Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ ở các trường đại học trên địa bàn thành phố vinh, tỉnh nghệ an - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
---------------

HOÀNG THỊ TRANG

THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN

Chuyên ngành

: Chính trị học

Mã sô

: 60.31.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học:
TS. ĐINH TRUNG THÀNH

NGHỆ AN - 2015


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến thầy giáo TS. Đinh Trung Thành
người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu, Khoa Giáo dục chính trị,
Phòng Đào tạo Sau đại học, các thầy cô giáo ở trường Đại học Vinh đã hỗ trợ

Việt Nam xác định là một trong những nội dung cốt lõi, đặc biệt là dân chủ hoá
đời sống xã hội từ cơ sở.
Nhằm cụ thể hóa những tư tưởng, quan điểm về phát huy quyền làm chủ
của nhân dân theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong những năm qua
Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều Nghị định, Chỉ thị quan trọng nhằm
phát huy quyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân để phát triển kinh tế, ổn định
chính trị, phát triển xã hội như: Ngày 18 tháng 02 năm 1998, Bộ Chính trị đã ra
Chỉ thị số 30 /CT-TƯ về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, ngày
08 tháng 9 năm 1998, Chính phủ ban hành Nghị định số 71/NĐ - CP về Quy chế
thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan. Quán triệt Chỉ thị 30 và Nghị
định 71, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 04 về “Quy chế
thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà trường”. Tất cả các ngành học, bậc


4
học đã quán triệt và tổ chức thực hiện Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt
động của nhà trường của Bộ Giáo dục và Đào tạo một cách nghiêm túc.
Ở các trường đại học trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, qua khảo sát
thực tế tại trường Đại học Y khoa Vinh, Đại học Kinh tế Nghệ An, Đại học Công
nghiệp Vinh, việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở theo Chỉ thị 30-CT/TW và
Nghị định 71 của Chính phủ, Quyết định 04 của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã bước
đầu tạo ra không khí dân chủ trong các trường học, góp phần vào việc nâng cao
chất lượng dạy và học. Tuy nhiên, cũng giống như nhiều cơ quan, đơn vị thuộc
nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác, việc triển khai và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ
sở của các trường đại học trên địa bàn ở đây còn chậm hoặc mang tính hình thức,
dẫn đến nội bộ nhà trường mất đoàn kết, phát sinh khiếu kiện ở một số đơn vị.
Điều đó đã ảnh hưởng không tốt tới chất lượng dạy và học, các hoạt động của nhà
trường, đến uy tín của ngành giáo dục đối với xã hội, đối với nhân dân.
Thực hiện có hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở, phát huy quyền làm chủ
của cán bộ, giảng viên, sinh viên, công nhân viên trong các trường đại học trên

dân chủ ở nước ta hiện nay: Vấn đề đặt ra và giải pháp” của PGS.TS Trần Khắc
Việt, Tạp chí Lý luận chính trị, số 9/2004; “Dân chủ đại diện, dân chủ trực tiếp
và quá trình mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta” của TS Đoàn Minh
Huấn, Tạp chí Lý luận chính trị, số 8/2004; “Dân chủ cơ sở - sự sáng tạo của
Đảng ta” của PGS, TS Nguyễn Chí Mỳ, Tạp chí Cộng sản, số 95, 2005.
Nhóm các bài viết của các tác giả nhằm sơ kết, đánh giá bước đầu quá
trình thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở gồm: “Thực hiện dân chủ ở xã - Mấy
vấn đề đặt ra” của Trần Quang Nhiếp, Tạp chí Cộng sản, số 10, 1999; “Nhìn lại
việc thực hiện thí điểm quy chế dân chủ ở cơ sở” của Đỗ Quang Tuấn, (2000),
Tạp chí Dân vận, số (1-2); “Kết quả thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, vấn đề
đặt ra và một số giải pháp” của Dương Xuân Ngọc, Lưu Văn Lan, Thông tin lý
luận, số 9, 2000.


