HÀ NỘI- 2008
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
BÙI THỊ THU HẰNG BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN
BỘ TIÊU CHUẨN KI ỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC CÁC
TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
đề chất lượng cũng trực tiếp liên quan đến công tác quản lý giáo dục, phát
triển chương trình giáo dục, phát triển chuẩn giáo dục và áp dụng chuẩn
trong giáo dục để từng bước hiện đại hoá giáo dục.
Trong thời gian gần đây CLGD được sự quan tâm chú ý của mọi
người trong xã hội. Giáo dục ngày càng phát triển cả về quy mô, hình thức
giáo dục và mạng lưới cơ sở giáo dục.Sự phát triển nhanh về quy mô đào
tạo, số lượng người học đã làm cho công tác quản lý nhà nước về giáo dục
gặp nhiều khó khăn, chất lượng giáo dục không đảm bảo.Bệnh chạy theo
thành tích trong ngành giáo dục đã làm cho cơ quan quản lý nhà nước về
giáo dục, người sử dụng lao động và mọi người trong xã hội không xác định
được đúng chất lượng giáo dục. Tâm lý coi trọng bằng cấp trong xã hội làm
cho người học chạy theo bằng cấp cũng ảnh hưởng lớn đến chất lượng giáo
dục. Đã có một số hoạt động nghiên cứu khoa học bàn về chất lượng giáo
dục và quản lí chất lượng giáo dục được tổ chức ở các cấp độ khác nhau và
đã được các phương tiện thông tin đại chúng đăng tải. Nội dung chủ yếu của
các công trình nghiên cứu này đều tập trung lí giải về chất lượng giáo dục và
đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Để đảm bảo CLGD
cần có nhiều biện pháp như tăng cường công tác quản lý nhà nước về giáo
dục, nâng cao trình độ và đề cao trách nhiệm của nhà giáo, cán bộ quản lý
giáo dục, đổi mới phương pháp, nội dung giáo dục, thực hiện tốt quy chế
giảng dạy, học tập, thi cử, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động 2
giáo dục …trong đó có công tác kiểm định chất lượng giáo dục. KĐCLGD
làm cho cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục biết được mức độ thực hiện
mục tiêu, chương trình và nội dung giáo dục của các cơ sở giáo dục, từ đó có
các biện pháp tác động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục tại các cơ sở này.
Kết quả kiểm định còn giúp cho mọi người trong xã hội biết được chất lượng
giáo dục tại các cơ sở giáo dục. Đồng thời, thông qua công tác KĐCLG, cơ
cao đáp ứng yêu cầu của công cuộc CNH, HĐH đất nước.
Bằng những bước đi thích hợp, trên cơ sở làm tốt công tác quy hoạch
phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2010, 2020, thực hiện tốt các chương
trình giáo dục với phương châm “Chuẩn hoá”, “Hiện đại hoá”, “Xã hội hoá”,
“Dân chủ hoá”, tiếp tục thực hiện chấn chỉnh công tác quản lý, khẩn trương
lập lại kỉ cương, kiên quyết “nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh
thành tích trong giáo dục, nói không với vi phạm đạo đức nhà giáo và cho
học sinh không đạt chuẩn lên lớp”, Ngành giáo dục Hải Phòng cùng với các
ngành các cấp đang nỗ lực phấn đấu đưa thành phố phát triển nhanh, bền
vững, mau chóng hội nhập với khu vực và quốc tế
Sở Giáo dục và Đào tạo Hải phòng đã và đang triển khai hệ thống
những chuẩn mực để đánh giá mọi hoạt động trong các nhà trường. Chỉ đạo
thực hiện bộ tiêu chuẩn KĐCLGD trong các nhà trường phổ thông nói chung
và của trường tiểu học nói riêng như thế nào để đảm bảo đúng mục đích là
vấn đề cấp thiết đối với Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng cả trên cả bình
diện lí luận và hoạt động thực tiễn.
