Tap huan Ma tran va Bien soan de kiem traTai lieu boi duong bien soan de kiem tra THCS-Tieng Anh - Pdf 26

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VỤ GIÁO DỤC TRUNG HỌCCHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN
GIÁO DỤC TRUNG HỌC
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG
CÁN BỘ QUẢN LÍ VÀ GIÁO VIÊN
VỀ BIÊN SOẠN ĐỀ KIỂM TRA,
XÂY DỰNG THƯ VIỆN CÂU HỎI VÀ BÀI TẬPMÔN TIẾNG ANH
CẤP TRUNG HỌC CƠ SỞ
(Tài liệu lưu hành nội bộ)

Hà Nội, tháng 12 năm 2010
5. Các bước tiến hành biên soạn câu hỏi của mỗi môn học 77
6. Sử dụng câu hỏi của mỗi môn học trong thư viện câu hỏi 79
PHẦN THỨ BỐN:
HƯỚNG DẪN TỔ CHỨC TẬP HUẤN TẠI CÁC ĐỊA PHƯƠNG 80
PHỤ
LỤC 82 3
PHẦN THỨ NHẤT
ĐỊNH HƯỚNG CHỈ ĐẠO VỀ ĐỔI MỚI KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ
Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh nhằm theo dõi quá trình học
tập của học sinh, đưa ra các giải pháp kịp thời điều chỉnh phương pháp dạy của
thày, phương pháp học của trò, giúp học sinh tiến bộ và đạt được mục tiêu giáo
dục.
Theo Từ điể
n Tiếng Việt, kiểm tra được hiểu là: Xem xét tình hình thực tế
để đánh giá, nhận xét. Như vậy, việc kiểm tra sẽ cung cấp những dữ kiện, những
thông tin cần thiết làm cơ sở cho việc đánh giá học sinh.
Một số nhà nghiên cứu cho rằng: “Kiểm tra là thuật ngữ chỉ cách thức hoặc
hoạt động giáo viên sử dụng để thu thập thông tin về biểu hiện kiến thức, kỹ
năng
và thái độ học tập của học sinh trong học tập nhằm cung cấp dữ kiện làm cơ sở cho
việc đánh giá”; Kiểm tra được hiểu theo nghĩa rộng như là theo dõi quá trình học
tập và cũng có thể được hiểu theo nghĩa hẹp như là công cụ kiểm tra hoặc một bài
kiểm tra trong các kỳ thi”; “Việc kiểm tra cung cấp những dữ kiện, những thông tin
làm cơ sở cho việc đ
ánh giá”.
Có nhiều khái niệm về Đánh giá, được nêu trong các tài liệu của nhiều tác
giả khác nhau. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Đánh giá được hiểu là nhận định giá trị”.

(quantitative) dựa vào các con số hoặc định tính (qualitative) dự vào các ý kiến và
giá trị”.
Đánh giá gồm có 3 khâu chính là: Thu thập thông tin, xử lí thông tin và ra
quyết định. Đánh giá là một quá trình bắt đầu khi chúng ta định ra một mục tiêu
phải theo đuổi và kết thúc khi đưa ra quyết định liên quan đến mục tiêu đó, đồng
thời cũng lại mở đầu cho một chu trình giáo d
ục tiếp theo.
Đánh giḠthực hiện đồng thời 2 chức năng: vừa là nguồn thông tin phản hồi
về quá trình dạy học, vừa góp phần điều chỉnh hoạt động này.
Chuẩn đánh giá là căn cứ quan trọng để thực hiện việc đánh giá, chuẩn được
hiểu là yêu cầu cơ bản, tối thiểu cần đạt được trong việc xem xét chất lượng sản
phẩ
m.
Việc đánh giá phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau đây
1. Đảm bảo tính khách quan, chính xác
Phản ánh chính xác kết quả như nó tồn tại trên cơ sở đối chiếu với mục tiêu
đề ra, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người đánh giá.
2. Đảm bảo tính toàn diện
Đầy đủ các khía cạnh, các mặt cần đánh giá theo yêu cầu và mục đích.
3. Đảm bảo tính hệ thống
Tiến hành liên tục và đều đặn theo kế hoạch nhất định, đánh giá thường
xuyên, có hệ thống sẽ thu được những thông tin đầy đủ, rõ ràng và tạo cơ sở để
đánh giá một cách toàn diện.
4. Đảm bảo tính công khai và tính phát triển
Đánh giá được tiến hành công khai, kết quả được công bố kịp thời, tạo ra
động lực để thúc đẩy đối tượng được đánh giá mong muốn vươn lên, có tác dụng
thúc đẩy các mặt tốt, hạn chế mặt xấu.
5. Đảm bảo tính công bằng
Đảm bảo rằng những học sinhthực hiện các hoạt động học tập với cùng một
mức độ và thể hiện cùng một nỗ lực se nhận được kết quả đánh giá như nhau.

