Đề tài tốt nghiệp - Tìm hiểu hệ thống đình làng ở thành phố Tam Kỳ
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn hoá là sức mạnh nội tại của mỗi dân tộc. Văn hoá làng là những đặc
trưng văn hoá đặc thù, được bảo lưu lâu dài trong cộng đồng dân cư... Và đình
làng ra đời được xem như nơi “hội tụ văn hóa” trong làng xã Việt Nam cổ
truyền. Đình không những là cơ quan tối cao điều hành toàn bộ mọi hoạt động
của làng xã mà đây còn là nơi thể hiện rõ tài năng nghệ thuật của những người
dân quê chân chất, hiền lành. Chính vì thế, ngôi đình đã trở thành biểu tượng
linh thiêng mỗi làng xã Việt Nam cổ truyền. Song hiện nay cùng với quá trình
đô thị hóa nhanh chóng thì hình ảnh thân thuộc đó đang dần trở nên xa lạ, lạc
lõng với nơi mà nó đã tồn tại hàng trăm năm.
Tam Kỳ (Quảng Nam) cũng không nằm ngoài tiến trình lịch sử đó. Là
một vùng đất mới mở của người Việt (thế kỷ XV), Tam Kỳ nói riêng và Quảng
Nam nói chung là nơi kết tinh giá trị văn hóa Việt – Chăm để tạo ra nét văn hóa
đặc thù riêng của mình. Trong quá trình di dân, lập ấp ấy, những ngôi đình cũng
dần xuất hiện trên mảnh đất Quảng Nam như một minh chứng cho sự gắn kết
trong cộng đồng làng.
Hiện nay, những yếu tố văn hóa làng xã Việt Nam cổ truyền ở Quảng
Nam nói chung và Tam Kỳ nói riêng đang dần biến mất. Tam Kỳ - thành phố
tỉnh lỵ cũng là một trong những địa phương có tốc độ đô thị hóa nhanh nhất.
Hàng loạt các công trình hiện đại được xây dựng đã tạo ra sự biến đổi không thể
phục hồi lại của những ngôi làng với những nét văn hóa đặc trưng. Trong dòng
chảy ấy, đình làng Tam Kỳ cũng dần hoang phế vì không được bảo tồn, dần bị
phá bỏ vì không được chú ý.
Vì vậy, tôi chọn đề tài này, hi vọng thông qua hệ thống đình ở Tam Kỳ
nắm bắt rõ hơn văn hoá truyền thống dân tộc, góp phần nâng cao ý thức người
dân trong việc bảo tồn phát huy các giá trị văn hoá, giáo dục lối sống cho người
dân, nhất là thế hệ trẻ cũng như tình hình thực trạng đời sống văn hoá của người
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Vĩnh Linh - 1 - SVTH: Bùi Thị Thu Ba
Đề tài tốt nghiệp - Tìm hiểu hệ thống đình làng ở thành phố Tam Kỳ
4. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
4.1. Mục tiêu: Tìm hiểu một cách khái quát hệ thống đình trên địa bàn thành
phố Tam Kỳ ở nhiều khía cạnh khác nhau như văn hoá, chính trị, tín ngưỡng...Từ
đó, làm nổi bật những giá trị của hệ thống đình làng trong đời sống nhân dân Tam
Kỳ hiện nay.
4.2. Nhiệm vụ: Tìm hiểu lịch sử ra đời của thành phố Tam Kỳ - không
gian của đề tài.
Tìm hiểu quá trình xuất hiện của các đình làng tiêu biểu tại thành
phố Tam Kỳ.
Làm rõ giá trị về nhiều mặt của đình làng như lịch sử, kiến trúc -
nghệ thuật, văn hoá... Từ đó, có cách nhìn biện chứng về vai trò của đình làng
trong đời sống hiện nay.
5. Giới hạn của đề tài
Thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu những đình làng tiêu biểu của
thành phố Tam Kỳ ra đời vào khoảng đầu thế kỷ 19.