6
Đặc biệt, có một số công trình đã đăng thành sách, phân tích một cách sâu
sắc, phong phú cả về nội dung lý luận và thực tiễn qua khảo sát các vùng, các
địa phương gồm: Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã - Một số vấn đề lý luận và
thực tiễn của PGS. TS Dương Xuân Ngọc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000;
Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong tình hình hiện nay - Một số vấn đề lý
luận và thực tiễn” do PGS. TS Nguyễn Thu Cúc (chủ biên), Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2002; Quá trình thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở một số tỉnh
đồng bằng sông Hồng hiện nay, đề tài Khoa học cấp bộ 2002 - 2003 của TS.
Nguyễn Thị Ngân.
Ngoài ra còn có một số luận văn thạc sỹ cũng đề cập đến việc thực hiện
Quy chế dân chủ cơ sở ở các địa phương như: Luận văn thạc sỹ Triết học
(Chuyên ngành chủ nghĩa cộng sản khoa học): Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ
sở trên địa bàn thành phố Vinh - Những vấn đề đặt ra và giải pháp của tác giả
Phan Văn Bình, bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2001;
Luận văn thạc sỹ Chủ nghĩa xã hội khoa học: Thực hiện Quy chế dân chủ ở xã

địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An cho đến nay chưa có công trình khoa học nào
đề cập đến một cách có hệ thống và toàn diện. Vì những lí do đó, tác giả chọn vấn đề
"Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở ở các trường đại học trên địa bàn thành
phố Vinh, tỉnh Nghệ An" làm đề tài cho luận văn thạc sỹ Chính trị học.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất một số phương hướng và
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở ở các
trường đại học trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An hiện nay trước yêu
cầu, nhiệm vụ đổi mới căn bản toàn diện giáo dục.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về dân chủ, dân chủ ở cơ sở và các quan
điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước ta về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
trong các trường đại học hiện nay.


8
- Làm rõ tình hình thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở ở các trường Đại học
trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An trong những năm qua.
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả
Quy chế dân chủ ở cơ sở ở các trường đại trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ
An, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục trong thời gian tới.

4. Đôi tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở ở các trường đại
học trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ và điều kiện cho phép, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu,
đánh giá đúng thực trạng việc tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở ở các

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn được trình bày trong 3 chương, 8 tiết.


10

B. NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ
Ở CƠ SỞ TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.1. Khái niệm dân chủ, dân chủ ở cơ sở, dân chủ trong trường học
1.1.1. Khái niệm dân chủ
Từ đầu thế kỷ XX, dân chủ trở thành khái niệm phổ biến nhất của nhân loại
và luôn được các nhà lý luận và hoạt động chính trị - xã hội quan tâm, đề cập.
Ngày nay, không có một tổ chức, phong trào chính trị - xã hội hay một luận
thuyết triết học, chính trị nào lại không đề cập đến vấn đề dân chủ. Lịch sử dân
chủ cho thấy, để đạt tới những giá trị chung, phổ biến, dân chủ gắn liền và phát
triển thông qua các nền dân chủ với tên gọi và giai cấp đại diện khác nhau.
Thuật ngữ dân chủ xuất hiện từ thời cổ đại. Người đầu tiên đưa ra khái
niệm dân chủ là nhà sử học, nhà chính trị học người Hy Lạp Hêrôđốt (484 - 425
trước Công nguyên) khi ông xem xét các thể chế chính trị trong lịch sử. Theo
ông, lịch sử đã xuất hiện ba kiểu thể chế chính trị: quân chủ, quý tộc và dân chủ,
trong đó dân chủ là thể chế chính trị do nhân dân nắm quyền lực thông qua con
đường bầu cử. Để chỉ một hiện thực dân chủ đã được thiết lập trên thực tế, trong
ngôn ngữ đã xuất hiện thuật ngữ democratia, nghĩa là quyền lực thuộc về nhân
dân (democratia là từ ghép của hai từ demos là nhân dân, cratos là quyền lực).
Như vậy, với nguyên nghĩa của từ, dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân.
Nhân dân là chủ thể của quyền lực, sử dụng quyền lực để tổ chức, quản lý xã




