Contents
MỞ ĐẦU ................................................................................................................................ 3
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................................ 3
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu ............................................................................... 4
3. Mục tiêu đề tài ............................................................................................................... 8
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................................... 8
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ................................................................................ 8
6. Giả thuyết khoa học ...................................................................................................... 9
7. Phƣơng pháp nghiên cứu.............................................................................................. 9
8. Bố cục đề tài ................................................................................................................. 10
CHƢƠNG 1:MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN
NHẬN THỨC VỀ VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO CỦA SINH VIÊN ................. 12
1.1. Khái niệm biển đảo và các vấn đề chủ quyền biển đảo ........................................ 12
1.1.1.
Khái niệm biển đảo ......................................................................................... 12
1.1.2.
Vấn đề chủ quyền biển đảo ............................................................................. 17
1.2. Các vấn đề chủ quyền biển đảo của Việt Nam ...................................................... 21
1.2.1.
Vấn đề xác lập chủ quyền biển đảo ................................................................ 21
1.2.2.
Vấn đề tranh chấp chủ quyền biển đảo .......................................................... 25
1.3. Tầm quan trọng của nhận thức về vấn đề chủ quyền biển đảo ........................... 31
2.2.1. Nguyên nhân chủ quan ...................................................................................... 55
2.2.2. Nguyên nhân khách quan ................................................................................. 56
2.3. Giải pháp nhằm nâng cao nhận thức về vấn đề chủ quyền biển đảo của sinh
viên .................................................................................................................................... 62
2.3.1. Đảng và Nhà nước .............................................................................................. 62
2.3.2. Xã hội .................................................................................................................. 64
2.3.3. Nhà trường .......................................................................................................... 65
2.3.4. Gia đình ............................................................................................................... 67
2.3.5. Tự ý thức ............................................................................................................. 68
KẾT LUẬN ......................................................................................................................... 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................................. 72
PHỤ LỤC ............................................................................................................................ 75
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Để có được đất nước hòa bình, độc lập như ngày hôm nay, dân tộc Việt Nam ta đã
phải trải qua biết bao cuộc chiến ác liệt, tàn nhẫn của kẻ thù; phải đánh đổi cả sự sống, tình
cảm riêng tư với quyết tâm quét sạch bè lũ xâm lăng mang lại hòa bình cho đất nước.
Những mảnh đất trên đất nước Việt Nam ta, từ đồng bằng đến miền núi, biển đảo đâu đâu
cũng đã hứng chịu những trận bom kinh hoàng của giặc. Cho đến bây giờ, nó vẫn hằng
những vết tích. Bác Hồ cũng có câu: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước. Bác cháu ta
hãy cùng nhau giữ lấy nước” và để bày tỏ lòng biết ơn đối với các thế hệ đi trước đã ngã
xuống để dựng lên đất nước hùng mạnh như hôm nay, thế hệ mai sau luôn ra sức xây dựng
và bảo vệ đất nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cũng như bảo vệ nền độc lập, chủ quyền
toàn vẹn lãnh thổ của nước ta. Thế nhưng, trong thời gian qua tình hình biển đảo có diễn
biến phức tạp đe dọa chủ quyền biển đảo của ta.
Do vậy, nhiệm vụ phòng thủ và bảo vệ chủ quyền biển đảo là nhiệm vụ trọng yếu, là
Tuyền (angiang.gov.vn) ,tác giả đã khẳng định , nhấn mạnh trước yêu cầu của sự nghiệp
công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước, hội nhập nền kinh tế quốc tế thì thanh niên phải
luôn ý thức được vai trò và trách nhiệm của bản thân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
tổ quốc. Đặc biệt là trước những diễn biến phức tạp của biển Đông như hiện nay điều đó
đòi hỏi lực lượng thanh niên phải nâng cao tinh thần tự giác cách mạng, quán triệt sâu sắc
quan điểm, đường lối của Đảng; hiểu biết rõ đúng sai để có các hành động một cách có tổ
chức và tuân theo pháp luật. Nói cách khác, thanh niên, sinh viên phải ra sức “rèn đức,
luyện tài” để có thể đáp ứng được những yêu cầu trong các giai đoạn cách mạng.
