
Ph n II: Phân tích quá trình v l a ch n ph ng án s yầ à ự ọ ươ ấ 15
I- Phân tích quá trình s y:ấ 15
1. Giai o n t nóng v t.đ ạ đố ậ 15
2. Giai o n s y gi m d n.đ ạ ấ ả ầ 15
II- L a ch n ph ng án s y:ự ọ ươ ấ 17
1> Thi t b s y i l u.ế ị ấ đố ư 17
2> Thi t b s y ti p xúcế ị ấ ế 29
3> Thi t b s y b c x .ế ị ấ ứ ạ 31
Ph n 4: Tính toán h th ngầ ệ ố 32
I. Ch n nhi t tác nhân:ọ ệ độ 32
II. S nguyên lý c a h th ng.ơđồ ủ ệ ố 32
III. Tính nhi t cho h m s y.ệ ầ ấ 32
1. N ng su t s y v n ng su t b c h i m.ă ấ ấ à ă ấ ố ơ ẩ 32
2. Xây d ng quá trình s y lý thuy t v tính l ng không khí c n thi t:.ự ấ ế à ượ ầ ế
33
IV. Xác nh kích thđị c h m s y.ướ ầ ấ 34
1. Kích th c phên ph i bánh:ướ ơ 34
V. Tính toán nhi t cho h m s y.ệ ầ ấ 36
1. Nhi t lệ ng c n thi t b c h i 1kg m:ượ ầ ế để ố ơ ẩ 36
2. T n th t nhi t do 1kg v t li u s y mang i:ổ ấ ệ ậ ệ ấ đ 36
3. T n th t do xe mang i:ổ ấ đ 37
4. T n th t nhi t ra môi trổ ấ ệ ng xung quanh.ườ 37
5. T ng t t c các t th t b ng.ổ ấ ả ổ ấ ằ 43
thiết bị như : thiết bị sấy (thùng sấy, buồng sấy , hầm sấy , tháp sấy v.v )
thiết bị đốt nóng tác nhân sấy (calorifer) hoặc thiết bị lạnh để làm khô tác
nhân sấy, quạt, bơm và một số thiết bị phụ khác như buồng đốt, xyclon
v.v Chúng ta gọi hệ thống các thiết bị thực hiện một quá trình sấy cụ thể nào
đó là một hệ thống sấy.
Kỹ thuật sấy hiện nay đang được ứng dụng rộng rãi ở Việt Nam để phục
vụ sản xuất, nhằm đáp ứng yêu cầu đó, trong phạm vi đồ án tốt nghiệp tác giả
đã được giao nhiệm vụ thiết kế hệ thống sấy hầm để sấy bánh phở, theo
những yêu cầu mà trong đề tài đồ án tốt nghiệp đã có, nội dung như sau :
“Thiết kế hệ thống sấy bánh phở với năng suất G
2
=48 kg/h”
1. Tính toán nhiệt hệ thống sấy.
2. Thiết kế chi tiết hầm sấy, calorifer khí khói.
3. Bố trí thiết bị và chọn quạt.
3
Phần I: Tổng quan về công nghệ sản xuất bánh phở khô
I. Đặt vấn đề.
Lương thực thực phẩm là một trong ba chương trình phát triển kinh tế
của đất nước mà đại hội VI đã chỉ rõ “Lương thực thực phẩm hàng tiêu dùng
là những điều kiện vật chất quan trọng nhất để ổn định tình hình kinh tế xã
hội và đời sống nhân dân, xuất khẩu là một yếu tố có ý nghĩa quyết định để
thực hiện hai chương trình đó và các hoạt động khác”
Để phục vụ cho chương trình lương thực thực phẩm chúng ta phải gắn
việc phát triển nông nghiệp với công nghiệp chế biến thực phẩm. Công
nghiệp chế biến thực phẩm không những phục vụ nhu cầu ăn uống của đời
sống nhân dân mà còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị trên thị trường thế
giới, nhất là trong thời kỳ công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa.
Trong một số các mặt hàng xuất khẩu nông sản, bánh đa nem cũng là
một mặt hàng được thế giới ưa thích, đó là một món ăn đặc sản của Việt Nam.
vào hạt gạo nhằm mục đích làm giảm các mối liên kết → làm cho hạt nở ra,
để tăng hiệu quả cho giai đoạn nghiền.