Không gian: Các xã, phường thuộc thành phố Tam Kỳ mà tiêu biểu là các
phường Hoà Thuận, Tân Thạnh, Hoà Hương và xã Tam Thăng.
6. Điểm mới của đề tài
Góp phần làm sáng tỏ lịch sử hình thành và phát triển làng xã thành phố
Tam Kỳ và đời sống văn hoá của người dân.
Nêu bật giá trị về mọi mặt của đình làng trong đời sống người dân Tam
Kỳ nay.
Góp phần bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống.
7. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài tôi sử dụng những phương pháp sau:
7.1. Phương pháp luận: Sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của triết học Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh với những
yêu cầu về phương pháp luận như gắn lý luận với thực tiễn, tính chính xác và
tính khách quan...
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Vĩnh Linh - 3 - SVTH: Bùi Thị Thu Ba
Nằm ở đồng bằng ven biển, Tam Kỳ hình thành ba vùng rõ rệt: vùng ven
biển gồm các xã dọc sông Trường Giang và phía Đông; vùng đồng bằng gồm
các xã nằm dọc đường quốc lộ 1A; vùng giáp ranh trung du và miền núi (bán
sơn địa). Tam Kỳ có nhiều núi thấp xen kẻ với đồng ruộng và khu dân cư: núi
đất Quảng Phú, An Hà (Tam Phú), núi Quánh (Tam Ngọc). Bờ biển Tam Kỳ
tương đối bằng và thẳng, bên ngoài thềm lục địa nông thuận lợi cho khai thác
thuỷ sản. Có nhiều sông, vũng đầm như sông Bàn Thạch nối liền vùng đầm An
Hà với sông Ba Kỳ, sông Cây Trâm nối liền sông Tam Kỳ với sông Ông Bộ,
sông Trường Giang nối hai cửa biển An Hoà và Cửa Đại chạy dọc theo bờ biển.
Các sông ở Tam Kỳ không có đầu nguồn xa lại có độ dốc cao, mùa nắng mau
cạn và bị nước triều từ biển dâng vào sâu; Tam Kỳ có đầm An Hà (thuộc xã
Tam Phú và Tam Thăng). Vào thời mà “bộ khôn bằng ngựa, thuỷ khôn bằng
thuyền” thì bến đò Ba Bến (hay còn gọi là bến Tam Phú ở Tam Phú) luôn tấp
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Vĩnh Linh - 5 - SVTH: Bùi Thị Thu Ba
Đề tài tốt nghiệp - Tìm hiểu hệ thống đình làng ở thành phố Tam Kỳ
nập ghe thuyền, người người qua lại, tại đây ngược sông Ba Kỳ lên tận Trường
Xuân, Tư Yên..., theo đường sông vào Cửa Lỡ, An Hoà (Kỳ Hoà) hay ra Thu
Bồn, Cửa Đại...
Tam Kỳ thuộc vùng khí hậu duyên hải, nhiệt độ trung bình hàng năm là
25,6
0
C, nhiệt độ cao nhất vào tháng 6: 28,9
0
C và tháng thấp nhất là tháng 1:
21,4
0
C. Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2585,8mm, cao nhất là vào
tháng 10: 709,3mm, thấp nhất là vào tháng 3: 37,2mm. Giờ nắng trung bình
trong ngày là 5-9 giờ, độ ẩm trung bình trong năm khoảng 82%. Đây cũng là
vùng chịu ảnh hưởng nhiều của thời tiết, hàng năm bảo lụt thường xảy ra, gây
thành 3 huyện:
Huyện Hà Đông: tương ứng với huyện Vạn Yên dưới nhà Hồ
Huyện Lệ Giang: tương ứng với huyện Thăng Bình ngày nay
Huyện Hy Giang: tương ứng với huyện Duy Xuyên ngày nay
Như vậy, dưới thời nhà Hậu Lê, thành phố Tam Kỳ thuộc huyện Hà
Đông.
Dưới thời Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1604) phủ Thăng Hoa chỉ còn lại 2
huyện:
Huyện Lễ Dương: tên mới của huyện Lệ Giang
Huyện Hà Đông: bao gồm phần đất của thành phố Tam Kỳ ngày nay. Tuy
nhiên địa danh Tam Kỳ chưa xuất hiện trong cơ cấu hành chính.
