Đề tài: Sử dụng kiến thức liên môn để giáo dục truyền thống yêu nƣớc cho học sinh trong dạy học lịch
sử Việt Nam (1945 – 1954) THPT – chƣơng trình chuẩn
BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CNXH
:
Chủ nghĩa xã hội
DHLS
:
Dạy học lịch sử
GV
:
Giáo viên
HS
:
Học sinh
KTLM
:
Số lượng
THCS
:
Trung học cơ sở
THPT
:
Trung học phổ thông
XHCN
:
Xã hội chủ nghĩa
Đề tài: Sử dụng kiến thức liên môn để giáo dục truyền thống yêu nƣớc cho học sinh trong dạy học lịch
sử Việt Nam (1945 – 1954) THPT – chƣơng trình chuẩn
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................. 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................. 3
2.1.1. Vị trí ................................................................................................... 45
2.1.2.Mục tiêu .............................................................................................. 45
2.1.3.Nội dung kiến thức cơ bản .................................................................. 47
2.1.4. Xác định nội dung kiến thức lịch LSVN (1945 – 1954) cần sử
dụng KTLM.................................................................................................. 48
2.2. Những yêu cầu khi sử dụng KTLM để giáo dục truyền thống yêu nước
cho HS trong DHLS Việt Nam (1945 – 1954), lớp 12 THPT ......................... 51
2.3.Một số biện pháp sử dụng KTLM để giáo dục truyền thống yêu nước
cho HS trong DHLS Việt Nam( 1945 – 1954) ................................................ 54
2.3.1. Sử dụng kiến thức địa lý trong DHLS để giáo dục truyền thống
yêu nước cho HS. 55
2.3.2.Sử dụng kiến thức văn học trong DHLS để giáo dục truyền thống
yêu nước cho HS .......................................................................................... 62
2.3.3. Sử dụng kiến thức giáo dục công dân trong DHLS để giáo dục
truyền thống yêu nước cho HS..................................................................... 72
2.3.4. Sử dụng âm nhạc trong DHLS để giáo dục truyền thống yêu nước
cho HS .......................................................................................................... 75
2.3.5. Sử dụng KTLM kết hợp với phương tiện kĩ thuật để giáo dục
truyền thống yêu nước cho HS..................................................................... 78
2.4.Thực nghiệm sư phạm ................................................................................ 82
2.4.1.Mục đích thực nghiệm ........................................................................ 82
2.4.2.Nội dung thực nghiệm......................................................................... 82
2.4.3. Phương pháp tiến hành thực nghiệm ................................................. 82
2.4.4.Tiến hành thực nghiệm........................................................................ 83
2.4.5. Kết quả thực nghiệm .......................................................................... 85
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................. 91
PHỤ LỤC
kiến thức lớn mà thời lượng ít dẫn đến tình trạng HS bị quá tải, GV phải dạy
một cách nhồi nhét. Vì vậy, giảm tải chương trình trở thành giải pháp tình thế,
1
Đề tài: Sử dụng kiến thức liên môn để giáo dục truyền thống yêu nƣớc cho học sinh trong dạy học lịch
sử Việt Nam (1945 – 1954) THPT – chƣơng trình chuẩn
tuy nhiên đây không phải biện pháp ưu việt vì khi cắt giảm nội dung sẽ không
đảm bảo tính hệ thống, liên tục của lịch sử.
Để khắc phục tình trạng này, một giải pháp hiệu quả chính là sử dụng
KTLM trong DHLS. Sử dụng nguyên tắc này tránh được sự trùng lặp dễ gây
nhàm chán, đồng thời giúp các em vận dụng được kiến thức của các môn học
khác nhằm tiếp thu kiến thức lịch sử và tạo hứng thú trong học tập.
