SKKN Áp dụng một số thủ thuật để dạy một bài bài đọc hiểu cho học sinh một cách hiệu quả - Pdf 26

A: ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lời mở đầu
Mục đích cuối cùng của việc dạy đọc hiểu Tiếng Anh là sau mỗi khoá học học
sinh có đủ tự tin để có thể đọc được những bài đọc liên quan đến những chủ đề quen
thuộc để phục vụ sự hiểu biết của mình, hạn chế việc tra từ điển xuống đến mức thấp
nhất. Mục đích dạy đọc hiểu này hoàn toàn phù hợp với đường hướng lấy người học
làm trung tâm và dạy ngoại ngữ theo phương pháp giao tiếp - phương pháp đã không
còn xa lạ đối với hầu hết giáo viên dạy ngoại ngữ mặc dù trong thực tế việc ứng dụng
phương pháp này không phải lúc nào và ở đâu cũng dễ dàng và đạt hiệu quả như
mong muốn.
Trong thực tế, việc dạy đọc hiểu nhằm giúp người học phát triển kỹ năng đọc và hiểu
tài liệu, sách báo bằng Tiếng Anh với những nội dung phù hợp với trình độ có thể
giúp họ thu nhận thông tin, nâng cao trình độ Tiếng Anh và có hiểu biết thêm về xã
hội. Khi đọc tiếng mẹ đẻ người học không gặp khó khăn trong việc hiểu nội dung bài
nhưng khi học Tiếng Anh, họ sẽ gặp phải những cấu trúc ngữ pháp và từ mới. Mặt
khác đọc Tiếng Anh còn khó hơn nhiều do sự khác nhau giữa chữ viết và cách phát
âm. Chúng ta đều ý thức một cách rõ ràng rằng đọc thầm mới là mục đích cuối cùng
của việc dạy đọc, do đó giáo viên cần phải giúp người học tự đọc để hiểu nội dung bài
còn đọc thành tiếng chỉ giúp cho việc luyện và kiểm tra phát âm. Đọc hiểu là người
học phải rèn luyện khả năng đọc một cách bao quát cả câu thậm chí nhiều câu, nhiều
đoạn. Cần phải làm cho người học tin rằng đọc chậm từng từ một không phải là đọc
có hiệu quả và việc tập trung đọc từng từ một các em làm chậm lại sự truyền thông
tin từ trí nhớ ngắn hạn sang trí nhớ dài hạn, mà thói quen này dẫn đến việc học sinh
đọc không có hiệu quả, các em không phát triển được tư duy sáng tạo, sự chủ động
trong quá trình rèn luyện và phát triển các kỹ năng ngôn ngữ nói chung, kỹ năng đọc
hiểu nói riêng.
Qua thực tế làm công tác giảng dạy Tiếng Anh nhiều năm, bản thân đã trực tiếp
tham dự các chuyên đề đồng thời dự giờ trao đổi kinh nghiệm giảng dạy với nhiều
giáo viên ở các trung tâm khác tôi thấy các đồng chí đều đã thực hiện đổi mới phương
pháp giảng dạy bộ môn Tiếng Anh nói chung và kỹ năng đọc hiểu nói
riêng. Tuy nhiên, cũng qua các cuộc trao đổi đó, nhiều đồng chí đều có chung một