1.3 Xay:
Trong sản xuất bột và tinh bột gạo, muốn giải phóng được tinh bột gạo
thì phải xay ướt. Xay ướt thì bột mới mịn và khi làm bánh mới dai.
Thường người ta xay bột trên cối xay bằng đá hoặc loại đĩa. Các loại cối
này có thể có quay tay hoặc chạy bằng động cơ. Cứ 1kg gạo xay thì cho vào
0,8 lít nước sạch.
Sau khi xay xong, dịch bột gạo được tập trung vào một nồi (nồi nhôm
hoặc inox) để lắng trong một đêm. Mục đích của quá trình ngâm và gạn nước
trong là vì thành phần của gạo có một số chất làm giảm độ dai của bánh phở
khi tráng như: xenluloza, protein, đường, việc tách xenluloza bằng cách xay
5
xát gạo kỹ, còn tách đường bằng cách ngâm dịch bột và gạn nước trong đi
thay bằng nước sạch mới vì đường đã tan vào nước cũ.
Sau khi ngâm, sáng ngày sau gạn hết nước trong nồi rồi thêm nước mới
vào, điều chỉnh nồng độ bột theo như lượng nước ở trên. Khuấy dịch bột lên
chúng ta được dịch cho quá trình tráng.
2. Quá trình tráng:
2.1 Thiết bị tráng thủ công:
Thường được sử dụng hai loại thiết bị sau:
2.1.1 Loại tráng đơn chiếc từng nồi riêng biệt:
Hình 1: Nồi tráng bánh phở
Phương pháp này được sử dụng từ xưa tới nay. Dụng cụ gồm một nồi
(nhôm, đồng hoặc inox) có đường kính từ 400 đến 500 mm. Nước đổ vào
khoảng 1/3 chiều cao nồi. Phía trên miệng nồi người ta căng một tấm vải dày,
mịn làm bề mặt tráng, trên có vung đậy kín, nồi được đun bằng bếp than, củi
có thể cả bằng bếp ga.
2.1.2 Thiết bị tráng dạng băng chuyền:
Loại thiết bị tráng này kết hợp các thiết bị nồi tráng đơn lẻ trên. Cấu tạo
sức lao động, hiện nay nhiều địa phương đã tráng bánh phở trên loại máy
tráng liên tục như hình 3:
+ Thùng chứa dịch bột (1): bằng nhôm hoặc inox
7
+ Băng tráng (4): bằng vải mịn, bề mặt băng rộng 600 mm được dệt
thành vòng tròn liền phù hợp với bố trí dài khoảng 9000 mm.
+ Nồi nấu nước sôi (5): bằng thép dày 3 mm
+ Lò than (9): liền với nồi nấu nước sôi cũng bằng thép 3 mm, dài bằng
nồi hơi hoặc xây gạch. Lò có 2 cửa đốt than (do nồi dài 3 m)
+ Con lăn đỡ (6): là ống thép tráng kẽm φ20
+ Nắp nồi (3): làm bằng tôn hoa
+ Phên phơi bánh:
600
1800
Hình 4: Phên phơi bánh phở
+ Bộ phận dẫn động (7): có nhiệm vụ quay băng tráng. Công suất động
cơ khoảng 1kW và tốc độ băng khoảng 1 m/ph đến 2 m/ph.
Quá trình tráng như sau: dịch bột đã được chuẩn bị được chứa trong nồi
phía dưới có van cho dịch bột xuống. Thanh (2) sẽ điều chỉnh độ dài của bánh
bằng điều chỉnh lượng bột ra băng. Qua vùng hấp, dịch bột sẽ chín, bánh phở
được tách ra các tấm phên để đi phơi, sấy, hoặc vận chuyển đi. Quá trình
tráng cứ tiếp tục như vậy, bột vẫn tiếp tục tráng trên băng và các phên cứ ra
bánh liên tục cho đến khi hết bột.
Bánh phở sản xuất theo phương pháp này có ưu điểm rẻ, năng suất cao.
3. Quá trình sấy.
Trong sản xuất bánh phở khô, sấy khô là công đoạn rất quan trọng. Sấy
khô sản phẩm có nhanh hay không quyết định tới năng suất của thiết bị. Chế
độ sấy hợp lý quyết định thời gian sấy cũng như hình dáng của sản phẩm, tức
8
Hình 5: Thiết bị sấy bánh phở.