Hơn nữa, việc thực hiện mục tiêu giáo dục nói chung và việc giáo
dục truyền thống yêu nước nói riêng không chỉ là nhiệm vụ của môn
Lịch sử, mà đòi hỏi sự kết hợp của tất cả các môn học trong chương
trình. Ví như môn Địa lý cung cấp những kiến thức về điều kiện tự
nhiên, về cương vực lãnh thổ… từ đó HS có ý thức bảo vệ môi trường,
bảo vệ lãnh thổ Tổ quốc, có động lực phát triển kinh tế làm cho nước ta
ngày càng giầu đẹp. Môn Ngữ văn làm cho các em hiểu những giá trị
tinh thần, nét đẹp văn hóZa dân tộc, có tác dụng lớn trong việc bồi
dưỡng tư tưởng, tình cảm, bồi dưỡng lòng yêu nước. Môn Giáo dục công
dân bồi dưỡng cho HS niềm tin vào sự phát triển hợp quy luật của xã hội
loài người, tin tưởng vào con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn…
Điều này được Đảng nhấn mạnh trong văn kiện Đại hội lần thứ VIII:
“Tăng cường giáo dục công dân, giáo dục tư tưởng đạo đức, lòng yêu
nước, chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Coi trọng hơn nữa
các môn về khoa học xã hội và nhân văn, nhất là Tiếng Việt, LM
Trong cuốn “Phát triển tư duy học sinh”(NXB Giáo dục, 1976), các tác
giả M.Alêcxêep, Ônhisuc đã nêu lên vai trò của nguyên tắc liên môn là “bồi
dưỡng cho học sinh các thủ thuật và phương pháp tư duy logic sẽ góp phần
thực hiện một trong nhưng yêu cầu quan trọng nhất của lí luận dạy học là xác
lập các mối liên hệ chặt chẽ giữa các bộ môn” [1; 100]. Như vậy, mục tiêu
quan trọng của mọi thủ thuật, phương pháp tư duy logic đều nhằm làm nổi bật
mối quan hệ giữa các môn học, điều này có ý nghĩa cả về kiến thức và rèn
luyện kĩ năng cho HS.
I.F. Kharlamôp trong cuốn “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh
như thế nào?” (NXB Giáo dục, 1979) đã nêu rõ tác dụng, ý nghĩa của việc vận
3
Đề tài: Sử dụng kiến thức liên môn để giáo dục truyền thống yêu nƣớc cho học sinh trong dạy học lịch
sử Việt Nam (1945 – 1954) THPT – chƣơng trình chuẩn
dụng kiến thức các môn học: “Việc giáo viên có khả năng tìm được mối liên
hệ giữa các vấn đề mà các nhà bác học đã nghiên cứu với điều mà các em đã
học ở nhà trường thuộc một môn học nào đó cũng gây cho học sinh niềm
hứng thú đặc biệt đối với việc học tập tài liệu mới”[25;102]. Những kiến thức
mới, phong phú thuộc nhiều ngành khoa học khác nhau vừa làm sáng tỏ nội
dung mà HS đang học, vừa tạo hứng thú cho các em trong học tập.
Nhà giáo dục học N.U.Savin nêu rõ: “Nền học vấn phổ thông phản ánh
đầy đủ và chính xác nhất tri thức khoa học và thực tiễn của nhân loại và nó
thực sự là toàn diện. Ở đó đã kết hợp một cách hữu cơ các tri thức về tự
nhiên, xã hội và tư duy con người đã đạt được sự hài hòa giữa học vấn về
nhân văn và về tự nhiên...”(Giáo dục học – NXB Giáo dục 1983) [52;87]. Bản
thân chương trình học tập phổ thông đã có sự kết hợp hài hòa những tri thức
thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Nhiệm vụ của người GV là khai thác và sử
dụng nguồn tri thức ấy cho hiệu quả.
Theo Mitchell R.D tiêu chí để đánh giá một “giáo viên hiệu quả” là
“khả năng để ứng dụng và kết hợp các kiến thức hoặc các kĩ năng khác nhau
đối với một nhóm học sinh nhất định trong một bối cảnh nhất định”(The
American School Broad – 1998)[66, 27].