i coi trọng hình thức hội thảo, thao giảng, dự giờ thăm
lớp để rút kinh nghiệm kịp thời, đánh giá hiệu quả từng giải pháp cụ thể trong việc
đổi mới PPDH và đổi mới KT-ĐG: ra đề kiểm tra bảo đảm chất lượng, kết hợp
hình thức tự luận với trắc nghiệm cho phù hợp với đặc trưng bộ môn.
3) Cần lấy ý kiến xây dự
ng của HS để hoàn thiện PPDH và KT-ĐG
Đổi mới PPDH và đổi mới KT-ĐG chỉ mang lại kết quả khi HS phát huy vai
trò tích cực, chủ động, sáng tạo, biết tự tìm cho mình PP học tập hữu hiệu, biết tự
học, tự đánh giá kết quả học tập. Trong môi trường sư phạm thân thiện, việc thu
thập ý kiến xây dựng của HS để giúp GV đánh giá đúng về mình, tìm ra con đường
khắc phục các h
ạn chế, thiếu sót, hoàn thiện PPDH, đổi mới KT-ĐG là hết sức cần
thiết và là cách làm mang lại nhiều lợi ích, phát huy mối quan hệ thúc đẩy tương hỗ
giữa người dạy và người học.
4) Đổi mới KT-ĐG phải đồng bộ với các khâu liên quan và nâng cao các điều
kiện bảo đảm chất lượng dạy học
Đổi mới KT-ĐG gắn liền với đổi mới PPDH c
ủa GV và đổi mới PPHT của
HS, kết hợp đánh giá trong với đánh giá ngoài. Ở cấp độ thấp, GV có thể dùng đề
kiểm tra của người khác (của đồng nghiệp, do nhà trường cung cấp, từ nguồn dữ
liệu trên các Website chuyên ngành) để KT-ĐG kết quả học tập của HS lớp mình.
Ở cấp độ cao hơn, nhà trường có thể trưng cầu một trường khác, cơ quan chuyên
môn bên ngoài tổ chức KT-Đ
G kết quả học tập của HS trường mình.
Đổi mới KT-ĐG chỉ có hiệu quả khi kết hợp đánh giá của GV với tự đánh giá
của HS. Sau mỗi kỳ kiểm tra, GV cần bố trí thời gian trả bài, hướng dẫn HS tự
đánh giá kết quả làm bài, tự cho điểm bài làm của mình, nhận xét mức độ chính
xác trong chấm bài của GV. Trong quá trình dạy học và khi tiến hành KT-ĐG, GV
phải biết “khai thác lỗ
i” để giúp HS tự nhận rõ sai sót nhằm rèn luyện PPHT, PP tư

phong trào thi đua này sẽ tạo động lực thúc đẩy quá trình đổi mới PPDH và đổi
mới KT-ĐG đạt được mục tiêu cuối cùng là thúc đẩy nâng cao chất lượng GD toàn
diện.

2. Một số nhiệm vụ trong chỉ đạo đổi mới kiểm tra, đánh giá
2.1. Các công việc cần tổ chức thực hiện
a) Các cấp quản lý GD và các trường PT cần có kế hoạch chỉ đạo đổi mới
PPDH, trong đó có đổi mới KT-ĐG trong từng năm học và trong 5 năm tới. Kế
hoạch cần quy định rõ nội dung các bước, quy trình tiến hành, công tác kiểm tra,
thanh tra chuyên môn và biện pháp đánh giá chặt chẽ, hi
ệu quả cuối cùng thể hiện
thông qua kết quả áp dụng của GV.
b) Để làm rõ căn cứ khoa học của việc KT-ĐG, cần tổ chức bồi dưỡng cho
đội ngũ GV cốt cán và toàn thể GV nắm vững CTGDPT của cấp học, từ mục tiêu
cấp học, cấu trúc chương trình, chương trình các môn học, các hoạt động GD và
đặc biệt là chuẩn KT-KN, yêu cầu về thái độ đối với người h
ọc.
Phải khắc phục tình trạng GV chỉ dựa vào sách giáo khoa để làm căn cứ soạn
bài, giảng dạy và KT-ĐG đã thành thói quen, tình trạng này dẫn đến việc kiến thức
của HS không được mở rộng, không được liên hệ nhiều với thực tiễn, làm cho giờ
học trở nên khô khan, gò bó, dẫn đến kiểm tra đánh giá đơn điệu, không kích thích
được sự sáng tạo của HS.
c) Để vừa coi trọng vi
ệc nâng cao nhận thức vừa coi trọng đổi mới trong hoạt
động KT-ĐG của từng GV, phải lấy đơn vị trường học và tổ chuyên môn làm đơn
vị cơ bản triển khai thực hiện.