Dưới thời Tây Sơn (1788-1801), theo sách “Hoàng Việt Long Hưng Chí”
thì Đạo Thừa tuyên Quảng Nam được chia thành 2 phủ và 5 huyện [4]
Phủ Điện Bàn quản lãnh 2 huyện: Diên Phước và Hoà Vang
Phủ Thăng Hoa quản lãnh 3 huyện: Phong Dương, Duy Xuyên và Hà
Đông trong đó có vùng đất của Tam Kỳ ngày nay.
Vào đầu thế kỷ XIX, năm 1801 vua Gia Long tách phủ Điện Bàn và phủ
Thăng Hoa để lập dinh Quảng Nam. Năm 1827 dưới thời vua Minh Mạng đổi
thành trấn Quảng Nam rồi đến năm 1832 đổi thành tỉnh Quảng Nam cho đến
ngày nay.
Theo địa bạ thời Gia Long, dinh Quảng Nam gồm 2 phủ, 5 huyện, 29
tổng, 973 làng xã. Trong đó huyện Hà Đông gồm 4 tổng 2 thuộc 153 làng (tổng
Chiên Đàn Trung (4 làng), tổng Đức Hoà Trung (6 làng), tổng Tiên Giang
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Vĩnh Linh - 7 - SVTH: Bùi Thị Thu Ba
Đề tài tốt nghiệp - Tìm hiểu hệ thống đình làng ở thành phố Tam Kỳ
Thượng (6 làng), tổng Vinh Hoa Trung (3 làng), thuộc Hội Sơn Nguyên (2
làng), thuộc Liêm Hạ (133 làng)).[4]
Thành phố Tam Kỳ ngày nay thuộc tổng Chiên Đàn Trung.
Năm 1906 theo đạo dụ của vua Thành Thái, huyện Hà Đông được đổi
thành phủ Hà Đông và sau đó là phủ Tam Kỳ (bao gồm thành phố Tam Kỳ,
Ngày 4/4/1975 UBND Cách mạng Nam Trung Bộ đã ra Quyết định số
119-QĐ sáp nhập tỉnh Quảng Nam và Quảng Đà thành tỉnh Quảng Nam - Đà
Nẵng. Năm 1984 tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng gồm 16 đơn vị hành chính, 1
thành phố là Đà Nẵng và 2 thị xã là Tam Kỳ và Hội An, 13 huyện.
Huyện Tam Kỳ tách thành hai đơn vị hành chính là thị xã Tam Kỳ (7
phường, 13 xã) và huyện Núi Thành (1 thị trấn, 13 xã).
Ngày 6/11/1996 tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng được tách thành hai đơn vị
hành chính độc lập là thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam.
Tỉnh Quảng Nam gồm 2 thị xã (Tam Kỳ và Hội An) và 12 huyện. Thị xã
Tam Kỳ gồm 7 phường và 13 xã như cũ.
Ngày 5/1/2005 một phần thị xã Tam Kỳ được tách ra để thành lập huyện
Phú Ninh, sau khi tách 10 xã để thành lập huyện Phú Ninh, thị xã Tam Kỳ có cơ
cấu đơn vị hành chính gồm 9 phường và 4 xã.
Đến ngày 29/9/2006 thành phố Tam Kỳ được thành lập, hiện nay gồm 13
đơn vị hành chính (9 phường và 4 xã). Thành phố Tam Kỳ là tỉnh lỵ, là trung
tâm hành chính - văn hoá - khoa học kỹ thuật của tỉnh Quảng Nam cho đến nay.
Các xã, phường hiện nay của thành phố Tam Kỳ gồm:
- Phường Phước Hoà.
- Phường An Sơn.
- Phường An Mỹ.
- Phường Hoà Hương.
- Phường An Xuân.
- Phường Hoà Thuận.
- Phường Trường Xuân (một phần xã Kỳ Hương cũ 1954-1975).