Bài viết “Triển lãm bản đồ về chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam tại
tỉnh Bắc Giang” của Xuân Lộc (www.tapchibcvt.gov.vn) đã đề cập :“Sáng ngày
16/12/2015 tại thành phố Bắc Giang (tỉnh Bắc Giang) Bộ TT&TT phối hợp với UBND tỉnh
Bắc Giang tổ chức triển lãm bản đồ về trình bày tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt
Nam – những bằng chứng lịch sử và pháp lý, đó là các tư liệu được thu thập trong nước
cũng như từ các nước trên thế giới, qua đó càng khẳng định rằng chủ quyền của Việt Nam
đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Góp phần giúp cho bạn bè quốc tế luôn đứng về
4
tình hình biển đông cũng như chủ quyền thực sự của hai quần đảo này. Đặc biệt là nâng
cao nhận thức, tinh thần đoàn kết, ý thức và trách nhiệm của nhân dân trong nước và kiều
bào ở nước ngoài trong việc khẳng định và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với hai
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”. Như vậy, bài viết trên đã cung cấp cho chúng ta những
việc làm hết sức ý nghĩa của tỉnh Bắc Giang, triển lãm đã đưa ra các bằng chứng lịch sử và
pháp lý về chủ quyền biển đảo giúp người dân có nhận thức đúng đắn tạo nền tảng vững
chắc để bồi dưỡng niềm tin xây dựng lòng yêu nước.
Trong quyển “Dấu ấn Việt Nam trên biển Đông” của TS. Trần Công Trục xuất bản
2012, qua bốn chương ông đã trình bày được vị trí, vai trò của Việt Nam trong biển Đông,
việc xác lập các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam nêu lên quá trình xác lập và thực thi
chủ quyền Việt Nam tại 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa; đồng thời còn dành một chương
nói về tranh chấp biển Đông, có nêu lên thực trang và giải pháp, ngoài ra còn có văn bản
yêu biển đảo len lỏi vào mọi người dân mọi tầng lớp và trở thành sức mạnh vững chắc
trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Trước tình hình biển đảo diễn biến phức tạp như hiện nay và tính cấp thiết cần phải
đưa ra những giải pháp thiết thực cho việc nâng cao nhận thức của mọi người dân. Không
ít những bài nghiên cứu, luận văn, sách báo, truyền hình đã báo động, trình bày và đưa ra
giải pháp khắc phục, để góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Song điều
đáng quan tâm là những đối tượng được đề cập còn mang tính khái quát như: mọi tầng lớp,
giai cấp, toàn dân, toàn quân. Nhưng vẫn chưa đề cập đến đối tượng sinh viên trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh- những thế hệ tương lai quyết định đến sự phát triển mạnh mẽ và
bền vững của đất nước; có thể “sánh vai với cường quốc năm châu” như lời Bác dặn hay
không, phụ thuộc phần lớn vào lực lượng sinh viên. Sinh viên phải nhận thức được rằng:
“Đồng bằng là nhà mà biển là cửa. Giữ nhà mà không giữ cửa có được không?” –Bác Hồ,
để có định hướng rõ ràng trong việc nhận thức về chủ quyền biển đảo của ta, từ đó quyết
tâm và có những hành động đúng đắn bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của nước
Việt Nam.
Và trong cuốn “Những điều cần biết về cấc chính sách về biển và hải đảo của Việt
Nam” có viết: “ Tuyên truyền về biển và hải đảo là một công việc hết sức quan trọng và
6
cần kíp nhằm truyền bá, phổ biến và giáo dục các giá trị tinh thần ( tâm thức của dân tộc
Việt Nam); quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước
ta về biển và hải đảo; kiến thức và tình hình biển Đông liên quan tới chủ quyền, quyền chủ
quyền và quyền tài phán của Việt Nam, nhằm làm thay đổi nhận thức và hành vi của người
dân Việt Nam nói chung và đoàn viên, thanh niên nói riêng.” Có lẽ cũng chính vì vai trò
của giáo dục và tuyên truyền, mà giáo dục và tuyên truyền cũng được trình bày và nghiên
cứu dưới dạng sách giáo khoa nhằm giúp cho học sinh, sinh viên… hiểu hơn về vấn đề
biển đảo như cuốn Giáo dục về biển đảo Việt Nam của Nguyễn Đức Vũ ( Chủ biên), Nxb.