Đó là lí do để tác giả lựa chọn đề tài:
“Biện pháp chỉ đạo thực hiện Bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng
giáo dục các trường Tiểu học trên địa bàn thành phố Hải Phòng” làm đề
tài luận văn tốt nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài 4
Nghiên cứu những vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng
giáo dục và kiểm định giáo dục, đề xuất các biện pháp chỉ đạo thực hiện Bộ
tiêu chuẩn kiểm định chất lượng tại các trường tiểu học trên điạ bàn thành
phố Hải Phòng.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về kiểm định chất lượng giáo
Sử dụng các phương pháp như: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá lý
thuyết để xác định các khái niệm công cụ và xây dựng khung lý thuyết cho
đề tài.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra:
+ Xây dựng các phiếu hỏi ý kiến đối với các cán bộ và chuyên viên
của Sở GD & ĐT Hải Phòng, các Phòng giáo dục và Đào tạo về công tác
quản lí chất lượng giáo dục các nhà trường.
+ Xây dựng các phiếu hỏi ý kiến đối với cán bộ quản lí ở các nhà
trường về công tác quản lí chất lượng giáo dục.
+ Xây dựng các phiếu hỏi ý kiến đối với cán bộ giáo viên ở một số
nhà trường về công tác quản lí chất lượng giáo dục.
+ Xây dựng các phiếu hỏi ý kiến học sinh ở một số nhà trường trong
việc đồng tình hay không đồng tình với cách quản lí học sinh hiện nay.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:
Tổng kết kinh nghiệm việc thí điểm KĐCLGD của quốc tế và trong
nước .
- Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến chuyên gia về sử dụng bộ tiêu chuẩn trong kiểm định đánh
giá chất lượng giáo dục trường TH với các hình thức xin ý kiến như: tổ chức
hội thảo, xin ý kiến trực tiếp với từng cá nhân chuyên gia.
- Phương pháp thống kê: 6
Sử dụng phương pháp thống kê để xử lý các số liệu thu nhận được từ
các phương pháp nghiên cứu khác.
8. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về vấn đề nghiên cứu
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Cùng với công tác dạy và học ở các cơ sở giáo dục là hoạt động đánh
giá chất lượng giáo dục. Mục đích chính của đánh giá CLGD là cải tiến chất
lượng giáo dục, là công cụ giám sát quá trình dạy và học, từ đó đưa ra
những quyết sách về quản lý, dự đoán các kết quả đào tạo để không ngừng
cải tiến nâng cao chất lượng giáo dục. Đánh giá chất lượng giáo dục có
nhiều nội dung khác nhau, trong đó có đánh giá các yếu tố điều kiện đảm
bảo chất lượng giáo dục và đánh giá chất lượng sản phẩm giáo dục.
Hoạt động đánh giá của nhiều nước trên thế giới thường tập trung vào
đánh giá kiến thức, kỹ năng, thái độ của học sinh và thường áp dụng cho các
lớp ở cuối cấp học trong phạm vi cả nước theo các chuẩn mực quy định.
Các hoạt động đánh giá này rất phổ biến ở Bắc Mỹ, châu Âu, Australia.
Nhiều quốc gia còn tổ chức tiến hành đánh giá chất lượng học sinh ở các lớp
giữa các cấp học để giám sát chất lượng dạy và học nhằm đưa ra các biện
pháp can thiệp kịp thời, như ở Mỹ, Bang New South Wails….
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra chỉ ra các thành tố tạo nên CLGD là:
- Ngữ cảnh(Context)
- Đầu vào(Input)
- Quy trình(Process)
- Đầu ra(Outcome)
Chất lượng sản phẩm giáo dục chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, đặc
biệt là các yếu tố như: Chất lượng hoạt động quản lý, hoạt động giáo dục,
chất lượng đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, kĩ thuật …Công tác đánh giá 8
chất lượng đội ngũ giáo viên cũng được các nước thực hiện; khác với
công tác thanh tra có thể tiến hành đánh giá từng giáo viên thông qua
năng lực giảng dạy của họ. Công tác đánh giá chất lượng đội ngũ giáo
Ở Việt Nam, cũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu và đề cập đến kiểm
định chất lượng giáo dục như Nguyễn Đức Chính với tác phẩm “Kiểm định
chất lượng trong giáo dục đại học” [16], Đặng Bá Lãm với “Kiểm tra và
đánh giá trong dạy- học đại học” [8], Nguyễn Công Khanh với “Về tiêu
chuẩn kiểm định khoá đào tạo giáo viên tiểu học” [15], Nguyễn Hữu Châu
với “Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng giáo dục và đánh giá chất
lượng giáo dục” [17] Tuy nhiên việc sử dụng và quản lý việc thực hiện bộ
tiêu chuẩn Kiểm định chất lượng giáo dục ở Trường Tiểu học còn chưa được
nghiên cứu một cách có hệ thống.