Nuthall .G trong “Elementary School journal”(1999) đã nêu: “các câu
chuyện thì hết sức đa dạng về các thông tin bổ trợ và có mối liên hệ với trải
nghiệm cá nhân, đồng thời được tích hợp và gắn kết với nhau bằng một cấu
trúc quen thuộc”[68; 337]. Theo đó, sử dụng các thông tin bổ trợ cũng là một
biện pháp truyền đạt kiến thức mới.
Bàn về những phẩm chất của người giáo viên hiệu quả, Molnar. A,
Smith. P cho rằng: “Người giáo viên hiệu quả tận dụng sự liên quan lẫn nhau
giữa các môn học trong cả khung chương trình và sự sáp nhập nhiều môn học
khác vào thực hành giảng dạy”[67; 165](Education Evaluation and Policy
Analysis – 1999). Cũng nói về vấn đề này, James H. Stronge trong cuốn
“Những phẩm chất của người giáo viên hiệu quả” (NXB Giáo dục 2011), do
Lê Văn Canh dịch đã nhận định: “Giảng dạy là nơi gặp gỡ của nhiều ngành
học phức hợp và liên quan đến việc tương tác với nhiều học sinh đa dạng và
phức hợp”[53; 93].
Trong cuốn “Nghệ thuật và khoa học dạy học”( NXB Giáo dục 2011)
của tác giả Robert J. Marzano do GS. TS. Nguyễn Hữu Châu dịch, đã khẳng
định “Trong thực tế, không có một chiến thuật dạy học riêng lẻ nào đáp ứng
5
Đề tài: Sử dụng kiến thức liên môn để giáo dục truyền thống yêu nƣớc cho học sinh trong dạy học lịch
sử Việt Nam (1945 – 1954) THPT – chƣơng trình chuẩn
được yêu cầu của việc xử lí tích cực kiến thức trong quá trình trải nghiệm với
kiến thức trọng tâm mới” [38; 47]. Trong một tác phẩm khác cộng tác với J.
Đề tài: Sử dụng kiến thức liên môn để giáo dục truyền thống yêu nƣớc cho học sinh trong dạy học lịch
sử Việt Nam (1945 – 1954) THPT – chƣơng trình chuẩn
hơn, cụ thể hơn về những mối liên hệ qua lại giữa các ngành khoa học sẽ là
đóng góp lớn cho giáo dục học hiện nay.
Tác giả Đoàn Huy Oánh trong tác phẩm “Tâm lý sư phạm” ( NXB Đại
học Quốc Gia Tp Hồ Chí Minh, 2005) đã nêu “Bên cạnh chương trình Giáo
dục công dân riêng biệt, các môn học về văn học, lịch sử cũng là những bài
học quý giá giảng dạy về luân lí, đạo đức, nhân cách” [ 49; 247]. Cũng trong
tác phẩm này, tác giả khẳng định “ngày này, các nhà tâm lý giáo dục nhận
định rằng, giáo viên cần có khả năng hiểu biết nhiều phương diện kiến
thức”[49; 248]. Như vậy theo đánh giá của một nhà tâm lí học, KTLM có vai
trò lớn trong giáo dục HS. Đồng thời, để thực hiện nhiệm vụ giáo dục, GV
phải am hiểu nhiều lĩnh vực để ứng dụng vào bài giảng, làm cho giờ học trở
nên sinh động, hấp dẫn HS.
Giáo trình “Giáo dục học” – Trần Thị Tuyết Oanh ( Tập 1 NXB Đại học
Sư phạm, 2006), đã nêu: Một trong số những phẩm chất nhân cách con người
Việt Nam cần giữ gìn và phát huy là lòng yêu nước. Theo tác giả tình cảm này
có nguồn gốc sâu xa, bắt nguồn từ trong tâm thức của mỗi người Việt Nam.