Giáo dục Việt Nam. Trong đó, tác giả trình bày một cách khái quát và cơ bản về biển đảo
Việt Nam, vấn đề bảo vệ môi trường, vấn đề phát triển giao thông vận tải, thông tin liên
trường đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, để từ đó xác định nguyên
nhân dẫn đến những nhận thức lệch lạc của sinh viên về vấn đề chủ quyền biển đảo và đề
ra giải pháp để củng cố và nâng cao nhận thức của sinh viên các trường đại học trên địa
bàn thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề chủ quyền biển đảo; để họ nhận thấy được trách
nhiệm của mình đối với đất nước, tổ quốc từ đó dần hoàn thiện bản thân quyết tâm xây
dựng và bảo vệ tổ quốc.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những lí luận liên quan đến nhận thức về vấn đề chủ quyền biển đảo của
sinh viên các trường đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
- Xác định những thực trạng , nguyên nhân ảnh hưởng đến nhận thức về vấn đề chủ
quyền biển đảo của sinh viên các trường đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao nhận thức về vấn đề chủ quyền
biển đảo của sinh viên các trường đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
*Đối tượng
- Khách thể nghiên cứu: sinh viên các trường đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí
Minh.
8
- Đối tượng nghiên cứu: Nhận thức về vấn đề chủ quyền biển đảo của sinh viên các
trường đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
*Phạm vi
- Không gian nghiên cứu: Các trường đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
- Thời gian nghiên cứu: tại thời điểm nghiên cứu (từ tháng 9/2016 đến tháng
9/2017).
6. Giả thuyết khoa học
- Nhận thức của sinh viên trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề chủ quyền
biển đảo còn nhiều hạn chế, chưa tiếp thu một cách chọn lọc về những thông tin, kiến thức
liên quan đến biển đảo ta.
Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh (45), Trường Đại học Khoa học tự
nhiên- ĐHQG Tp. Hồ Chí Minh (45), Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân vănĐHQG Tp. Hồ Chí Minh (45) và Trường Đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh (50). Ở
đề tài này, tác giả sẽ phân chia theo từng trường của sinh viên để làm rõ hơn. Vì tính
chất sinh viên ở mỗi trường có sự khác nhau.
- Phương pháp thống kê toán học: xử lí số liệu thu thập được để đảm bảo tính khoa
học của đề tài.
-Xử lí dữ kiệu khảo sát
Đề tài sử dụng công cụ phân tích dữ liệu bằng phần mềm xử lý SPSS 20 thông qua
các bước phân tích nhân tố khám phá và hồi quy bội nhằm khẳng định các yếu tố cũng như
các giá trị và độ tin cậy của các thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của sinh viên
các trường Đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trước vấn đề chủ quyền biển đảo.
8. Bố cục đề tài
Đề tài gồm 3 phần: Phần mở đầu, Phần kết luận và Nội dung gồm 2 chương:
10
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản và những nhân tố tác động đến nhận thức về vấn đề
chủ quyền biển đảo của sinh viên các trường đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Chương 2: Thực trạng và một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao nhận thức về vấn đề
chủ quyền biển đảo của sinh viên các trường đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
11
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VÀ NHỮNG NHÂN TỐ
TÁC ĐỘNG ĐẾN NHẬN THỨC VỀ VẤN ĐỀ
CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO CỦA SINH VIÊN
1.1.
là đường biên giới quốc gia trên biển.
Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển được quy định nhầm bảo đảm cho việc thực
hiện chủ quyền của quốc gia ven biển. Trong vùng này, nhà nước ta có quyền thực hiện các
biện pháp để bảo vệ an ninh quốc phòng, kiểm soát thuế quan, các quy định về y tế, môi
trường, nhập cư…
Vùng đặc quyền kinh tế là vùng tiếp liền với Lãnh hải và hợp với Lãnh hải thành
một vùng biển rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Ở vùng này, Nhà nước ta có chủ quyền
hoàn toàn về kinh tế nhưng vẫn để các nước khác đặt đường ống dẫn dầu, giây cáp ngầm
và tàu thuyền, máy bay nước ngoài được tự do về hoạt động hàng hải và hang không theo
Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1892.