- Phường Tân Thạnh (một phần xã Kỳ Hương cũ 1954-1975).
- Phường An Phú (một phần xã Kỳ Phú cũ).
- Xã Tam Phú (tách ra từ xã Kỳ Phú cũ).
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Vĩnh Linh - 9 - SVTH: Bùi Thị Thu Ba
Đề tài tốt nghiệp - Tìm hiểu hệ thống đình làng ở thành phố Tam Kỳ
- Xã Tam Thanh (tách ra từ xã Kỳ Phú cũ).
Đề tài tốt nghiệp - Tìm hiểu hệ thống đình làng ở thành phố Tam Kỳ
khai khẩn, mưu tìm đất sống. Họ liều lĩnh vượt biển vào xứ Quảng Nam, từ biển
Đông nhìn vào đất liền những lưu dân này nhìn thấy ba mô đất nhô cao lên
thành hình tam giác, đó là núi An Hà, núi Quảng Phú và dãy núi Trà Cai, thuyền
họ tìm đường được vào đến đoạn sông Đò Ba Bến (nơi hợp lưu của sông Bàn
Thạch với hai nhánh sông Tam Kỳ xưa). Nhận thấy đất đai màu mỡ, nước sông
thuận lợi nên họ quyết định an cư tại đây, để định vị cho vị trí của mình họ tự
đặt tên cho vùng đất này là đất Ba Gò, sau đổi dần thành Ba Kỳ và cuối cùng là
Tam Kỳ.
Chữ “Kỳ” trong gốc Hán có nhiều cách viết khác nhau và vì vậy cũng có
nhiều nghĩa khác nhau. Tuy nhiên, căn cứ vào những sử liệu chính thống và gia
phả của các tộc họ lớn ở địa phương như tộc Lê, Trần, Nguyễn, Ngô... thì dù
“Tam Kỳ xã” hay “Tam Kỳ phủ” đều có sự thống nhất trong cách viết chữ Kỳ ,
trong chữ Kỳ này có bộ “sơn” đứng trước nên còn có nghĩa là mô đất, gò đất
cao, hay trong dân gian vẫn lưu truyền câu nói “Nước cạn cháy, cá chạy bày
kỳ”.
1.3. Sinh hoạt văn hoá của người dân
1.3.1. Kinh tế
Đời sống của người dân Tam Kỳ xưa chủ yếu là nông nghiệp kết hợp với
ngư nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, sản xuất và trao đổi hàng hoá dưới dạng
nhỏ lẻ.
Nghề đánh bắt cá, chế biến mắm, làm muối có từ lâu đời nhưng do tổ
chức còn lạc hậu nên sản lượng thấp, nông nghiệp chịu nhiều ảnh hưởng của
thiên tai nên đời sống của người dân còn khá bấp bênh. Nghề thủ công truyền
thống cũng có từ khá sớm như nghề khai quặng, nấu sắt, rèn nông cụ ...ở Hồng
Lư (Hoà Hương), nghề trồng bông dệt vải ở Bãi Dương, cây Duối (Tam Phú),
nghề ươm tơ dệt lụa ở xóm Hàng (Hòa Hương), nghề trồng lát dệt chiếu ở Thạch
Tân (Tam Thăng), nghề trồng và làm thuốc lá ở Trường Xuân... Ngày nay, trong
dân gian vẫn còn lưu giữ câu ca:
“ Ai qua chợ Vạn, xóm Hàng
riêng khu vực liên doanh và đầu tư nước ngoài tăng 41%); khối lượng giải ngân
các nguồn vốn đầu tư tăng khá; các mục tiêu văn hóa - xã hội đều đạt (hoàn
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Vĩnh Linh - 12 - SVTH: Bùi Thị Thu Ba
Đề tài tốt nghiệp - Tìm hiểu hệ thống đình làng ở thành phố Tam Kỳ
thành và bàn giao nhà ở cho hộ nghèo), trật tự xã hội được đảm bảo (Báo Quảng
Nam).