Lòng yêu nước trở thành một trong những tiêu chí đánh giá phẩm chất, nhân
cách con người Việt Nam.
- Giáo trình lịch sử
Cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử” của Phan Ngọc Liên và Trần Văn
Trị (NXB Giáo dục 1992), đã dành hẳn một phần để nói về chức năng giáo
dục của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông trong đó có giáo dục truyền
thống yêu nước. Giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” tập 1 GS. Phan
Ngọc Liên (chủ biên), PGS. Trịnh Đình Tùng, GS. Nguyễn Thị Côi (NXB
Đại Học Sư Phạm 2009) đã nêu: “Bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông có khả
năng giáo dục học sinh truyền thống tốt đẹp về lòng yêu nước… phải nắm
GS. Trần Văn Giàu trong cuốn “Giá trị tinh thần truyền thống của dân
tộc Việt Nam” (NXB Khoa Học Xã Hội 1980) đã nêu lên những giá trị tinh
thần truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta trong đó nhấn mạnh truyền thống yêu
nước chống ngoại xâm qua các thời kì lịch sử.
Trong cuốn “Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông”
của hội giáo dục lịch sử trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội do GS. Phan Ngọc
Liên chủ biên có các bài viết về việc sử dụng tài liệu Hồ Chí Minh, sử dụng
8
Đề tài: Sử dụng kiến thức liên môn để giáo dục truyền thống yêu nƣớc cho học sinh trong dạy học lịch
sử Việt Nam (1945 – 1954) THPT – chƣơng trình chuẩn
tài liệu văn kiện Đảng… đây cũng là một khía cạnh của vấn đề sử dụng
KTLM trong DHLS. Ngoài ra, cũng trong tác phẩm này, các tác giả đã viết
một chuyên đề về giáo dục HS qua DHLS. Trong đó, nhiều bài viết của các
tác giả như Thái Văn Long, Trần Vĩnh Tường… đã khai thác những nội dung
của truyền thống yêu nước có thể giáo dục HS. Theo đó, yêu nước là yêu
CNXH, kính yêu lãnh tụ…
Tác phẩm “Hồ Chí Minh với sử học” của GS. Phan Ngọc Liên cũng đã
phân tích hiệu quả to lớn của việc sử dụng các tác phẩm của chủ tịch Hồ Chí
Minh trong DHLS.
Nói về vai trò của các loại tài liệu trong bài giảng lịch sử, tác giả Trần
Viết Thụ trong cuốn “Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn lịch sử”
(NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, 2009) khẳng định: “Nguồn tài liệu mà giáo
viên đưa vào bài giảng phong phú đa dạng không chỉ làm sâu sắc nội dung
sách giáo khoa, mà còn mở rộng hiểu biết của học sinh về kiến thức văn hóa
nói chung như khảo cổ học, triết học, văn học, nghệ thuật, địa lí…”[12; 111].