• 1. Skimming gist (Đọc lấy ý chính)
• 2. Scanning for details (Đọc lấy thông tin chi tiết)
• 3. Extensive reading ( Đọc các bài đọc dài)
• 4. Intensive reading (Đọc các bài đọc ngắn)
Tuy vậy, Chủ yếu các cuốn sách giáo khoa tiếng Anh đều tập trung vào hai cách
đọc chính đó là đọc lấy ý chính (Skimming gist) và đọc lấy thông tin chi tiết
(Scanning for details). Trên thực tế các bài đọc trong giáo trình tiếng Anh (Lifeline,
Enterprise, English for Law) thường có khá nhiều từ mới và còn nhiều hơn nữa trong
một bài báo, truyện được viết bằng tiếng Anh. Vì thế người đọc không thể vừa đọc
vừa dừng lại tra từ mới, bởi người đọc sẽ phải đọc lại từ đầu sau mỗi lần dừng lại thì
họ mới có khả năng nhớ được nội dung của bài đọc. Việc làm này sẽ mất nhiều thời
gian, không mang lại hiệu quả. Để giới thiệu được hết các từ mới của bài đọc, giáo
viên sẽ không thể có thời gian dành cho các hoạt động nhằm phát triển kỹ năng đọc
hiểu. Bên cạnh đó học sinh khó mà nhớ hết được một khối lượng từ vựng lớn như vậy
trong một thời gian ngắn, học sinh sẽ không biết đọc độc lập nếu không có sự hướng
dẫn, giảng giải của giáo viên.
3. Sau mỗi bài giảng, giáo viên thường khó nắm được học sinh hiểu bài bao nhiêu,
nhớ được lượng thông tin nhiều hay ít, từ vựng trong bài có được các em nắm tốt hay
không, do mải mê quá nhiều với các bước luyện đọc và cung cấp từ mới, mà không
hoặc ít đưa ra các bài tập luyện để củng cố bài sau khi đọc.
4. Giáo viên chưa đầu tư nghiên cứu các thủ thuật gợi mở, khuyến khích học sinh tự
giác, chủ động, tích cực tham gia, rèn luyện và phát triển kỹ năng đọc hiểu Tiếng Anh.
B: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I.Các giải pháp thực hiện:
1. Để đạt hiệu quả cao trong dạy đọc, giáo viên phải nắm được mục đích, yêu cầu của
một bài đọc, từ đó lựa chọn phương pháp phù hợp cho nội dung từng bài đọc và luôn
bám sát bố cục 3 phần của một bài dạy đọc: Pre-reading, While-reading và Post-
reading. Ưu tiên áp dụng phương pháp mới để phát triển đồng nhất 4 kĩ năng cơ bản:
Nghe- nói - đọc- viết trong dạy đọc cho học sinh. Tránh lan man sa đà quá nhiều vào
việc giải thích từ mới, dịch bài, viết cấu trúc ngữ pháp, khiến cho học sinh bị động và

Trong thực tế giảng dạy, không kỹ năng ngôn ngữ nào được dạy tách biệt, do đó
luyện nói là một hoạt động rất hữu ích ở giai đoạn sau khi đọc (Post-reading). Khi
những công việc ở giai đoạn trong khi đọc (While-reading) kết thúc, giáo viên có thể
yêu cầu học sinh đóng kịch( Role- play), sử dụng nội dung đã được đề cập đến trong
bài đọc hiểu để đóng vai và luyện tập hội thoại cùng các bạn . Đây là một hoạt động
rất thú vị và hữu ích đối với học sinh bởi các em được dùng ngay kiến thức trong bài
đọc áp dụng vào thực tế giao tiếp hàng ngày.
Ví dụ: Lifeline Pre-intermediate - Unit 6 - People and Places
Reading: it was a normal day - 54-55.
•A. Interviewer:
You are interviewing David on TV.
Prepare some questions for him
Example:
• 1. What happened to you?
• 2. What did you do when you heard this news?
• 3. How did you feel??
• 4. What did you do?
• 5. How did the event change your life?
•B. David
You are being interviewed on television. Tell the interviewer about your normal day
and the event happened to you. Write some notes to help you remember.
Example:
• - Woking in the bank.
• - Daughter was kidnaped
• - Kidnapper asked for money.
• - Most terrible moments in my life.
1.2. MATCHING:
Giáo viên nên củng cố từ vựng cho học sinh ở giai đoạn sau khi đọc bởi từ
vựng được dạy trong văn cảnh sẽ trở lên có ý nghĩa, hữu ích và học sinh nhớ lâu, hiểu
sâu hơn. Chính vì vậy mà chúng ta cần phải thấy rõ ràng đây là một hoạt động rất hữu