1.2. Các khái niệm công cụ
1.2.1. Quản lý
Khi trình bày khái niệm quản lí, ngoài việc trích dẫn những tư tưỏng
của các tác giả kinh điển của lí luận chủ nghĩa Mác – Lênin, các tác giả
thường dẫn ra quan điểm của một số tác giả nước ngoài như: Frederich
Winslon Taylor (1855-1915); Henry Fayol (1841-1925); Mary Parkor Pollet
(1868-1933); Harold Koontz… và một số tác giả Việt Nam như: Nguyễn
Hoàng Toàn, Nguyễn Ngọc Quang, Hồ văn Vĩnh, Phạm Minh Hạc, Đặng
Quốc Bảo, Nguyễn Duy Quý, Bùi Trọng Tuân…[14]
Các nghiên cứu về quản lí có thể được khái quát theo những khuynh
hướng như sau:
Thứ nhất, nghiên cứu quản lí theo quan điểm của điều khiển học và lí
thuyết hệ thống. Theo đó, quản lý là một quá trình điều khiển, là chức năng
của những hệ có tổ chức với bản chất khác nhau (sinh học, xã hội, kỹ thuật
v.v…) nó bảo toàn cấu trúc, duy trì chế độ hoạt động của các hệ đó. Quản lý 10
là tác động hợp quy luật khách quan, làm cho hệ vận động, vận hành và phát
triển.
Thứ hai, nghiên cứu quản lí với tư cách là một hoạt động, một lao
xảy ra. Các hoạt động của chủ thể quản lí có hai nội dung chính. Thứ nhất,
tác động đến đối tượng quản lí (con ngưòi và những đối tượng khác); Thứ
hai, khai thác, tổ chức và thực hiện các nguồn lực. Nguồn lực cũng tồn tại
như một trong những đối tượng quản lí nhưng không đồng nhất hoạt động
tác động đến đối tượng quản lí với hoạt động khai thác, tổ chức nguồn lực.
Rất nhiều hoạt động tác động đến đối tượng quản lí cần đến điều kiện là
nguồn lực. Khai thác, tổ chức và thực hiện nguồn lực, trong những trường
hợp cụ thể là tạo điều kiện để hoạt động tác động của chủ thể đến đối tượng
quản lí được thực hiện có hiệu quả.
2/ Quản lí thể hiện tập trung trí tuệ và ý chí của chủ thể quản lí. Điều
này được thể hiện ở những tác động hướng đích có chủ định do chủ thể quản
lí thực hiện và những mục tiêu mà chủ thể quản lí xác định. Tuy nhiên,
những tác động này của chủ thể chỉ có hiệu quả khi nó dựa trên cơ sở nhận
thức của chủ thể về các qui luật khách quan trong lĩnh vực hoạt động của
mình và ý thức của chủ thể trong việc tuân thủ các qui luật khách quan đó.
Mức độ thống nhất giữa những tác động hướng đích, có chủ định và hệ
thống mục tiêu do chủ thể quản lí xác định với các qui luật khách quan
khẳng định mức độ của tính khoa học, nghệ thuật của quản lí.
3/ Quản lí đồng nghĩa với sự thay đổi có chủ định cho tổ chức trong
và bằng những tác động của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí cũng như
trong việc khai thác, tổ chức và thực hiện các nguồn lực của tổ chức.