Thềm lục địa nước ta là phần ngầm dưới biển và long đất dưới đấy biển thuộc phần
thuộc địa kéo dài, mở rộng ra ngoài Lãnh hải cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, có độ sâu
200m hoặc hơn nữa. Nhà nước ta có chủ quyền hoàn toàn về mặt thăm dò, khai thác, bảo
vệ và quản lý các tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam.
Theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 thì biển đảo được định nghĩa
như sau: “Đảo là một vùng đất hình thành một cách tự nhiên có nước biển bao bọc, khi
thủy triều lên cao nhất vùng đất này vẫn ở trên mặt nước” (Khoản 1, Điều 121 Công ước).
Quần đảo là một nhóm các đảo, kể cả các bộ phận của các đảo, các vùng nước biển
giữa các đảo và các thành phần tự nhiên khác có liên quan chặt chẽ với nhau về mặt địa lý,
kinh tế và chính trị( Điều 46 điểm b Công ước).
Thuộc vùng biển nước ta có hơn 4000 hòn đảo lớn nhỏ. Có những đảo đông dân
như: Cái Bầu, Cát Bà, Lý Sơn, Phú Quý, Phú Quốc; có những đảo cụm lại thành quần đảo
như: Vân Đồn, Cô Tô, Cát Bà, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa, quần đảo Nam
Du, quần đảo Thổ Chu…Các đảo và quần đảo tạo thành hệ thống tiền tiêu bảo vệ đất liền,
hệ thống căn cứ để nước ta tiến ra biển và đại dương, khai thác có hiệu quả các nguồn lợi
13
vùng biển, hải đảo và thềm lục địa. Việc khẳng định chủ quyền của nước ta đối với các đảo
và quần đảo có ý nghĩa là cơ sở khảng định chủ quyền của nước ta đối với vùng biển và
vùng đảo này là Ba Bình rộng khoảng 0,65
. Vùng đảo Trường Sa chia thành 8 cụm:
Song Tử, Thị Tứ, Loại Ta, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa, Thám Hiểm, Bình Nguyên.
Trong đó cụm đảo rộng nhất là cụm Nam Yết gồm nhiều đảo đá, bãi ngầm xếp liền nhau
thành một vành đai bao quanh vùng biển nông trên dưới 10m.
Do sở hữu rất nhiều thực thể địa lý nên quần đảo Trường Sa được các nhà hàng hải
quốc tế cũng như một số quốc gia phân chia thành nhiều cụm riêng biệt dựa trên sự gần gũi
hoặc tương đồng về mặt địa lý hay đơn thuần chỉ là phân chia tương đối.
Biển đảo là một bộ phận cấu thành phạm vi chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc,
cùng với đất liền tạo ra môi trường sinh tồn và phát triển đời đời của dân tộc ta.[14] Hai
quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa thuộc chủ quyền của nhà nước Việt Nam từ nhiều thế kỉ
nay, nhân dân Việt Nam luôn luôn ý thức được điều đó và kiên quyết bảo vệ chủ quyền và
toàn vẹn lãnh thổ.
Biển Việt Nam là một bộ phận không tách rời và chiếm vị trí trọng yếu trong Biển
Đông- một khu vực địa lý giàu tài nguyên thiên nhiên, nhưng cũng chứa đựng nhiều mâu
thuẫn lợi ích liên quan đến các tranh chấp chủ quyền biển, đảo phức tạp và kéo dài trong
lịch sử.
“Rừng vàng, biển bạc” là câu nói cho thấy tài nguyên rừng và biển vô cùng phong
phú và đa dạng; nhưng ở đây nhóm tác giả chỉ đề cập đến biển đảo của nước Việt Nam ta,
đặc biệt là biển Đông. Biển Đông có vai trò hết sức quan trọng đối với các nước trong khu
vực về địa- chiến lược, về an ninh quốc phòng, giao thông vận tải và kinh tế, bởi lẽ biển
Đông nằm trên tuyến giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương-Ấn Độ
Dương, châu Âu- châu Á, Trung Đông- châu Á; gắn bó với bao thế hệ, là chỗ dựa sinh kế
của người dân. Cụ thể:
*Về kinh tế- xã hội:
15
rạn san hô sặc sỡ, phong phú đặc biệt là ở quần đảo Trường Sa tạo điều kiện thuận lợi để
phát triển loại hình du lịch lặn biển. Ngoài ra loại hình du lịch biển còn phong phú với
16
nhiều bãi đá, đảo đá, bãi biển đẹp cùng nhiều vũng vịnh, hang động phát triển du lịch sinh
thái, tắm biển,…
*Về giao thông vận tải
Biển đảo Việt Nam ta có Biển Đông là biển duy nhất nối liền Ấn Độ Dương và Thái
Bình Dương, châu Âu- châu Á, Trung Đông- châu Á. Biển Đông được nối với Thái Bình
Dương thông qua eo biển Basi (nằm giữa Philippines và Đài Loan) và eo biển Đài Loan.