yêu cầu học sinh hoàn thiện bảng sau để có được những thông tin chi tiết hơn về V.
Putin
1. Name: Putin.
2. Date of birth:
3.Place of birth
4. University he graduated
5. His wife's job
7. Daughter
8.His favourite sport
9.Things he could do when he 13
1.4. WH- QUESTIONS
Loại câu hỏi có từ để hỏi bao gồm:
When ?
What ?
Where ?
Who ?
How long ? How much ? How many ? in order to check comprehension of details
(on the line questions).
• - Why do you think/ know ?
• - How ?
What do you think about ?
Câu hỏi dạng này thường dùng để gợi mở cho những phần giả thích, tóm tắt, đề
bạt ý tưởng về một vấn đề.
Hoạt động này yêu cầu học sinh nghe và trả lời các câu hỏi để lấy những thông tin
có thể thấy ngay trong bài đọc và những thông tin không nằm ngay trong bài mà học
sinh phải biết suy luận ra từ nội dung bài mà các em vừa đọc. Đây là một hoạt động
rất khuyến khích sử dụng và có thể sử dụng cho bất cứ bài đọc trong giáo trình nào.
1.5. DISCUSSION
Thủ thuật này có thể được sử dụng để:
• - Xác định nội dung bài đọc và nêu ra ý nghĩa của nó.

2. The worldwide economic situation became worse in the
a. 1980s b. 1970s c. 1990s d. 1960s
3. The 1960s' fashions were
a. painted jeans b. casual clothes
c. embroidered jeans d. both a and c are correct.
4. Jeans became so many people started wearing jeans in the 1970s'
a. more fashionable b. cheaper c. more and more expensive d. shorter.
1.7. ANSWER GIVEN.
Chúng ta có thể sử dụng thủ thuật này để kiểm tra đọc hiểu chi tiết đặc biệt là về
hình ảnh và sư kiện. Chúng ta cũng có thể cho học sinh làm các dạng bài đánh dấu vì
nó còn giúp giáo viên giảm được thời gian chuẩn bị bài.
Example:
Prepare questions for the following answers. .
a. 7th October 1952
b. In 1975
c. 14
th
March 2004
Example of students' answer
a. When was Putin born?
b ?
1.8 GAP FILLING
Giáo viên viết phần tóm tắt bài đọc lên bảng (ngắn gọn) với những từ đang còn
thiếu và yêu cầu học sinh điền những từ thiếu đó vào chỗ trống. Dạng bài này giúp
học sinh nắm được bài đọc một cách cô đọng nhất và thực hành các từ đã học hiệu quả
nhất.
Example:
Basic English - Unit 8: How long ago?
Read - page 97
Complete the paragraph with one suitable word .

• 1. What is special about it?
• 2. What facilities are available there?
• 3. How often does it open?
• 4. How many stores are there?
• 5. Is it comfortable to shop?
2. Để tổ chức thực hiện được giải pháp 2, tôi xin đưa ra một số biện pháp sau:
Trong một bài giảng, giáo viên phải phân loại được từ mới. Cách phân loại này sẽ
giúp học sinh sớm nhận biết được những từ nào cần tập trung để hiểu bài. Từ mới sẽ
được phân loại theo các nhóm.
2.1. Nhóm từ phải tra từ điển (Từ chủ động - Active/ Productive vocabulary): Những
từ thuộc nhóm này là các từ và cụm từ chủ chốt (Keywords and phrases) trong bài đọc
mà thiếu những từ và cụm từ chủ chốt này học sinh không thể hiểu được nội dung của
bài đọc. Muốn học sinh nắm được các từ này, giáo viên phải lựa chọn trúng từ vựng
để dạy cho học sinh. Đồng thời các từ này phải phù hợp với đối tượng học sinh. Đối
với các từ quan trọng nhưng quá khó thì giáo viên chỉ nên dạy bằng hình thức dịch
thuật hay giải thích ngắn gọn, đơn giản, dễ hiểu mà thôi.
2.2. Nhóm từ có thể đoán theo ngữ cảnh của bài: Những loại từ này, giáo viên có thể
hướng dẫn học sinh đoán nghĩa dựa vào những từ đã biết và thông qua ngữ cảnh của
bài học. Các kỹ thuật gợi mở (eliciting techniques) là cần thiết và quan trọng trong
khâu này và nó nên được xuyên suốt quá trình dạy đọc vì nó giúp giáo viên gợi lại vốn
từ vựng của các em, tránh dạy lại những từ mà học sinh đã biết và khuyến khích học
sinh tham gia vào quá trình dạy học. Một trong những kĩ thuật gợi mở được dùng hiệu
quả là: Giới thiệu ngữ cảnh (Set the scene) Đây là bước đưa ra chủ đề bài đọc (Topic)
cho học sinh, tạo cho các em tâm lý sẵn sàng, huy động vốn hiểu biết sẵn có của học
sinh về từ vựng, cấu trúc ngữ pháp và những vốn hiểu biết chung (General
knowledge) để các em sẵn sàng, dễ dàng tiếp cận với bài đọc. Đồng thời dùng ngữ
cảnh để giới thiệu từ vựng giúp học sinh hiểu từ đó trong ngữ cảnh chứ không hiểu
theo nghĩa đơn, nghĩa từ điển của nó.
2.3. Nhóm từ không nhất thiết phải hiểu nghĩa của chúng (Passive/Receptive
vocabulary): Những nhóm từ này có thể là giới từ, phụ từ, các trạng từ nhấn mạnh.