12
tư bản biến thành "tự do" của nhân dân lựa chọn những người thống trị mình.
Tuyệt nhiên không phải là sự lựa chọn những người đại diện cho lợi ích của bản
thân mình. Theo V.I.Lênin, hình thái chính trị của nhà nước tư sản chính là chế
độ dân chủ tư sản đầy giả dối và cạm bẫy. Dù là hình thức "thiếu thành thực" và
"gian dối", nhưng so với lịch sử nhân loại, dân chủ tư sản cũng đã đạt được bước
tiến dài trên con đường giải phóng cá nhân. Nhưng nó vẫn là nền dân chủ được
xây dựng trên sự tước đoạt dân chủ, tước đoạt quyền tự do chính đáng của các
giai cấp, các tầng lớp khác, nhằm bảo vệ tối đa lợi ích của giai cấp tư sản. Dân
chủ tư sản vì thế, không thể là mục đích cuối cùng mà loài người hướng tới. Đó
là một trong những nguyên nhân dẫn đến cách mạng vô sản để giải quyết mâu
thuẫn trên bằng việc thiết lập chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đó là “Chế độ sẽ
thi hành ngay lập tức những biện pháp nhằm chặt tận gốc chế độ quan liêu và sẽ
có thể thi hành những biện pháp tới cùng, tới chỗ hoàn toàn phá huỷ chế độ quan
liêu, tới chỗ hoàn toàn xây dựng một chế độ dân chủ cho nhân dân” [20, tr.135].
Dân chủ xã hội chủ nghĩa là một hình thái dân chủ do nhân dân lao động
thiết lập trong quá trình đấu tranh cách mạng, dưới sự lãnh đạo của giai cấp
công nhân thông qua đội tiền phong chính trị của mình là Đảng Cộng sản. Trong
tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết:
“Giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải tự giành lấy chính quyền, phải tự mình
vươn lên thành giai cấp dân tộc” [24, tr. 623], phải giành lấy dân chủ với ý nghĩa
trực tiếp là giành lấy quyền lực nhà nước và tổ chức quyền lực đã giành được đó
thành nhà nước vô sản, nhà nước dân chủ vô sản, chế độ dân chủ vô sản, một
chế độ dân chủ tiến bộ về mọi mặt, khác về chất so với chế độ dân chủ tư sản.
Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa là sự thay thế lịch sử đối với chế độ dân
chủ tư sản, là nấc thang mới trên chặng đường phát triển của chế độ dân chủ. Đó
là chế độ chính trị mà những giá trị dân chủ, quyền lực của nhân dân được thể
chế hoá thành pháp luật, thành hệ thống chính trị, thành nguyên tắc, mục tiêu
của sự phát triển. Các giá trị và chuẩn mực dân chủ thâm nhập và chi phối mọi

đơn giản nhưng hết sức cô đọng, súc tích: "Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu


14
lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây
dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến kiến quốc là công việc của
dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ
Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng
đều nơi dân”. Nghị quyết của Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam như một
thành tựu của tư duy đổi mới trở lại với tư tưởng đó của Hồ Chí Minh đã khẳng
định: “Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân
dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân”. Do đó, ở nước ta việc
vận dụng đúng đắn những giá trị dân chủ vào đời sống kinh tế, chính trị, văn
hoá, xã hội là một trong những điều kiện bảo đảm thắng lợi của công cuộc đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Dân chủ có ý nghĩa to lớn trong việc phát
huy khả năng sáng tạo, sức mạnh của cộng đồng. Xây dựng môi trường thực thi
và phát triển dân chủ là vấn đề cực kỳ quan trọng đối với một nước có trình độ
kinh tế thấp kém dựa trên nền nông nghiệp nhỏ và lạc hậu, lại chưa trải qua chế
độ dân chủ tư sản như nước ta. Nhà nước ta từ khi ra đời đến nay, nhất là trong
thời kỳ đổi mới, đã thể hiện được rõ vai trò của mình trong việc làm cho nền dân
chủ từng bước khởi sắc. Dân chủ trong kinh tế ngày càng được mở rộng đã tác
động mạnh mẽ đến việc giải phóng sức sản xuất, thúc đẩy nền kinh tế phát triển,
góp phần nâng cao đời sống của nhân dân. Dân chủ về chính trị có những bước
tiến quan trọng, trong đó phải kể đến quy chế dân chủ cơ sở đã được triển khai
thực hiện tạo chuyển biến tích cực trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, bộ máy nhà
nước của nước ta hiện nay hoạt động còn kém hiệu quả, ý thức trách nhiệm của
nhiều cán bộ công quyền chưa cao, nạn hách dịch, cửa quyền gây nhiều phiền hà
và nhiều biểu hiện khác vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, tệ quan liêu, nạn
tham nhũng ngày càng nghiêm trọng và phức tạp. Từ những hạn chế trên, nhà
nước cần phải thể hiện được vai trò quan trọng của mình trong việc bảo đảm

của quần chúng, của mỗi cá nhân mà theo V.I.Lênin là nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa "cao gấp triệu lần dân chủ tư sản".V.I.Lênin cũng khẳng định: “Toàn thể