Điều này chứng tỏ, nếu GV khai thác tốt nguồn KTLM không chỉ khắc sâu
nguyên tắc liên môn khi dạy học các vấn đề văn hóa trong SGK Lịch Sử”
(Tạp chí “Nghiên cứu Giáo dục” số 12 – 1997), tác giả Trần Viết Thụ đã đi
sâu nghiên cứu việc vận dụng kiến thức các môn học khác vào dạy các nội
dung văn hóa của môn lịch sử, Trần Đức Minh “Vận dụng quan điểm liên
môn - một yếu tố nâng cao tính tích cực học tập của HS” (trên tạp chí
Nghiên cứu Giáo dục số 4/1999)…
Ngoài ra, vấn đề trên cũng được một số luận văn cao học, khóa luận tốt
nghiệp của sinh viên đề cập tới như: Luận văn “Giáo dục lòng yêu quê hương
cho HS phổ thông trung học qua DHLS địa phương ( tỉnh Nghĩa Bình)” của
tác giả Trần Quốc Tuấn bảo vệ năm 1986 (trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội ),
trong đó tác giả nêu những đặc trưng của lòng yêu nước, yêu quê hương là
mức độ thấp của lòng yêu nước. Cùng quan điểm với tác giả Trần Quốc Tuấn
có khóa luận của Võ Thị Hồng Nhi “Giáo dục lòng yêu quê hương đất nước
cho HS qua khai thác và sử dụng tư liệu lịch sử địa phương trong DHLS bài
nội khóa ở trường THPT Hà Tĩnh” (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội –
2004). Trần Viết Thụ với luận án “Giảng dạy những nội dung văn hóa trong
khóa trình lịch sử dân tộc ở trường PTTH”, đề cập đến những phương pháp
giảng dạy nội dung văn hóa, trong đó sử dụng KTLM là một biện pháp hiệu
quả. Khóa luận “ Giáo dục truyền thống yêu nước cho HS khi dạy học phần
10
Đề tài: Sử dụng kiến thức liên môn để giáo dục truyền thống yêu nƣớc cho học sinh trong dạy học lịch
sử Việt Nam (1945 – 1954) THPT – chƣơng trình chuẩn
LSVN từ thời nguyên thủy đến thế kỷ XV ở lớp 10 THPT (chương trình
chuẩn) (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội – 2009), Luận văn của Nguyễn Thị
Nhung “Sử dụng KTLM để gây hứng thú học tập LSVN từ năm 1930 đến
năm 1945 ở trường THPT (chương trình chuẩn)”…
Đề tài: Sử dụng kiến thức liên môn để giáo dục truyền thống yêu nƣớc cho học sinh trong dạy học lịch
sử Việt Nam (1945 – 1954) THPT – chƣơng trình chuẩn
KTLM trong DHLS, luận văn đề ra các biện pháp sử dụng KTLM để giáo dục
truyền thống yêu nước cho HS.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Xác định cơ sở lí luận và điều tra thực tiễn của việc sử dụng KTLM trong
DHLS
+ Tìm hiểu nội dung chương trình SGK cần giáo dục truyền thống yêu
nước cho HS.
+ Đề xuất các biện pháp sử dụng KTLM để giáo dục truyền thống yêu
nước cho HS.
+ Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng các biện pháp mà luận văn đã đề
ra, từ đó rút ra kết luận khoa học về việc sử dụng KTLM để giáo dục truyền
thống yêu nước cho HS.
5. Cơ sở phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở phương pháp luận của đề tài là dựa trên lí luận của chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về
phương pháp DHLS và truyền thống yêu nước
- Phương pháp nghiên cứu :
+ Nghiên cứu các tài liệu: Tâm lí học, Giáo dục học, các tài liệu giáo dục
khác, tài liệu lịch sử, phương pháp DHLS, chương trình SGK THPT và các tài
liệu có liên quan khác.
+ Điều tra cơ bản: tiến hành quan sát, điều tra bằng phiếu điều tra đối với
GV và HS
+ Thực nghiệm sư phạm bài 20: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực
dân Pháp kết thúc (1953 – 1954) (tiết 1). Địa bàn thực nghiệm: trường THPT
Tân Lạc – Tân lạc – Hòa Bình.
+ Sử dụng phương pháp toán học thống kê trên cơ sở so sánh các giá trị
Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn cấu trúc
thành hai chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng KTLM để giáo
dục truyền thống yêu nước cho HS trong DHLS ở trường THPT
Chương 2: Một số biện pháp sử dụng KTLM để giáo dục truyền thống
yêu nước cho HS trong DHLS Việt Nam (1945-1954) lớp 12
13
Đề tài: Sử dụng kiến thức liên môn để giáo dục truyền thống yêu nƣớc cho học sinh trong dạy học lịch
sử Việt Nam (1945 – 1954) THPT – chƣơng trình chuẩn
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG
KIẾN THỨC LIÊN MÔN ĐỂ GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG YÊU
NƢỚC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƢỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Một số quan niệm
- Kiến thức và KTLM
Kiến thức
Trong đời sống cũng như trong khoa học, chúng ta thường xuyên nhắc
đến thuật ngữ kiến thức, chính vì mức độ phổ biến của thuật ngữ này nên
cũng có nhiều quan niệm khác nhau về kiến thức.