1. Lò than 4. Hầm sấy
2. Giàn ống sinh nhiệt 5. Xe chở phên bánh
3. Quạt gió
Nguyên lý làm việc của thiết bị này như sau: Đầu tiên đốt lò thanh (cùng
lúc với đốt lò máy tráng). Khi quá trình tráng bắt đầu, bánh được lấy ra trải
trên các phên. Lần lượt xếp các phên lên các xe từ tầng 1 đến tầng 2. Xe nào
đầy thì đẩy vào hầm sấy. Bật quạt thổi gió nóng vào hầm, quá trình sấy được
tiến hành khoảng 1 giờ thì đảo xe 1 lần. Sau thời gian sấy 2 giờ thì đưa toàn
bộ xe ra cho sản phẩm mới vào (để nguyên cả khung bánh cho bánh khô tiếp).
Khi bánh khô bóc đều ra xếp chồng lên nhau để điều hoà ẩm tạo điều kiện
thuận lợi cho công đoạn cắt.
3.2 Quá trình cắt sợi:
Cắt sợi là công đoạn tạo sợi cho bánh phở, khi bánh sấy đạt độ ẩm từ 17 -
20% được đưa qua thiết bị cắt để cắt các tấm thành sợi có chiều rộng từ 4 - 6
mm. Thiết bị cắt gồm có 2 trục song song nhau:
10
2
4
3
1
1 - M¸y c¾t ra sîi
2 - Trôc c¾t døíi
3 - Trôc c¾t trªn
4 - M¸ng vµo tÊm b¸nh
Hình 6: Cơ cấu cắt bánh phở thành sợi
3.2. Quá trình sấy khô lần cuối.
Mục đích của sấy khô lần cuối là sấy cho bánh phở đạt độ ẩm bảo quản
không bị mốc (≤ 14%).
Cũng tương tự quá trình sấy sơ bộ, quá trình sấy khô lần cuối cũng có thể
khỏi hầm sấy cần để nguội rồi mới lấy bánh ra khỏi các sào sấy.
3.2.3 Sấy khô bằng phòng điều hoà ẩm:
Với những cơ sở sản xuất ở quy mô trung bình hoặc khá lớn thường
dùng phòng điều hoà để làm khô bánh phở ở giai đoạn cuối. Phương pháp này
còn gọi là sấy ở nhiệt độ thấp. Vậy sấy ở nhiệt độ thấp xảy ra như thế nào?
Tại sao không sấy ở nhiệt độ cao mà lại sấy ở nhiệt độ thấp?
Chúng ta biết rằng quá trình sấy là quá trình làm bay hơi ẩm khỏi vật
liệu. Ẩm bay hơi khỏi vật liệu là nhờ có chênh lệch ẩm giữa vật liệu và không
khí xung quanh, chênh lệch này càng cao thì khả năng thoát ẩm càng nhanh
và quá trính xảy ra càng nhanh và ngược lại chênh lệch này càng ít thì khả
năng bay hơi ẩm của vật liệu càng chậm và quá trình sấy càng lâu. Trường
hợp ẩm của vật liệu cân bằng với không khí thì không có quá trình bay hơi
nghĩa là không có quá trình sấy xảy ra.
Để tạo nên chênh lệch ẩm có hai phương pháp:
12
- Phương pháp tăng nhiệt độ: khi nhiệt độ tăng thì độ ẩm tương đối của
không khí giảm dần đến chênh lệch ẩm của vật liệu và không khí tăng.
Phương pháp này phù hợp sấy các loại vật liệu chịu được nhiệt sấy cao.
- Phương pháp giảm nhiệt độ: khi nhiệt độ không khí giảm thì độ bão hoà
của không khí giảm và độ ẩm tương đối của không khí do đó cũng giảm theo
dẫn đến chênh lệch ẩm của vật liệu và không khí tăng. phương pháp này thích
hợp cho sấy những loại vật liệu thích hợp ở nhiệt độ thấp.
Từ những phân tích trên ta thấy rằng với sản phẩm bánh phở thì sấy khô
ở nhiệt độ thấp cũng là một phương pháp thích hợp.