4/ Quản lí luôn tồn tại với tư cách là hệ thống. Hệ thống quản lí được
tạo bởi nhiều thành tố, nhưng các thành tố cơ bản thường được đề cập khi
phân tích hệ thống quản lí là: 12
+ Chủ thể quản lí: là trung tâm thực hiện những hoạt động khai thác,
tổ chức và thực hiện nguồn lực của tổ chức; thực hiện những tác động hướng
đích, có chủ định đến đối tượng quản lí. Chủ thể quản lí có thể là cá nhân
cụ quản lí có vai trò quan trọng trong việc thiết lập phương thức hoạt động
hợp với qui luật khách quan cho hoạt động quản lí. Công cụ quản lí có tác
động trực tiếp đến việc xác lập và vận hành mối quan hệ giữa chủ thể quản lí
và đối tượng quản lí, đến việc định hướng tổ chức thực hiện và điều chỉnh
các hoạt động trong tổ chức.
Có nhiều cách phân loại công cụ quản lí. Xét theo hình thức thể hiện,
công cụ quản lí gồm hai loại:
+ Công cụ hình thức: là các phương tiện kĩ thuật và những qui định
thành văn có tác dụng định hướng, vận hành, điều chỉnh những quan hệ và
hoạt động trong tổ chức. Ví dụ, hiến pháp, pháp luật của nhà nước mà tổ
chức phải tuân thủ, điều lệ, nội qui của tổ chức
+ Công cụ phi hình thức: là những qui định bất thành văn những có tác
dụng định hướng, vận hành, điều chỉnh những quan hệ và hoạt động trong tổ
chức. Ví dụ, phong tục, tập quán, truyền thống và tiền lệ của tổ chức
Có thể mô tả mối quan hệ giữa các thành tố cơ bản của hệ thống quản lí
như hình 1.1 dưới đây: 14
Hình 1.1: Mối quan hệ giữa các thành tố cơ bản của hệ thống quản lí
Quyết định
quản lí
Đối tượng
quản lí
Mục tiêu
quản lí 15
GD&ĐT đối với các trường tiểu học là thực hiện những tác động để các
trường đạt đến trạng thái xác định trong tương lai của mình.
Mục tiêu quản lý giáo dục phải được xác định trên cơ sở nhiệm vụ của
hệ thống giáo dục và xuất phát từ tình hình thực tế của hệ thống đó. Từ
nhiệm vụ và trạng thái đã xác định, các mục tiêu quản lý cho từng giai đoạn
phát triển của hệ thống giáo dục được hoạch định. Để đạt được mục tiêu
quản lý giáo dục, chủ thể quản lý phải thể hiện vai trò của người quản lý
biến trạng thái hiện tại của hệ thống sang trạng thái mục tiêu.
Như vậy công tác chỉ đạo trong quản lí giáo dục là một quá trình liên
kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất
định để đạt được mục tiêu của tổ chức.
Nhiệm vụ của người quản lý khi thực hiện chức năng chỉ đạo là: Ra
các mệnh lệnh, thông báo truyền đạt mệnh lệnh, hướng dẫn động viên giúp
đỡ cấp dưới thực hiện mệnh lệnh, hướng dẫn điều chỉnh những lệch lạc sai
sót xuất hiện trong quá trình thực hiện huấn luyện cán bộ và nhân viên dưới
quyền.
Sự chỉ đạo trong quản lí giáo dục phải đảm bảo các nguyên tắc:
- Nguyên tắc đảm bảo tuân thủ sự quản lý nhà nước: Quản lý nhà
nước trong nhà trường là quản lý bằng luật lệ, điều lệ quy định, quy chế.
- Nguyên tắc xác định trách nhiệm cá nhân: Để xác định trách nhiệm
của cá nhân, bộ phận, người quản lý cần phải dựa vào các quy định có tính
Chất lượng = đầu ra
Một quan điểm khác về CLGD cho rằng: “đầu ra” của giáo dục có tầm
quan trọng hơn nhiều so với đầu vào của quá trình đào tạo.”Đầu ra” chính là
sản phẩm của giáo dục thể hiện bằng mức độ hoàn thành công việc của học
sinh khi ra trường hay khả năng cung cấp các hoạt động đào tạo của trường
đó.