Theo các nhà sinh lí học, kiến thức là một dạng nhất định của những mối
liên hệ tạm thời, được tạo trên vỏ các bán cầu đại não do ảnh hưởng của
những kích thích bên ngoài và hoạt động tư duy tích cực của chủ thể nhận
thức. Như vậy, kiến thức chỉ tồn tại “tạm thời”, nếu không thường xuyên
“nhắc lại” kiến thức sẽ bị xóa mờ và bị thay thế bởi kiến thức khác trên các vỏ
lịch sử là tiền đề để hiểu hiện tại một cách đúng đắn và khoa học từ đó có sự
định hướng chính xác cho sự phát triển trong tương lai. Kiến thức lịch sử
nghiên cứu những con người, sự kiện có thật, vì vậy nó có tác dụng lớn trong
việc giáo dục tư tưởng, tình cảm và hình thành thế giới quan khoa học. Qua
đó, có thể khẳng định kiến thức lịch sử không chỉ là phương tiện để con người
nhận thức tự nhiên và xã hội mà còn là công cụ để cải tạo nó, trình độ nhận
thức của con người càng cao thì kiến thức lịch sử càng phong phú, đa dạng.
Như vậy, kiến thức lịch sử là sự phản ánh mọi mặt đời sống xã hội, là kết
quả của việc nghiên cứu khoa học lịch sử được sử dụng vào nhận thức và hoạt
động xã hội, giúp con người hiểu một cách đầy đủ về quá trình phát triển của
lịch sử loài người.
15
Đề tài: Sử dụng kiến thức liên môn để giáo dục truyền thống yêu nƣớc cho học sinh trong dạy học lịch
sử Việt Nam (1945 – 1954) THPT – chƣơng trình chuẩn
Kiến thức liên môn
Kiến thức liên môn là những kiến thức giao thoa giữa các môn học,
những kiến thức ở những môn học khác nhau nhưng cùng đề cập đến một vấn
đề. Do đó, trong bất kì môn học nào cũng có thể sử dụng KTLM vì mọi mặt
của đời sống đều có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau. Sử dụng KTLM
trong dạy học có ba mức độ: ở mức độ thấp, GV nhắc lại tài liệu, sự kiện, kĩ
năng các môn có liên quan, cao hơn đòi hỏi HS nhớ lại và vận dụng kiến thức
đã học của các môn học khác, và cao nhất đòi hỏi HS phải độc lập giải quyết
các bài tập nhận thức bằng vốn kiến thức đã biết.
Như vậy, mức độ sử dụng KTLM càng cao thì nó càng gần với khái
niệm “tích hợp”. Để hiểu rõ hơn về nguyên tắc liên môn cũng như vấn đề sử
dụng KTLM trong dạy học nói chung và trong DHLS nói riêng chúng ta cần
phát triển của lịch sử.
Để sử dụng KTLM vào DHLS đạt hiệu quả cao, người GV lịch sử không
chỉ nắm vững kiến thức lịch sử mà còn phải nắm vững nội dung, chương trình
các môn học được giảng dạy trong trường phổ thông có liên quan đến môn
lịch sử, trước hết chính là những môn học “gần gũi” với lịch sử như: Văn học,
Địa lí, Giáo dục công dân…Học sinh có vai trò chủ động, tích cực trong việc
học tập vì khi học lịch sử theo phương pháp này HS phải huy động những
kiến thức đã học để hiểu sâu, toàn diện một sự kiện. Đồng thời, HS được ôn
tập, củng cố, tổng hợp các kiến thức ở mức cao hơn và biết vận dụng thông
minh kiến thức.