Về phía Tây, Biển Đông thông với Ấn Độ Dương qua eo biển Malacca.Trải qua nhiều thập
kỷ trong lịch sử, Biển Đông luôn được coi là con đường thiết yếu vận chuyển dầu và các
nguồn tài nguyên thương mại từ Trung cận Đông và Đông Nam Á tới Nhật Bản, Hàn Quốc
và Trung Quốc. Khu vực Biển Đông có những eo biển quan trọng đối với nhiều nước,
trong đó có eo biển Malacca là eo biển nhộn nhịp thứ hai trên thế giới, , con đường ngắn
nhất để dầu thô chuyển từ Châu Phi, Trung Đông và Australia tới các khách hàng châu Á là
đi qua khu vực biển Đông.
*Về an ninh- quốc phòng
Trên các tuyến đường biển đóng vai trò chiến lược của Châu Á có 2 điểm trọng yếu:
Thứ nhất là eo biển Malacca, nằm giữa đảo Sumatra của Indonesia và Malaysia; thứ hai là
vùng Biển Đông có nhiều tuyến đường hàng hải đi qua, đặc biệt là khu vực xung quanh hai
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, là một trong những khu vực có nhiều tuyến đường biển
nhất trên thế giới [5, tr.24].
Ngoài bề mặt rộng lớn của Biển Đông, các đảo, quần đảo nhất là Hoàng Sa và
Trường Sa nằm trong vùng biển rộng lớn này cũng có ý nghĩa vô cùng quan trọng về chiến
lược phòng thủ bảo vệ Tổ quốc của mỗi quốc gia, thuận lợi cho việc đặt các trạm ra đa,
trạm thông tin, xây dựng các trạm dừng chân và tiếp nhiên liệu cho tàu bè, phục vụ cho
tuyến đường hàng hải. Các chuyên gia chiến lược trên thế giới đều cho rằng quốc gia nào
kiểm soát được quần đảo Trường Sa sẽ khống chế được cả Biển Đông.
quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa) không chỉ kiểm soát các tuyến giao thông biển
mà còn là nơi phòng thủ chiến lược quan trọng đối với nước ta. Về kinh tế, biển Đông là
cửa ngõ quan hệ trực tiếp, giao thương với thị trường khu vực và quốc tế, là nơi trao đổi,
18
giao lưu và hội nhập các nền văn hóa giữa các nước. Không những thế, biển Đông còn
chứa đựng nguồn thủy hải sản, dầu khí, các quặng sa khoáng như titan,thiếc, vàng, đất
hiếm… đặc biệt là cát nặng và cát đen là nguồn tài nguyên quý giá của đất nước; cùng với
các dịch vụ như đóng tàu, du lịch... góp phần làm cho nền kinh tế nước Việt Nam phát
triển, đồng thời cũng là lý do các nước khác “luôn dòm ngó” vào Biển Đông . Đối với các
nước trên thế giới biển Đông đóng vai trò cũng không nhỏ, vì nằm trên ngã tư đường hàng
hải nên giúp cho các nước vận chuyển hàng hóa thuận tiện và dễ dàng hơn, ngắn hơn tiết
kiệm được thời gian và chi phí.