Có hai vấn đề cơ bản liên quan đến cách tiếp cận CLGD này: 17
Một là: Mối liên hệ giữa đầu vào với đầu ra không được xem xét một
cách đúng mức. Một trường có khả năngnhận các học sinh khá giỏi không có
nghĩa là học sinh của họ sẽ tốt nghiệp loại xuất sắc.
Hai là, cách đánh giá đầu ra của các nhà trường và các nhà tuyển dụng
rất khác nhau.
* Chất lượng được đánh giá bằng “ giá trị gia tăng”
Giá trị gia tăng(Chất lượng) = Đầu ra - đầu vào
Quan điểm thứ ba về chất lượng cho rằng một trường có tác động tích
cực tới học sinh khi nó tạo ra được sự khác biệt trong sự phát triển về trí tụe
và cá nhân của học sinh.
Nếu theo quan điểm này , sẽ nảy sinh những vấn đề:
- Khó có thể có một thước đo thống nhất để đánh giá đầu vào, đầu ra.
- nếu có được một thước đo để tính được giá trị gia tăng, giá trị gia
tăng sẽ không cung cấp thông tin gì cho chúng ta về sự cải tiến quá trình đào
tạo trong từng trường.
* Chất lượng được đánh giá bằng “giá trị học thuật”
Dựa vào sự đánh giá của các chuyên gia về năng lực học thuật của đội
ngũ cán bộ giảng dạy. Điều này có nghĩa là trường nào có đội ngũ giảng dạy
tốt, có uy tín cao thì được xem là trường có chất lượng cao.
Hạn chế của cách tiếp cận này là ở chỗ, cho dù năng lực học thuật có
và đất tiền.
Tuy nhiên, khái niệm về chất lượng như vậy khó có thể dùng để đánh
giá chất lượng trong giáo dục. Nếu mỗi trường đều đánh giá bằng các tiêu
chuẩn như vậy thì đa số các trường sẽ bị quy là kém chất lượng. Vả lại, có
cần thiết phải làm cho các trường đều giống nhau không?
*Chất lượng là sự phù hợp với các tiêu chuẩn(thông số kĩ thụât)
Cách tiếp cận này có nguồn gốc từ ý niệm kiểm soát chất lượng trong
các ngành sản xuất và dịch vụ. 19
Trong bối cảnh này, tiêu chủân được xem là công cụ đo lường, hoặc
bộ thước đo – một phương tiện trung gian để miêu tả những đặc tính cần có
của một sản phẩm hay dịch vụ. Chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ được
đo bằng sự phù hợp của nó với các thông số hay tiêu chuẩn được quy định
trước đó.
Nhựơc điểm của cách tiếp cận này là nó không nêu rõ các tiêu chuẩn
được xây dựng trên cơ sở nào. Hơn nữa thuật ngữ tiêu chuẩn cho ta ý niệm
về một hình mẫu tĩnh tại, nghĩa là một khi các thông số kĩ thuật đã được xác
định thì không phải xem xét lại chúng nữa. Trong khi khoa học. kĩ thuật và
công nghệ đang có những bước tiến mới, tri thức loài người ngày càng
phong phú thì “tiêu chuẩn” của giáo dục không thể là một khái niệm tĩnh.
Trong một vài trường hợp, tiêu chuẩn trong giáo dục với nghĩa là
những kết quả củ học sinh khi tốt nghiệp được xem xét là chất lượng trong
giáo dục để chỉ đầu ra của giáo dục với ý nghĩa trình độ, kiến thức, kĩ năng
đạt được của học sinh sau những năm học tập tại trường.