7
Từ năm học 2010-2011, các Sở GDĐT cần chỉ đạo các trường PT triển khai
một số chuyên đề sinh hoạt chuyên môn sau đây (tổ chức theo cấp: cấp tổ chuyên

điểm, xây dựng báo cáo kinh nghi
ệm và thảo luận, kết luận rồi nhân rộng kinh
nghiệm thành công, đánh giá hiệu quả mỗi chuyên đề thông qua dự giờ thăm lớp,
thanh tra, kiểm tra chuyên môn.
Trên cơ sở tiến hành của các trường, các Sở GDĐT có thể tổ chức hội thảo
khu vực hoặc toàn tỉnh, thành phố, nhân rộng vững chắc kinh nghiệm tốt đã đúc kết
được. Sau đó, tiến hành thanh tra, kiểm tra chuyên môn theo từng chuyên đề để

thúc đẩy GV áp dụng và đánh giá hiệu quả.

2.2. Phương pháp tổ chức thực hiện
a) Công tác đổi mới KT-ĐG là nhiệm vụ quan trọng lâu dài nhưng phải có
biện pháp chỉ đạo cụ thể có chiều sâu cho mỗi năm học, tránh chung chung theo
kiểu phát động phong trào thi đua sôi nổi chỉ nhằm thực hiện một “chiến dịch”
trong một thời gian nhất định. Đổi mới KT-ĐG là một hoạ
t động thực tiễn chuyên

8
môn có tính khoa học cao trong nhà trường, cho nên phải đồng thời nâng cao nhận
thức, bổ sung kiến thức, trang bị kỹ năng cho đội ngũ GV, đông đảo HS và phải tổ
chức thực hiện đổi mới trong hành động, đổi mới cách nghĩ, cách làm, đồng bộ với
đổi mới PPDH, coi trọng hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, kiểm chứng kết quả để
củng cố niềm tin để tiếp tục đổ
i mới.
Trong kế hoạch chỉ đạo, phải đề ra mục tiêu, bước đi cụ thể chỉ đạo đổi mới
KT-ĐG để thu được kết quả cuối cùng, phát động, xây dựng, củng cố thành nền
nếp chuyên môn vững chắc trong hoạt động dạy học:
- Trước hết, phải yêu cầu và tạo điều kiện cho từng GV nắm vững chuẩn KT-
KN và yêu cầu về
thái độ đối với người học đã được quy định tại chương trình môn

c hiện
a) Trách nhiệm của Sở Giáo dục và Đào tạo:
- Cụ thể hóa chủ trương chỉ đạo của Bộ GDĐT về đổi mới PPDH, đổi mới KT-
ĐG, đưa công tác chỉ đạo đổi mới PPDH, đổi mới KT-ĐG làm trọng tâm của cuộc
vận động “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” và
phong trào thi đua “Xây dự
ng trường học thân thiện, HS tích cực”, với mục tiêu