Biển Đông đang phải đối mặt với vấn đề tranh chấp chủ quyền biển đảo, cụ thể là 2
quần đảo: quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trương Sa thuộc chủ quyền Việt Nam và tranh
chấp trong việc xác định ranh giới các vùng biển và thềm lục địa chống lấn giữa các nước
có bờ biển liền kề hay đối diện nhau ở xung quanh biển Đông. Và Tuyên bố về ứng xử của
các bên ở Biển Đông (DOC) đã được ký kết giữa các nước ASEAN là một bước tiến quan
trọng tìm kiếm các phương pháp hòa bình giải quyết tranh chấp liên tục và lâu dài; mở ra
hy vọng mới về khả năng quản lý xung đột, thúc đẩy hợp tác, hình thành cơ sở chính trị
pháp lý mới nhằm đảm bảo hòa bình và ổn định Biển Đông.
1.1.2.3. Vấn đề khai thác tài nguyên và ô nhiễm môi trường biển đảo
Bên cạnh đó, vấn đề ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên biển cũng là 1 trong
những vấn đề đáng được quan tâm và lo ngại bậc nhất.
Nhờ có 71% diện tích là biển và đại dương bao phủ bề mặt Trái đất giúp điều hòa
nhiệt độ không thể trái đất biến thành sa mạc khô cần, môi trường sống của con người sẽ
bớt khốc liệt hơn. Ngoài ra biển và đại dương còn có khả năng thu và lưu giữ được 30%
lượng CO2 thừa trong bầu khí quyển giúp ứng phó với nhũng tác động khôn lường của
biến đổi khí hậu.
Ngoài ra vấn đề giáo dục, tuyên truyền về biển đảo cũng đáng quan ngại vì thế đưa các vấn
đề liên quan đến chủ quyền biển đảo vào sách giáo khoa, đặc biệt là ngay từ bậc tiểu học
như Trung Quốc để khẳng định chủ quyền biển đảo của họ. Thông qua các hoạt động tuyên
truyền, các hoạt động ngoại khóa, tổ chức các buổi sinh hoạt, văn nghệ, vẽ tranh… nói về
20
chủ quyền biển đảo để học sinh, sinh viên hiểu rõ, nắm bắt các vấn đề về chủ quyền biển
đảo; từ đó có nhận thức và hành động đúng đắn trong việc bảo vệ, xây dựng và phát triển
đất nước.
Bên cạnh đó còn có một số vấn đề khác như: kinh tế biển đảo, nghiên cứu khoa học
biển, an toàn và an ninh hàng hải, tìm kiếm cứu nạn, đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc
gia, bao gồm và không giới hạn ở hành động buôn bán ma túy, cướp biển và cướp tàu có vũ
trang và buôn lậu vũ khí.
1.2. Các vấn đề chủ quyền biển đảo của Việt Nam
Khi nghiên cứu về vấn đề biển đảo trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, có
rất nhiều tác giả đã nghiên cứu và trình bày ở nhiều khía cạnh khác nhau, giải quyết những
vấn đề xoay quanh biển đảo như vấn đề tranh chấp chủ quyền biển đảo, quản lý và khai
thác tài nguyên biển, tuyên truyền và giáo dục về biển đảo.
1.2.1. Vấn đề xác lập chủ quyền biển đảo
“Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam” là khẩu hiệu rất quen thuộc khi vùng Biển
Đông của Việt Nam bị xâm chiếm nhằm thể hiện sắc khí, lòng tin, tình yêu quê hương đất
nước, kiên quyết bảo vệ chủ quyền thiêng liêng mà ông cha ta đã hy sinh để bảo vệ và xây
dựng của các thế hệ mai sau, đặc biệt là lực lượng thanh niên, sinh viên- chủ nhân tương lai
của đất nước. Hiện nay, Hoàng Sa, Trường Sa đang bị Trung Quốc xâm chiếm, tấn công và
đưa ra những luận điệu, chứng cứ vô giá trị, việc xác lập chủ quyền của Trung Quốc đối
với hai quần đảo này chỉ là “biết” mà không phải “phát hiện”, mà không phát hiện cũng
không “chiếm hữu” thì những yếu tố đầu tiên của việc xác lập chủ quyền lãnh thổ rõ ràng
là không có. Trong khi đó, Chính phủ Việt Nam cộng hòa đã tiếp quản hai quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa từ năm 1956 sau khi Pháp rút khỏi Đông Dương và đã tổ chức về mặt
Đông đảo này gần Quỳnh Châu thuộc phủ Hải Nam, nước Trung Hoa”.