Giáo dục truyền thống và truyền thống yêu nƣớc trong DHLS
Giáo dục
Theo Từ điển Tiếng Việt, giáo dục là “hoạt động nhằm tác động một
cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào
đó, làm cho đối tượng đó dần dần có được những phẩm chất và năng lực như
yêu cầu đề ra”. [50; 395]. Theo đó, hoạt động giáo dục cần có hai chủ thể là
người giáo dục và người được giáo dục, và hoạt động này nhằm xây dựng,
hình thành nên những phẩm chất, năng lực như mục tiêu đã đề ra trước đó.
Bên cạnh khái niệm về hoạt động giáo dục nói chung, các nhà giáo dục
học quan niệm giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự
truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người.
17
Đề tài: Sử dụng kiến thức liên môn để giáo dục truyền thống yêu nƣớc cho học sinh trong dạy học lịch
sử Việt Nam (1945 – 1954) THPT – chƣơng trình chuẩn
Sở dĩ nói giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt vì chỉ có trong xã hội loài
người giáo dục mới được nảy sinh, phát triển và tồn tại lâu dài. Lúc đầu giáo
Đề tài: Sử dụng kiến thức liên môn để giáo dục truyền thống yêu nƣớc cho học sinh trong dạy học lịch
sử Việt Nam (1945 – 1954) THPT – chƣơng trình chuẩn
Theo GS Phan Ngọc Liên, trong “Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông”,
“truyền thống là những yếu tố về sinh hoạt văn hóa, tư tưởng, tình cảm một
địa phương, một đơn vị nào đó, được truyền từ đời này sang đời khác, thế hệ
trước sang thế hệ sau. Truyền thống có phần tích cực, giúp vào sự tồn tại và
phát triển, như truyền thống yêu nước, lao động (truyền thống tốt đẹp), cũng
có phần tiêu cực phải xóa bỏ. Dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản, những
truyền thống yêu quý lao động, yêu nước và cách mạng được kế tục và phát
huy cao độ”[33; 443]. Có những truyền thống tốt đẹp mà mọi thế hệ cần kế
thừa, phát huy nhằm phục vụ cho những mục đích cao quý, cho sự tiến bộ của
xã hội như: truyền thống yêu nước, truyền thống đoàn kết, truyền thống cần
cù, yêu lao động…Bên cạnh đó những nét tiêu cực, những hủ tục do tàn dư
của xã hội cũ để lại như: mê tín dị đoan, trọng nam khinh nữ…thì phải kiên
quyết xóa bỏ.
Tóm lại, truyền thống là những thói quen, những phong tục, tập quán
được truyền từ đời này sang đời khác, bao gồm cả những giá trị tốt đẹp và
những hủ tục lạc hậu cần bài trừ. Nhiệm vụ của nhà trường nói chung và của
môn Lịch sử nói riêng là phải làm cho thế hệ trẻ hiểu được giá trị của những
truyền thống tốt đẹp, gìn giữ, phát triển nó đồng thời nhận biết và bài trừ
những truyền thống không còn phù hợp với thời đại ngày nay.