*Chất lượng là sự phù hợp với mục đích
Cách tiếp cận khái niệm chất lượng được đa số các nhà hoạch định
chính sách và quản lý giáo dục, kể cả tổ chức Đảm bảo chất lượng giáo dục
quốc tế(INQAHE – International Network of Quality Assurance In Higher
mình và đạt được mục đích đó một cách hiệu quả, hiệu suất nhất. Cách tiếp
cận này cho phép các trường tự quyết định các tiêu chuẩn chất lượng và mục
tiêu đào tạo của nhà trường. Thông qua kiểm tra, thanh tra chất lượng các tổ
chức hữu quan sẽ xem xét, hoàn thành nhiệm vụ một cách hiệu quả và hiệu
suất cao nhất không? Mô hình này đặc biệt quan trọng đối với các trường có
nguồn lực hạn chế, giúp các nhà quản lý có được cơ chế sử dụng hợp lý, an
toàn những nguồn lực của mình để đạt tới mục tiêu đã định từ trước một
cách hiệu quả nhất.
Một định nghĩa về chất lượng có ý nghĩa trong việc xác định chất
lượng giáo dục và đánh giá chất lượng giáo dục là: “Chất lượng là sự phù 21
hợp với mục tiêu ” Mục tiêu ở đây bao gồm các sứ mạng, mục đích, còn sự
phù hợp với mục tiêu có thể là đáp ứng mong muốn của những người quan
tâm, là đạt hay vượt qua các tiêu chuẩn đặt ra, Đây là định nghĩa thích hợp
và thông dụng nhất khi xem xét các vấn đề của giáo dục.
- Chất lượng giáo dục
Từ định nghĩa chất lượng trên, có thể hiểu “chất lượng giáo dục là sự
phù hợp với mục tiêu giáo dục”.Nói đến chất lượng là nói đến sự cải tiến
không ngừng của các sản phẩm và dịch vụ dành cho khách hàng, cùng với
những cải tiến phương pháp hành động nhằm tạo ra những đầu ra mong
muốn. Trong ngữ cảnh của giáo dục thì chất lượng thường được hiểu theo ý
nghĩa đa dạng. Chất lượng giáo dục thường liên quan đến thành tích học tập,
sự đáp ứng các chuẩn mực và giá trị, sự phát triển của cá nhân người học, lợi
ích của những đầu tư và sự phù hợp với những mục tiêu đề ra.
- Chất lượng của cơ sở giáo dục(mô hình C.I.P.O)
Trong chương trình hành động Darkar(2000) của UNESCO, chất
lượng của một nhà trường hoặc một cơ sở giáo dục được hiểu qua mười yếu
tố:
Theo Freeman (1994), có ba bước cơ bản trong việc thành lập
một hệ thống đảm bảo chất lượng:
+ Thiết lập sứ mạng của nhà trường;
+ Thiết lập các phương pháp;
+ Lập các chuẩn mực.
Một đặc điểm quan trọng khác của đảm bảo chất lượng được Frazer
(1922) xác định, cho rằng có bốn thành phần chính trong một hệ thống đảm
bảo chất lượng.
Thứ nhất, tất cả mọi người trong hệ thống phải có trách nhiệm duy trì
chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ mà tổ chức làm ra.
Thứ hai, tất cả mọi người phải có trách nhiệm củng cố chất lượng của
sản phẩm hay dịch vụ đó. 23
Thứ ba, tất cả mọi người hiểu, sử dụng, và cảm thấy mình là người
làm chủ hệ thống đang hoạt động đúng hướng nhằm duy trì và củng cố chất
lượng
Thứ tư, những người hưởng lợi (người quản lý hay khách hàng) cần
phải thường xuyên kiểm tra hệ thống và có trách nhiệm kiểm tra chất lượng
của sản phẩm hay dịch vụ.
Lim (2001) đề nghị rằng cần có nhiều bước chi tiết trong cách tiếp cận
việc thiết lập một hệ thống đảm bảo chất lượng. Các bước đó là:
->Xác định sứ mạng hay mục đích của các trường;
-> Xác định các chức năng mà các trường thực hiện, và tầm quan
trọng tương ứng trong việc thực hiện sứ mạng;
->Xác định các mục tiêu của mỗi chức năng và đặt ra các chỉ số thực
hiện định tính và định lượng của chúng.
->Thành lập một hệ thống quản lý đảm bảo chất lượng, và các quá
trình quản lý nhằm đảm bảo rằng các mục tiêu này có thể đạt được.