9
xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh và phát huy vai trò tích cực, tinh thần
hứng thú, chủ động, sáng tạo trong học tập của HS;
- Lập kế hoạch chỉ đạo đổi mới PPDH, đổi mới KT-ĐG dài hạn, trung hạn và
năm học, cụ thể hóa các trong tâm công tác cho từng năm học:
+ Xác định rõ mục tiêu cần đạt được, nội dung, đối tượng, phương pháp tổ
chức bồi dưỡng, hình thức đ
ánh giá, kiểm định kết quả bồi dưỡng; lồng ghép việc
đánh giá kết quả bồi dưỡng với việc phân loại GV, cán bộ quản lý cơ sở GD hằng
năm theo chuẩn đã ban hành.
+ Xây dựng đội ngũ GV cốt cán vững vàng cho từng bộ môn và tập huấn
nghiệp vụ về đổi mới PPDH, đổi mới KT-ĐG cho những người làm công tác thanh
tra chuyên môn.
+ Tăng cường đầu tư xây dự
ng CSVC, thiết bị dạy học để tạo điều kiện thuận lợi
cho việc đổi mới PPDH, đổi mới KT-ĐG.
+ Giới thiệu các điển hình, tổ chức trao đổi, phổ biến và phát huy tác dụng
của các gương điển hình về đổi mới PPDH, đổi mới KT-ĐG.
+ Tổ chức tốt việc bồi dưỡng GV:
Cần tổ chức sử d
ụng tài liệu “Hướng dẫn thực hiện chuẩn KT-KN của
Chương trình giáo dục phổ thông” do Bộ GDĐT ban hành, sớm chấm dứt tình

+ Tổ chức tốt công tác bồi dưỡng GV:
(i) Trước hết, phải tổ chức cho GV nghiên cứu nắm vững chuẩn KT-KN của
chương trình, tích cực chuẩn bị TBDH, tự làm đồ dùng DH để triệt để chống “dạy
chay”, khai thác hồ sơ chuyên môn, chọn lọc tư
liệu liên hệ thực tế nhằm kích thích
hứng thú học tập cho HS.
(ii) Nghiên cứu áp dụng PPDHTC vào điều kiện cụ thể của lớp; nghiên cứu
tâm lý lứa tuổi để vận dụng vào hoạt động giáo dục và giảng dạy. Nghiên cứu các
KN, kỹ thuật dạy học và kỹ năng tổ chức các hoạt động cho HS. Tổ chức cho GV
học ngoại ngữ, tin học để làm ch
ủ các phương tiện dạy học, ứng dụng CNTT, khai
thác Internet phục vụ việc học tập nâng cao trình độ chuyên môn.
(iii) Hướng dẫn GV lập hồ sơ chuyên môn và khai thác hồ sơ để chủ động
liên hệ thực tế dạy học, bồi dưỡng tình cảm hứng thú học tập cho HS.
+ Tổ chức diễn đàn về đổi mới PPDH, đổi mới KT-ĐG của GV, diễn đàn đổi
m
ới PPHT cho HS; hỗ trợ GV về kỹ thuật ra đề tự luận, trắc nghiệm, cách kết hợp
hình thức tự luận với trắc nghiệm sao cho phù hợp với nội dung kiểm tra và đặc
trưng của môn học.
+ Kiểm tra các tổ chuyên môn và đánh giá hoạt động sư phạm của GV:
(i) Kiểm tra công tác bồi dưỡng và tự bồi dưỡng của GV, kịp thời động viên
mọi cố g
ắng sáng tạo, uốn nắn các biểu hiện chủ quan tự mãn, bảo thủ và xử lý mọi
hành vi thiếu tinh thần trách nhiệm;
(ii) Tiến hành đánh giá phân loại GV theo chuẩn đã ban hành một cách khách
quan, chính xác, công bằng và sử dụng làm căn cứ để thực hiện chính sách thi đua,
khen thưởng;
+ Phối hợp với Ban đại diện cha mẹ HS để quản lý học tập HS ở nhà, bồi
dưỡng HS giỏi, giúp đỡ HS học lự
c yếu kém, giảm lưu ban, bỏ học:

tranh ảnh học sinh sưu tầ
m, các bài văn, bài thơ, bài báo sưu tầm theo chủ đề; sổ
tay ghi chép của học sinh…); đánh giá thông qua chứng minh khả năng của học
sinh (sử dụng nhạc cụ, máy móc ); đánh giá thông qua thuyết trình; đánh giá
thông qua hợp tác theo nhóm; đánh giá thông qua kết quả hoạt động chung của
nhóm…
+ Đề xuất với Ban giám hiệu về đánh giá phân loại chuyên môn GV một cách
khách quan, công bằng, phát huy vai trò GV giỏi trong việc giúp đỡ GV năng lực
yếu, GV mới ra trường;
+ Ph
ản ánh, đề xuất với nhà trường về công tác chuyên môn và công tác bồi
dưỡng GV, phát hiện và đề nghị nhân điển hình tiên tiến về chuyên môn, cung cấp
các giáo án tốt, đề kiểm tra tốt để các đồng nghiệp tham khảo;
+ Đánh giá đúng đắn và đề xuất khen thưởng những GV thực hiện đổi mới
PPDH, đổi mới KT-ĐG có hiệu quả.
- Trách nhiệm của GV:
+ Mỗi GV cần xác định thái độ cầu thị
, tinh thần học suốt đời, không chủ
quan thỏa mãn; tự giác tham gia các lớp bồi dưỡng, tự bồi dưỡng thường xuyên và
sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ GV cốt cán chuyên môn khi được lựa chọn; kiên trì
vận dụng những điều đã học để nâng cao chất lượng dạy học;
+ Phấn đấu thực sự nắm vững nội dung chương trình, đổi mới PPDH và KT-
ĐG, rèn luyện kỹ năng, k
ỹ thuật dạy học (trong đó có kỹ năng ứng dụng CNTT,
khai thác internet…), tích lũy hồ sơ chuyên môn, tạo được uy tín chuyên môn trong
tập thể GV và HS, không ngừng nâng cao trình độ các lĩnh vực hỗ trợ chuyên môn
như ngoại ngữ, tin học;
+ Thực hiện đổi mới PPDH của GV phải đi đôi với hướng dẫn HS lựa chọn
PPHT hợp lý, biết tự học, tự đánh giá, tự chủ, khiêm tốn ti
ếp thu ý kiến của đồng

are speaking, writing, reading, listening, vocabulary, grammar or syntax and
pronunciation. On a higher level of language use, those involved may include
communication norms, socio-linguistic etiquettes; pragmatics and even cultural
elements from a certain community. Nevertheless, the language requirements or the
goals for students at secondary level are quite fundamental according to the
Handbook of Standards in Knowledge and Skills for Secondary Education. In
testing and evaluation, the components of language are and should be integrated
into a unity in order to assess students’ competences. Due to the limitations of this
short training workshop in testing and evalation, the aforementioned components
will be dealt with separately for the sake of understanding and undertaking.
1. Kĩ thuật biên soạn câu hỏi Từ vựng/Vocabulary questions
The purpose of vocabulary tests is to measure the comprehension and
production of words used in language skills. In designing a test question, simply
choosing difficult words or random Lists of words doesn't make much sense either.
Somehow we need to find out which words our students need to know. The
problem can be solved by referring to the Glossary that tells what words must be
learned in each unit at the end of the course books.
Another way is to record the words that students misuse. These become test
items. Still other sources are your textbook, reader, and exercise manual. Finally,
do not overlook the words and phrases needed to run the class, such as "Take your
seat" or "The assignment for tomorrow." These are useful test items at the
beginning level.
Deciding how to test vocabulary is related to how we teach it. Most teachers
today do not recommend having students simply memorize lists of words. Instead,
they teach students to find the meaning of words through the context of the
sentence, and they help increase comprehension by teaching important affixes
(happy: unhappy/beauty: beautiful). In testing vocabulary, we also need to avoid
presenting words in isolation.
This part will illustrate a variety of ways to use context cues and word
building skills in testing vocabulary. Checking vocabulary mastery can be adjusted

When selecting vocabulary items, remember the suggestions given earlier.
Also, realize that sentence-completion items tend to give you a chance to test
passive vocabulary. Since students have to recognize these words but not
necessarily produce them, this is a good way to test more difficult vocabulary items
than the usual ones that students study in class. But these should still be words or
phrases that are useful to your students – words, for example, from their reading
materials. Of course, words can be chosen from other sources like newspapers,
magazines, and textbooks from other reference materials, if you have used these in
your English class. Another point to remember is that usually only content words
(nouns, verbs, adjectives, and adverbs) are included in vocabulary tests. Function
words (articles, determiners, prepositions, conjunctions, pronouns, auxiliary verbs)
appear in grammar tests.