Trong Phủ biên tạp lục (1777) Lê Quý Đôn viết: “Xã An Vĩnh thuộc huyện
Bình Sơn, phủ Quãng Ngãi ở gần bãi biển. Về phía Đông Bắc ngoài biển có nhiều đảo và
nhiều núi linh tinh hơn 130 đỉnh… ở trong các hòn đảo có bến Cát Vàng… Ngày trước, họ
Nguyễn có thiết lập đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người ở xã An Vĩnh… Họ Nguyễn còn
thiết lập thêm đội Bắc Hải…”, để quản lý Côn Đảo và quần đảo Trường Sa
Ngoài ra trong Châu bản triều Nguyễn cũng có nhiều văn bản của triều đình nhà
Nguyễn viết có liên quan đến quần đảo Hoàng Sa- Trường Sa.
22
Qua những sách sử cổ từ thời nhà Lê, nhà Nguyễn đã minh chứng rằng quần đảo
Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam và Việt Nam đã thể hiện chủ quyền của mình
trên quần đảo ấy như dựng miếu Thần Hoàng Sa, thành lập Đội Hoàng Sa để kiểm soát, lập
hải trình, vẽ bản đồ, cắm mốc chủ quyền, khai thác tài nguyên, thu tiền của tàu thuyền
nước ngoài vận chuyển hàng hóa qua, giúp đỡ những tàu thuyền gặp nạn ở Hoàng Sa…
Qua một số sách và tư liệu cổ của các nước phương Tây cho thấy quần đảo Hoàng
Sa đã thuộc chủ quyền của Việt Nam từ thời chúa Nguyễn
Vũ trụ, lịch sử, thiên văn và vật lý của tác giả Bagio Soria in năm 1828 tại
Napoli, có viết: “Thuộc về đế chế này là quần đảo Hoàng Sa (Paracels) bao gồm các đảo và
các đá ngầm ở phía đông bờ biển nước này”.
Lịch sử Đông Ấn của Itali Felica Ripamonti viết về vùng Đông Ấn, trong đó
nhiều đảo nằm đối diện với đia phận các tỉnh Phú Yên- Khánh Hòa ghi là “Vạn lý Trường
Sa”
Đây là những bản đồ do quan lại triều Nguyễn vẽ nhằm khẳng định chủ quyền của
nước ta trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ rất lâu.
Nhiều sách địa lý và bản đồ của các tác giả, nhà thám hiểm, nhà hàng hải và giáo sĩ
phương Tây đã vẽ về Bãi Cát Vàng- quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về vương
quốc An Nam như
Địa lý học hình thể và chính trị do tác giả người Italia Luiji Galant biên soạn
và xuất bản năm 1834 tại Napoli, có nêu: “Cuối cùng chúng tôi phải nói tới một mê cung
các đảo nằm ở phía đông Đàng Trong (Cochinchine) có tên gọi là Parcel hay Percels
(Hoàng Sa) bao gồm các đảo đá nhỏ và vùng nước nông. Chúng thuộc quyền cai trị của
vương quốc An Nam, cũng như đảo Pirati ở phía đông Đàng Ngoài (Cochino)”.
Địa lý hiện đại thế giới của tác giả Italia G.R. Pagnozzi xuất bản năm 1823
tại Florence, nói đến Hoàng Sa (Paracel), Cù lao Chàm (Callas), Côn Đảo ( Polo Condor),
Đảo Nghi Sơn (Bientson) của vương quốc An Nam.
Ngoài ra trong cuốn A Balbi’s Allegemeine des geographischen Wissens và trong
Bản đồ Ngoại Ấn và các đảo Đông Ấn cũng có đề cập đến nội dung tương tự.
Qua đó cho thấy các nước phương Tây cũng đã công nhận hai quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa là của Việt Nam từ lâu.
*Các chứng cứ pháp lý
Căn cứ vào Luật pháp quốc tế về chủ quyền, chủ quyền quốc gia của một nước phải
đảm bảo các quy định về chiếm hữu và quản lý sau:
- Lãnh thổ được chiếm hữu phải là đất vô chủ
- Tác giả chiếm hữu phải là một quốc gia hoặc bởi đại diện của quốc gia ấy; sự chiếm
nằm trên thềm lục địa của Việt Nam.
25