Công tác quy hoạch và quản lý đô thị đạt được những kết quả nhất định,
đã hình thành được các khu, cụm công nghiệp Trường Xuân, Thuận Yên, Tam
Thăng, khu phố mới Tân Thạnh, các khu dân cư và đặc biệt là tập trung xây
dựng các công trình giao thông, kè sông, kè biển Tam Thanh, trung tâm thương
mại, siêu thị...
Từ những thành tựu trên, tháng 10/2005 Tam Kỳ được công nhận là đô thị
loại III và phấn đấu trở thành đô thi loại II trong năm 2010. Đến tháng 10/2006
Tam Kỳ trở thành thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Nam, liên tục trong hai năm
liền 2004- 2005 Tam Kỳ được Chính phủ tặng cờ thi đua xuất sắc, được Chủ
tịch nước tặng Huân chương Lao động hạng nhì.
1.3.2. Văn hoá
Trải qua bao biến thiên của lịch sử, những thế hệ người dân Tam Kỳ vẫn
giữ được cho mình những nét văn hoá độc đáo, vừa mang nét chung của “con
Lạc cháu Hồng” vừa mang nét riêng của những con người miền Trung hay “ ăn
to nói lớn”, thật thà, dung dị.
Cũng như nhiều địa phương khác, Tam Kỳ cũng có tín ngưỡng thờ thần
làng hay còn gọi là thờ Thành Hoàng làng, các bậc tiền hiền đã có công khai
khẩn đất hoang dựng nên làng. Ở khắp các thôn xóm đều có đình, miếu để thờ
các vị có công và hàng năm cứ đến rằm tháng giêng (hoặc giữa tháng giêng) lại
tổ chức lễ hội để tỏ lòng tri ân như: ở khối phố 4 phường Trường Xuân cứ đến
18 tháng giêng âm lịch hàng năm lại tổ chức lễ cúng linh đình, nhằm tỏ lòng biết
ơn với vị tướng Lê Tấn Trung - một vị tướng đời Lê đã có công khai canh lập
làng Trường Xuân trong lịch sử. Hay ở đình làng Mỹ Thạch (phường Tân
Thạnh) hàng năm vẫn diễn ra lễ tế Bổn xứ Thành Hoàng để nhớ ơn tổ tiên khai
Công giáo.
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Vĩnh Linh - 14 - SVTH: Bùi Thị Thu Ba
Đề tài tốt nghiệp - Tìm hiểu hệ thống đình làng ở thành phố Tam Kỳ
Chương 2. Những đình làng tiêu biểu trên địa bàn thành phố
2.1. Đình làng Hương Trà
2.1.1. Khái quát về quá trình ra đời của làng Hương Trà
Nằm ở hướng Đông Nam thành phố Tam Kỳ, Tây giáp quốc lộ 1A, Nam
và Đông giáp sông Tam Kỳ, Đông Bắc giáp làng Phú Lộc ven sông Bàn Thạch,
Bắc và Tây Bắc giáp làng Hương Sơn, làng Hương Trà là một trong năm khu
vực có từ ngày đầu thành lập của xã Tam Kỳ thuộc huyện Hà Đông từ nhiều thế
kỷ trước (Hương Trà, Hương Sơn, Hương Sơn Thượng, Hoà Phước, Hoà An ấp
và Hoà An Khuôn). Tên làng hầu như không thay đổi suốt từ ngày thành lập đến
nay.
Họ tộc đến làng Hương Trà lâu nhất là tộc Trần. Gia phả tộc Trần ghi rõ
ông tổ Trần Cảnh Lan người làng Kim Chuyết, huyện Hằng Hoá, tỉnh Thanh
Hoá đến định cư tại đây vào những năm đầu tiên của niên hiệu vua Lê Hoằng
Định (1602). Những tộc họ khác có thể đến đây cùng thời nhưng cư ngụ ở các
vùng lân cận, về sau mới đến định cư tại làng này.