Truyền thống yêu nước
Quan niệm về truyền thống yêu nước ở mỗi thời kì tùy vào giai cấp lãnh
đạo, nhiệm vụ của thời đại sẽ mang những nội dung khác nhau. Trong thời
phong kiến, “ái quốc” phải gắn liền với “trung quân”, yêu nước là phải trung
thành với nhà vua. Trong thời đại ngày nay, yêu nước gắn liền với yêu
CNXH, dốc sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Lòng yêu nước là tình cảm tự nhiên của con người, nó trước hết là tình
trách nhiệm của mỗi người dân với Tổ quốc” [35; 213]. Bên cạnh những nét
chung được hun đúc qua nhiều thế kỉ, truyền thống yêu nước có những nét
riêng đặc trưng cho mỗi thời kì lịch sử. Giai đoạn dựng nước, nội dung truyền
thống yêu nước thể hiện qua việc cải tạo thiên nhiên, xây dựng đất nước,
chống giặc ngoại xâm. Từ giữa thế kỉ XIX đến Cách mạng tháng Tám, truyền
thống yêu nước thể hiện qua sự quật cường, anh dũng trong đấu tranh chống
Pháp. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, truyền thống yêu nước kết hợp với lòng
yêu chủ nghĩa xã hội. Tóm lại, nội dung truyền thống yêu nước cần giáo dục
cho HS là tình yêu quê hương, làng xóm, lòng tự hào về những nét đẹp vật
20
Đề tài: Sử dụng kiến thức liên môn để giáo dục truyền thống yêu nƣớc cho học sinh trong dạy học lịch
sử Việt Nam (1945 – 1954) THPT – chƣơng trình chuẩn
chất, tinh thần của dân tộc. Kết tinh cao nhất của truyền thống yêu nước là
tinh thần sẵn sàng xả thân, hi sinh để bảo vệ độc lập dân tộc.
Sử dụng KTLM để giáo dục truyền thống yêu nƣớc cho HS
Sử dụng KTLM để giáo dục truyền thống yêu nước cho HS trong DHLS
là quán triệt nguyên tắc liên môn trong dạy học, đồng thời thực hiện nhiệm vụ
giáo dục ở trường phổ thông. Sử dụng KTLM để giáo dục truyền thống yêu
nước là việc GV sử dụng kiến thức của những môn học khác nhau, có nội
dung liên quan để làm nổi bật kiến thức lịch sử HS cần lĩnh hội, thông qua đó
giáo dục HS những khía cạnh của truyền thống yêu nước. Điều này không có
nghĩa là vận dụng KTLM trong DHLS một cách chung chung, hay trong bài
học lịch sử chỉ tập trung giáo dục truyền thống yêu nước một cách gượng ép,
thiếu tự nhiên, cũng không phải là sa đà vào những KTLM mà quên mất mục
tiêu của bài học. Sử dụng KTLM phải có chọn lọc nhằm làm nổi bật nội dung
lịch sử, thông qua đó giáo dục truyền thống yêu nước cho HS. Đó là mục tiêu
công tác giáo dục trong giai đoạn hiện nay, nên mục tiêu giáo dục đã được
pháp quy hóa trong văn bản Luật giáo dục năm 2005: “đào tạo con người Việt
Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề
nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và CNXH hình thành và bồi
dưỡng phẩm chất, năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc” [11; 32]. Như vậy, tất cả các văn bản xác định mục tiêu, nhiệm
vụ của đất nước trong giai đoạn hiện nay đều chú trọng vào việc giáo dục con
người Việt Nam phát triển toàn diện, một trong những phẩm chất không thể
thiếu đó là lòng yêu nước.
Mục tiêu, nhiệm vụ của bộ môn Lịch sử ở trƣờng THPT
Mục tiêu của môn Lịch sử ở trường phổ thông thể hiện ở ba mặt cơ bản:
kiến thức, kĩ năng, thái độ.
- Về kiến thức: Trên cơ sở củng cố những kiến thức lịch sử đã học ở
THCS, từ đó phát triển những nội dung về LSVN, lịch sử thế giới, hợp thành
một hệ thống kiến thức về sự phát triển của lịch sử từ nguyên thủy cho đến
nay.
- Về kĩ năng: Cần bồi dưỡng cho HS những kĩ năng: Tư duy biện chứng
trong nhận thức và hành động. Ngoài ra cần bồi dưỡng những kĩ năng thực
hành bộ môn như: sử dụng SGK, các loại tài liệu tham khảo, làm và sử dụng
đồ dùng trực quan, nâng cao năng lực trình bày bao gồm cả nói và viết, ứng
dụng công nghệ thông tin vào học tập, tham gia hoặc tổ chức được các hoạt
22