nắm được nội dung bài ngay trên lớp. Hơn nữa sau mỗi giờ học, kiến thức của học
sinh về các lĩnh vực văn hoá, khoa học được mở rộng hơn. Do đó học sinh có được
sự hứng thú trong học tập. Cụ thể là:
+ Đối với sinh viên lớp K1: Là khoá đào tạo sinh viên chuyên ngành Tiếng Anh đầu
tiên liên kết với trường ĐHNN- ĐHQGHN nhưng đầu vào của các em rất thấp , kinh
nghiệm giảng dạy chưa nhiều, việc áp dụng được phương pháp tiếp cận mới vào giảng
dạy chưa nhuần nhuyễn nên hầu như sinh viên có hiểu bài nhưng số sinh viên tham
gia vào các hoạt động tái tạo được ngôn ngữ sau khi đọcb không nhiều. Hầu hết chỉ
dừng lại ở việc đọc được bài, đọc được từ mới nhưng không tái tạo lại được nội dung
của bài học. Kết quả sau mỗi bài dạy là: 30-35% (40hv/1 lớp)
+ Đối với sinh viên lớp K2, K3: Hai khoá sau, đầu vào của các em có tốt hơn khoá 1,
tôi mạnh dạn tiếp cận phương pháp mới với một số thủ thuật luyện sau đọc (Post
Reading). Ban đầu rat hiệu quả có khoảng 65-70% số sinh viên hiểu bài và có khả
năng tái tạo ngôn ngữ.( sĩ số 30-35 sv/1 lớp)
+ Lớp kế toán K11 và Luật từ xa: Đây là hai lớp đào tạo theo hệ từ xa liên kết với
Viện đại học Mở Hà Nội. Giáo trình dạy hai lớp này chủ yếu là giáo trình đọc hiểu
(chuyên ngành Kế Toán và Luật). Tôi và giáo viên cùng khoa rất vất vả khi dạy hệ
này vì đa số học viên tuổi đời cao, thời gian lên lớp ít, giáo trình lại khó, lượng từ
vựng nhiều. Với một số thủ thuật áp dụng trong bài dạy, tôi đã giúp học viên đơn giản
hoá bài giảng và giứp họ nhớ được đa số các từ chuyên ngành cần thiết. Tuy vậy, do
những điều kiện nhất định, khả năng tái tạo ngôn ngữ của học viên cũng không đạt
được như mong muốn: 45% ( 50hv/1 lớp)
+ Lớp tiếng Anh nâng cao- Bệnh viện Nhi Thanh Hoá: Đây là lớp học của các Bác sĩ
chuyên khoa học giao tiếp và chuyên ngành y. Những bài đọc thuộc chuyên ngành rất
nhiều từ mới và lượng kiến thức rất lớn. Với cách làm trên tôi đã giúp các học viên có
được những kĩ năng cơ bản trong quá trình học đọc tài liệu, phát triển thêm được kĩ
năng nghe- nói và đặc biệt vốn từ được cải thiện rất nhiều. Kết quả 80% học viên có
thể nói- nghe và đọc thực hành sau đọc tốt.
II. Đề xuất và kiến nghị :
• - Nên có những buổi học tập, giao lưu giữa các lớp với nhau để tạo môi trường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status