Thiết bị của phương pháp này gồm :
+ Một phòng kín đặt máy điều hoà hoặc máy tách ẩm: mục đích là tách
nước của không khí làm cho độ ẩm của không khí giảm không khí sẽ khô
hơn. Kích thước của phòng phụ thuộc vào năng xuất của bánh phở cần làm
khô.
+ Các giá để treo các sào bánh và đặt các khay bánh phở nắm.
phở khô nước ta hiện nay. Tuỳ theo điều kiện kinh tế ở mỗi nơi mỗi khác và
khả năng tiêu thụ mà người sản xuất có thể tổ chức sản xuất ở quy mô và
trang bị như thế nào cho phù hợp.
14
Phần II: Phân tích quá trình và lựa chọn phương án sấy
I- Phân tích quá trình sấy:
Khi sấy thì lượng ẩm trong sản phẩm sấy bay hơi và giảm dần theo thời
gian, do đó tốc độ sấy cũng biến đổi theo thời gian và nó biến đổi theo độ ẩm
của sản phẩm sấy, qua quá trình nghiên cứu người ta thấy quá trình sấy của
sản phẩm ướt đến độ ẩm cân bằng gồm ba giai đoạn chính.
1. Giai đoạn đốt nóng vật.
Giai đoạn này bắt đầu từ khi đưa vật liệu sấy vào thiết bị sấy tiếp xúc với
tác nhân sấy cho tới khi nhiệt độ vật đạt đến bằng nhiệt độ nhiệt kế ướt ( t
ư
).
Trong quá trình này toàn bộ vật liệu sấy được gia nhiệt, ẩm lỏng trong vật
cũng được gia nhiệt cho tới khi đạt đến nhiẹt độ sôi tương ứng với phân áp
suất hơi nước trong môi trường không khí của thiết bị sấy. Do bị làm nóng
nên độ ẩm của vật có giảm chút ít do bay hơi ẩm còn nhiệt độ của vật thì tăng
dần từ nhiệt độ ban đầu cho đến khi bằng nhiệt độ nhiệt kế ướt. Tuy vậy sự
tăng nhiệt độ trong quá trình này xảy ra không đồng đều ở phần ngoài và phần
trong vật. Vùng trong vật đạt tới t
ư
chậm hơn. Đối với vật dễ sấy thì giai đoạn
làm nóng xảy ra rất nhanh.
2. Giai đoạn sấy giảm dần.
Kết thúc quá trình gia nhiệt, nhiệt độ vật bằng nhiệt độ nhiệt kế ướt. Tiếp
tục cung cấp nhiệt, ẩm trong vật sẽ hoá hơi còn nhiệt độ của vật giữ không đổi
nên nhiệt lượng cung cấp chỉ để hoá hơi nước, ẩm sẽ hoá hơi ở lớp vật liệu sát
ngừng lại, có nghĩa là tốc độ sấy bằng không (
0=
∂
∂
τ
u
). Trong giai đoạn này
nhiệt độ vật tăng lớn hơn nhiệt độ nhiệt kế ướt. Nhiệt độ ở các lớp bên ngoài
bề mặt tăng nhanh hơn còn càng sâu vào bên trong vật nhiệt độ tăng chậm do
đó hình thành gradien nhiệt độ trong vật sấy. Khi độ ẩm của vật đã đạt đến độ
ẩm cân bằng thì lúc này giữa vật sấy và môi trường có sự cân bằng nhiệt và
ẩm. Có nghĩa là không có sự trao đổi nhiệt và chất giữa vật và môi trường
( nhiệt độ vật bằng nhiệt độ môi trường, còn độ ẩm của vật là độ ẩm cân
bằng ).
Đường cong vận tốc sấy được mô tả như sau:
16
BK
1
W
k
AC
W%
dω
Fdτ
Hình 8: Đường cong vận tốc sấy
- Đoạn AB: giai đoạn đốt nóng sản phẩm sấy, nhiệt độ sản phẩm sấy
tăng nhanh đến nhiệt độ tác nhân sấy, độ ẩm sản phẩm thay đổi
không đáng kể, vận tốc sấy tăng nhanh đến giá trị cực đại.