Đến đầu thế kỷ XVIII, làng Hương Trà trở thành nơi có cư dân đông đúc
và trù phú nhất vùng, đây cũng được xem là vùng đất đầu tiên ở xứ Quảng mà
lưu dân Việt tìm đến sinh sống nên làng còn có tên tục là làng Cái. Triều đình
nhà Lê cho đắp đường thiên lý đi qua địa phận của làng, tuần đò Tam Kỳ nối
liền cung đường thiên lý từ trạm Nam Ngọc (vùng Bình Tú, Thăng Bình bây
giờ) đến trạm Nam Vân (vùng Tam Hiệp, Núi Thành bây giờ) từ đầu thời
Nguyễn và sự hiện diện của tuần đò này đã được nhà sử học Lê Quý Đôn ghi
nhận trong Phủ Biên Tạp Lục với số tiền thu thuế hằng năm của vùng đất ngả ba
sông này. Cảnh buôn bán tấp nập trên bến dưới thuyền đã tụ hội nhiều lưu dân
đến đây sinh sống, các tộc họ : Nguyễn, Lê, Hồ, Huỳnh, Võ, Ung, Bùi, Trịnh...từ
Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An cùng tụ cư về đây trong cuộc di dân lập ấp quy
mô dưới thời Lê Cảnh Hưng. Hiện nay, tại nhà ông Trần Văn Tuyền - hậu duệ
mời uống thứ nước này, nó rất ngọt và mát nên bà con xem nó như một loại trà
hảo hạng, bởi vậy mà có câu:
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Vĩnh Linh - 16 - SVTH: Bùi Thị Thu Ba
Đề tài tốt nghiệp - Tìm hiểu hệ thống đình làng ở thành phố Tam Kỳ
“ Hương ba vĩnh bảo quang thiên cổ
Trà cẩm trường tồn kỷ vạn niên”.
2.1.2. Quá trình ra đời của đình làng Hương Trà
Đình Hương Trà thuộc làng Hương Trà (nay là phường Hoà Hương, thành
phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam). Ngôi đình toạ lạc trên một vùng đất cạnh bờ
sông Tam Kỳ, nằm ở phía Đông Nam của thành phố. Nhìn về hướng Tây cách
quốc lộ 1A khoảng 800m; hướng Đông - Nam giáp sông Tam Kỳ; Đông - Bắc
giáp làng Phú Lộc, ven sông Bàn Thạch; Tây - Bắc giáp làng Hương Sơn.
Từ quốc lộ 1A theo đường Phan Chu Trinh đi về hướng Nam đến gần cầu
Tam Kỳ, rẽ trái theo đường bêtông về hướng Đông, theo “rừng cừa” khoảng
chừng 200m phía tay trái là đình làng Hương Trà (dân làng còn quen gọi tên
khác là Chùa Ông).
Đình Hương Trà nguyên thuỷ là một khu lăng miếu, dân làng gọi là
“Miếu Ông”, tương truyền, những cư dân Đại Việt đầu tiên đến đây bằng đường
thuỷ, trên đường đi họ gặp bão tố trên biển và nhờ một con cá voi cứu giúp mà
thuyền của họ cập vào được bến sông của vùng đất này. Ít lâu sau, một trận bão
khác đã đánh dạt một con cá voi vào mắt cạn rồi chết ở ngã ba sông, để tỏ lòng
thành kính, biết ơn nhân dân đã lập miếu thờ “Ông Ngư”.
Khi cuộc sống của dân làng trở nên ổn định, việc thờ cúng các tiền nhân
và những người có công khai khẩn là một tín ngưỡng tồn tại trong phong tục tập
quán người Việt, do vậy mà “Miếu Ông” được xây dựng thêm thành một ngôi
đình khang trang. Theo lời kể của các bậc cao niên thì đình được xây dựng lại
thành ba gian hai chái và miếu Ông trở thành gian hậu tẩm. Đình Hương Trà ban
đầu là đình của làng Tam Kỳ, gian chánh điện thờ Thành Hoàng làng, còn tả ban
hữu ban thờ các vị tiền hiền có công lập làng. Để thể hiện tinh thần cộng cư,
người dân đã dùng hai khối sa thạch được chạm trổ công phu của người Chăm