15
When using words not found in your classroom textbook, be careful of bias.
Material from other sources could give students who have experienced them a
special advantage (most students may not know the specific vocabulary related
from those sources).
Context Preparation
With suitable words selected, our next step is to prepare contexts for them.
Sometimes –especially for beginning students – more than one sentence is needed
to help clarify meaning. You can prepare a two-line mini-dialog like those in the
students' books to check the meaning of a word such as (paint) brush:
E.g.: "I want to paint, too!”
"All right. Use that _________ over there!'
*A. brush B. pencil C. broom D. spoon
Another way is to find a passage (on your students' level) in which the word
appears, remembering that some sentences are much more helpful than others.
Consider a fairly difficult word - communicate. A passage from an English
language reader might begin with the sentence: "Human being communicate in

language that is appropriate for their students. But there is a second and equally
good way. That is to use student errors as distractors.
Teachers who create their own distractors should follow certain guidelines:
1. Make sure the distractors are the same form of word as the correct answer.
E.g.: (A poor example)
She had to help the _________ old man up the stairs.
*A. weak B. slowly C. try D. wisdom
When distractors are not the same form as the right answer, students might
answer the item correctly for the wrong reason. For example, some may know an
adjective is needed in this item and they might notice that weak is the only
adjective listed. (Note that words like strong, energetic and athletic are distractors
that contrast with the old man's weakened condition. On the other hand, words such
as wise, kind, pleasant or bent do not contrast as well and are therefore weaker
distractors.)
2. ALSO be sure you don't give away the right answer through grammatical
cues. Notice the effect of the article in the following example.
She needs to get up earlier so she's buying an __________ clock.
A. time *B. alarm C. watch D. bell
In this question, meaning and grammar indicate that alarm clock is right
because an is only used with a word beginning with a vowel sound. One way of
correcting this would be to remove “an” from the sentence and use this form for the
choices: A. a time *B. an alarm C. a watch D. a bell.
3. Multiple-choice items for any one question should be about the same level
of difficulty, and ideally, the sentence context should not be difficult for students to
read.
E.g.: They needed lots of training to operate such __________
equipment.
A: easy *B. sophisticated C. blue D. wise

17

might get words such as silly, wrong, stupid, liar, because, religious, knowing,
lucky. The first three can't be used because they could possibly appear in such a
sentence. The last three are adjectives, and so they seem usable. However, liar and
because do not match distractor requirements. What do you do with these? You
can probably use them anyway, particularly if more than one person wrote them
down. Our guidelines are useful generalizations, but the errors made by your
students reflect their exact level and their special way of "seeing" the language.

18
Distractors chosen from these errors can test your class even better than those that
you create yourself.
Instruction Preparation
The instructions for your test should be brief; students shouldn't have to
spend a lot of time reading them. And they should be clear, anxiety can come from
poorly worded questions, and resentment from misunderstood directions. Some
teachers prefer to give instructions orally, but if any students come late, repeated
instructions can distract those working on the exam. Keep in mind that instructions
can really become a kind of "test," and oral instructions can amount to an
unintended "listening test."
If you have used multiple-choice sentence-completion exercises in class,
instructions can be very short: "Circle the letter of the right answers" (or) "Circle
the letter of the word that best completes each sentence!' Naturally the kind of
directions given depends on your students' reading ability and how you want them
to mark the test paper. Consider the following:
Read each sentence carefully. Then look at the four words below it. Choose
the one that completes the sentence correctly. Put the letter of that word (A, B, C,
or D) in the blank at the left.
You will find it helpful to give both oral and written instructions for students
at the beginning level. For classes with very little skill in English, you can even
give the instructions in the native language.

1. It is rather difficult to prepare good sentence contexts that clearly show the
meaning of the word being tested.
2. It is easy for students to cheat by copying what others have circled.

1.2. Hoàn thành câu với dạng đúng của từ cho trước/ Word formation
Word-formation items require students to fill in missing parts of words that
appear in sentences. These missing parts are usually prefixes and suffixes-for
example, the un- in untie or the -ful in thankful. A related task is to use words
like the following in a sentence and have students supply missing syllables of any
kind, such as the rel- in relative or the -ate in deliberate. We can see, then, that
there is a different emphasis in simple-completion tests than in those we have just
looked at. Context is still useful, but the emphasis is on word building. Moreover,
this is a test of active not passive skills.
The steps in preparing a simple-completion vocabulary test are similar to
those mentioned in the previous sections, but with one difference: No distractors
are needed. Here are the steps: (1) List the prefixes and suffixes that you have
taught to your students. Then match these with content words that they have
studied (including even their passive vocabulary). (2) Prepare sentences that clarify
the meaning of these words. (3) Then write your instructions and examples. If the
test is quite important, try it out ahead of time. You can have other teachers take it,
or possibly native English speakers. Then revise it and use it in your class.
Vocabulary Choice
Perhaps your students have studied the -ly ending used with many adverbs
(and some adjectives). They might not know adjectives like manly or adverbs like
extremely. But quick is part of their vocabulary, and so it can be used in testing

20
the suffix (quickly). They might also know the negative prefix un Recalling that
cooperative is part of their passive vocabulary, you decide to challenge them on
the test. You expect to see if they can produce uncooperative in the test.