- Đoạn BK
khí nóng hoặc khói lò. Không khí được đốt nóng nhờ calorifer điện hoặc
calorifer khí - khói. Calorifer được đặt phía dưới các thiết bị đỡ vật liệu hoặc
hai bên sườn buồng sấy. Trong thiết bị sấy buồng ta có thể tổ chức cho tác
nhân sấy lưu động tự nhiên (không có quạt) hoặc cưỡng bức nhờ một hệ
thống quạt gió. Kết cấu của thiết bị sấy buồng đối lưu cưỡng bức có đốt nóng
trung gian có thể có dạng như hình vẽ sau:
9
3
2
4
7
8
6
5
8
7
4
2
5
1. Xe goòng chứa vật liệu 2. Quạt li tâm
3. Động cơ kéo quạt 4, 5. calorifer
6. Cửa buồng sấy 7. ống dẫn không khí
8. ống thải tác nhân 9. vách ngăn
Hình 9: Thiết bị sấy buồng có đốt nóng trung gian.
Khi thiết kế thiết bị sấy buồng với các tác nhân sấy đối lưu tự nhiên
chúng ta cần bố trí các thiết bị phụ như giá đỡ, khay sao cho tác nhân sấy có
thể và dễ dàng đi qua vật liệu sấy để truyền nhiệt và nhận ẩm thải ra ngoài. Vì
vậy, mật độ vật liệu sấy trên khay, khe hở giữa thành khay với tường thiết bị
sấy, kích thước và vị trí lỗ thoát ẩm có một ý nghĩa đặc biệt trong thiết bị sấy
buồng. Khe hở giữa thành khay và tường thiết bị sấy nên bố trí để cho thao
b> Thiết bị sấy hầm.
Thiết bị sấy hầm là một trong những thiết bị sấy đối lưu được dùng phổ
biến trong công nghiệp. Nó cũng được dùng để sấy các vật liệu dạng cục,
hạt với năng suất cao và có thể dễ dàng cơ giới hoá. Khác với các thiết bị
19
buồng là sấy từng mẻ, trong thiết bị sấy hầm vật liệu sấy được đưa vào và lấy
ra gần như liên tục.
Hầm sấy thường dài từ 10 ÷ 15 m hoặc lớn hơn. Chiều cao và chiều dài
hầm phụ thuộc vào xe goòng và khay tải vật liệu sấy. Đối với điều kiện Việt
Nam chiều cao hầm sấy vào khoảng 1200 ÷ 1600 mm và chiều rộng hầm từ
1200 ÷ 1400 mm. Hầm sấy thường được xây bằng gạch đỏ có cách nhiệt hoặc
không. Trần hầm sấy làm bằng bêtông cách nhiệt. Khi xây dựng hầm sấy
chúng ta chú ý đến vấn đề xử lý nền hầm sấy. Theo kinh nghiệm tổn thất nhiệt
qua nền đối với điều kiện Việt Nam là rất lớn và phụ thuộc nhiều vào điều
kiện địa chất nơi xây dựng như: độ ẩm của đất, phía dưới có nước ngầm hay
không có thể lấy tổn thất qua nền vào khoảng q
N
=10 ÷ 15 W/m
2
.
Thiết bị chuyền tải vật liệu sấy trong thiết bị sấy hầm thường là xe goòng
hoặc băng tải. Xe goòng dùng trong thiết bị sấy hầm ở Việt Nam chưa được
tiêu chẩn hoá. Hiện nay thường dùng xe goòng cao từ 1100 ÷ 1500 mm, dài
và rộng từ 500 ÷ 1000 mm. Trên xe bố trí từ 10 ÷ 15 khay tải vật liệu với diện
tích mỗi khay trên dưới 1 m
2
. Cũng như trong thiết bị sấy buồng mật độ vật
liệu sấy trên khay ở đây cũng phụ thuộc vào từng loại vật liệu và cũng bố trí
từ 2 ÷ 5 kg/m
2
bị sấy hầm ở Việt Nam cũng chưa được chuẩn hoá. Thông thường, chúng ta
phải tự thiết kế hoặc chọn hệ thống tời đẩy hoặc kéo tuỳ thuộc vào khối lượng
xe goòng, khay, vật liệu sấy và tổng các ma sát có thể có của hệ thống.
c> Thiết bị sấy tháp.