21
Bài tập/Tasks

1. The following sentences contain examples of distractor difficulties.
Identify the weakness in each item. Then correct it.
a. Do you need some ______ to write on?
A. paper B. pen C. table D. material
b. The mouse _______ quickly away.
A. very B. little C. baby D. ran
c. I think he'll be here in an
A. hour B. day after tomorrow C. weekend D. soon
d. They _______ me to get up right away.
A. asked B. needed C. told D. wanted
e. Choose the odd one out.
A. pleased B. nervous C. study D. interesting
2. Prepare five test items from words in your students' text, or use the
following vocabulary words: truth/weekend/secret/ridiculous/perfume.
a. For each word write a sentence context that reflects the meaning of the
word as clearly as possible.
b. Prepare three good distractors for each test item.
c. Write simple, clear instructions, and include an example.
3. First, supply a word with a prefix or suffix for each blank in the following
sentences. Then prepare word completion items.
Example: It was a most ________ mistake.
(Answer: deplorable/regrettable/ inexcusable, etc.)
(It was a most deplor ________ mistake)
1. When you write your check, make it __________ to my sister.
2. Please wipe your __________ hands on that cloth.
3. The police arrested him for __________ the riot.

multiple choice objective exams in particular should be used to test everything.
However, any given test is a kind of tool; it may be very useful for some jabs
but not for others. For example, while multiple-choice tests can be used
successfully in testing grammar, they don't seem to work as well in testing
conversational ability.
Preparing multiple-choice completion gmmmar items follows about the
same procedure as that described in the previous part for writing multiple-choice
completion vocabulary items:
(1) Choose the grammar points that you need to test; (2) prepare the right
kind of sentence context (or stem) for the grammar structure; (3) select three
logical distractors; and (4) prepare clear, simple instruction.

23
Grammar Choice
Choosing grammar points to test is usually rather easy: Just determine what
structures you have taught since the last test. The results on quizzes or homework
assignments can show those things that students have learnt well and those things
that need reviewing. The points they know well can be generally ignored. A few of
these, however, could be included at the beginning of the test to encourage
students.
A related matter is how to give different "weight" to various grammar points.
Let's say you spent three times longer on modal auxiliaries than on two-word verbs.
You could prepare two or three times as many questions on the modals. This is part
of the planning that is necessary. Before starting to write the questions, you need to
decide how many of each grammar type to include.
Context Preparation
Assuming that you have decided what points to test, what multiple-choice
type to use, and how many questions to prepare, you are now ready to start writing
the items. First, choose a structure and then use it correctly in a sentence.
Remember, a good context is very important! Sometimes only a few words are

But even with this help, how can the inexperienced teacher write distractors
that sound right! One way is to look at the errors that students make on exercises or
doze passages. These errors can be used as distractors. Another source of
distractors is errors from students’ writing.
It is good not either to confuse or tire your students by having them reread
unnecessary material. Take out any repeated words from the distractors and put
these in the stem.
E.g.: If I had a new fur coat, __________.
A. I showed it to everyone. B. I'd show it to
everyone.
C. I've shown it to everyone. D. I'll show it to
everyone.
(revised) If I had a new fur coat, _______ to everyone.
A. I showed B. I'd show C. I've shown D. I'll show
Also, it is best not to mix categories like the following:
E.g.: They just bought __________ furniture.
A. a few B. several C. some D. with
(revised) They just bought ___________.
A. a few furnitures. B. several furnitures.
C. some furniture. D. a furniture.
The example above requires recognition of furniture as a non-count noun
and recognition of the right determiner to use with this word. Choice "D" (with) is
unsatisfactory because it is a preposition and not a determiner.
Alternate Form of Multiple-Choice Completion
Unlike previous test items in this section, error identification does not
require students to complete a sentence. Instead, they have to find the part
containing an error. This kind of test question is particularly useful in testing

Trích đoạn Sử dụng câu hỏi của mỗi môn học trong thư viện câu hỏi
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status