Thiết bị sấy tháp là thiết bị sấy chuyên dụng để sấy các loại hạt như thóc,
ngô, đậu có độ ẩm ban đầu không lớn lắm (
%3020
1
÷=
ω
) vật liệu sấy có thể
tự dịch chuyển dễ dàng từ trên đỉnh tháp xuống dưới nhờ chính trọng lượng
của nó. Đôi khi trong thiết bị sấy tháp người ta còn đặt các kết cấu cơ khí
thêm để làm chậm hoặc tăng cường tốc độ dịch chuyển của khối hạt. Sản
phẩm sấy trong thiết bị sấy tháp có thể lấy ra liên tục hoặc định kỳ.
21
Đặc điểm của thiết bị sấy tháp khác với các thiết bị sấy buồng, hầm là
các kênh gió nóng và các kênh thải ẩm được bố trí xen kẽ ngay trong khối vật
liệu sấy. Tác nhân sấy từ kênh dẫn gió nóng luồn lách qua lớp vật liệu sấy để
thực hiện quá trình sấy rồi nhận thêm ẩm đi vào kênh thải ra ngoài. Trong
thiết bị sấy tháp nhiệt lượng vật liệu sấy nhận được gồm hai thành phần:
thành phần đối lưu giữa tác nhân sấy nhận được gồm hai thành phần: thành
phần đối lưu giữa tác nhân sấy với khối hạt và thành phần dẫn nhiệt giữa bề
mặt các kênh gió nóng, kênh thải ẩm với chính lượng vật liệu ẩm nằm trên đó.
Để tăng năng suất thiết bị ngoài phương pháp mở rộng dung lượng tháp,
ở một mức độ đáng kể người ta còn tìm cách tăng tốc độ tác nhân chuyển
động qua lớp hạt, tốc độ này có thể từ 0,2 ÷ 0,3 m/s đến 0,6 ÷ 0,7 m/s hoặc
lớn hơn. Tuy nhiên, tốc độ tác nhân khi ra khỏi ống góp kênh thải ẩm theo
kinh nghiệm không nên vượt quá 6 m/s để tránh hạt bị cuốn theo tác nhân đi
vào hệ thống thải ẩm và đọng lại trong các đoạn ống dẫn đến quạt thải.
Theo kinh nghiệm khoảng cách tối thiểu giữa hai kênh để cho vật liệu
sấy chuyển động phụ thuộc vào từng loại vật liệu và có thể từ 10 ÷ 100 mm
hoặc lớn hơn.
d> Thiết bị sấy thùng quay.
Thiết bị sấy thùng quay cũng là một thiết bị sấy chuyên dùng để sấy vật
liệu dạng hạt hoặc bột nhão, cục nhưng có thể có độ ẩm ban đầu lớn, và khó
tự dịch chuyển nếu dùng thiết bị sấy tháp. Phần chính của thiết bị sấy thùng
quay là một trụ tròn đặt nằm nghiêng so với mặt phẳng ngang một góc nào đó
cố định hoặc biến đổi. Thông thường, góc nghiêng đó nằm trong khoảng 1/15
÷ 1/50. Trong thùng quay tuỳ theo tính chất của vật liệu sấy, người ta có thể
đặt các cánh xáo trộn, vách ngăn để tăng cường quá trình sấy.
Hình dạng và cách bố trí cac vách ngăn có thể bố trí theo sơ đồ sau:
23
(a)
(b)
a) b)
d)c)
e) f)
Hình 11: Sơ đồ cấu tạo cánh trong thiết bị sấy thùng
Đối với vật liệu sấy dạng cục to nhưng xốp, nhẹ trong thùng sấy có thể
bố trí các cách như hình (a). Ngược lại, với vật liệu sấy dạng cục to, nặng thì
nên bố trí cánh có phân vùng rơi như hình (b). Khi sấy vật liệu dạng hạt hoặc
cục nhỏ, nhẹ người ta thường dùng dạng cánh và phân vùng như hình (c) và
hình (d). Đối với vật liệu sấy có kính thước hạt quá bé có thể tạo thành bụi thì
nên dùng cánh có vách ngăn dạng (e).
Độ điền đầy của vật liệu sấy trong thùng cũng phụ thuộc vào dạng vật
liệu sấy và cấu tạo của thùng sấy có thể đạt từ 20 ÷ 50%.
Tác nhân sấy sử dụng trong thiết bị sấy thùng quay thường là không khí
nóng hoặc khói lò. Nó có thể chuyển động cùng chiều hoặc ngược chiều
chuyển động của vật liệu sấy. Nhưng do kết cấu, trong phần lớn các trường