16
công dân, không trừ một ai đều phải tham gia vào việc xét xử và quản lý đất
nước, và điều quan trọng đối với chúng ta là thu hút toàn thể những người lao
động, không trừ một ai tham gia vào việc quản lý đất nước” [19, tr.128].
Trong chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhân dân thực hiện quyền làm
chủ của mình vừa bằng hình thức gián tiếp thông qua bầu cử các cơ quan, tổ
chức đại diện thực hiện quyền tổ chức và quản lý xã hội, vừa bằng hình thức
trực tiếp, bảo đảm cho nhân dân có quyền tham gia quản lý xã hội một cách thiết
thực và hiệu quả, trước hết là ở cơ sở theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra”. Sức sống của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa do Đảng cộng
sản lãnh đạo dựa trên cơ sở thực hiện tốt và kết hợp chặt chẽ hai hình thức dân
chủ nói trên, từ đó động viên sức mạnh của toàn dân tham gia vào công cuộc
phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ tổ quốc. Theo V.I.Lênin: Không phải chỉ
tuyên truyền về dân chủ, tuyên bố sắc lệnh về dân chủ là đủ, không phải chỉ giao
trách nhiệm thực hiện chế độ dân chủ cho "những người đại diện" nhân dân trong
những cơ quan đại diện là đủ. Cần xây dựng ngay chế độ dân chủ bắt đầu từ cơ sở
dựa vào sáng kiến của bản thân quần chúng, với sự tham gia thật sự của quần
chúng vào tất cả đời sống của nhà nước, không có "sự giám sát" từ trên, không có
quan lại [21, tr. 336-337].
Nhận rõ bản chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa, ngay từ khi chính quyền
nhân dân mới được thành lập, Hồ Chí Minh đã khẳng định quyền lực Nhà nước
là của nhân dân. Theo đó, "Nhà nước ta phải phát triển quyền dân chủ và sinh
hoạt chính trị của toàn dân, để phát huy tính tích cực và sáng tạo của nhân dân,
làm cho mọi người công dân Việt Nam thực sự tham gia công việc quản lý của
Nhà nước"[28, tr.590]. Người nhấn mạnh việc thực thi dân chủ ở từng địa
phương, từng cơ sở, từng cán bộ, từng người dân, từng công việc cụ thể. Vận

phường, thị trấn, cơ quan và doanh nghiệp nhà nước. Đó là những văn bản có
tính chính trị và pháp lý làm cơ sở để mọi người, mọi tổ chức ở cơ sở xây dựng
và thực hành dân chủ - làm chủ.


18
Như vậy, dân chủ ở cơ sở là hình thức nhân dân thực hiện quyền làm chủ
của mình bằng cách trực tiếp thể hiện ý chí nguyện vọng của mình đối với tổ
chức và hoạt động của cơ quan chính quyền ở cơ sở (xuống đến cấp thôn xóm,
đơn vị, cơ quan, nhà máy, xí nghiệp) theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra”.
Quy chế dân chủ ở cơ sở là văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước ban
hành, quy định những biện pháp làm chủ trực tiếp của nhân dân ở xã, phường,
cơ quan hành chính và đơn vị doanh nghiệp để điều chỉnh các quan hệ xã hội
phát sinh giữa chính quyền cơ sở với công dân trong việc phải thông tin
kịp thời và công khai những điều nhân dân phải được biết, những điều
nhân dân được bàn để Nhà nước quyết định hoặc nhân dân được quyết
định và những việc nhân dân được giám sát, kiểm tra nhằm phát huy
quyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân.
1.1.3. Khái niệm dân chủ ở trường học
Trường học là nơi thực hiện nhiệm vụ giáo dục và đào tạo, bồi dưỡng và
phát triển các phẩm chất và năng lực cho công dân về tư tưởng và đạo đức, tri
thức khoa học và kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, giáo dục rèn luyện thể chất
v.v...Giáo dục trong nhà trường là con đường cơ bản nhất, vững bền nhất để hình
thành người lao động có kỹ thuật, có kỷ luật cao đáp ứng những yêu cầu của phát
triển kinh tế - xã hội. Chu Văn An, người được dân ta ngợi ca là bậc "Vạn thế sư
biểu" của giáo dục Việt Nam đã nhận định: "Xem trong sử sách, chưa thấy có
nước nào coi thường sự học mà tiến bộ". Soi lại lịch sử thế giới đều thấy những
nước có nền văn minh, sớm phát triển đều rất coi trọng "sự học", coi đó là nền
tảng phát triển quốc gia. V.I.Lênin khẳng định: “Muốn đổi mới bộ máy nhà

cộng đồng có điều kiện học tập và phát triển năng lực của mình.
Quá trình dân chủ hóa giáo dục được thể hiện trong toàn bộ hệ thống giáo dục
cho đến từng cơ sở trường học. Trong trường học, dân chủ được thể hiện ở quyền
và nghĩa vụ của cán bộ, giáo viên, công nhân viên đối với việc thực hiện nhiệm vụ
chính trị của nhà trường. Cán bộ, giáo viên, công nhân viên trong nhà trường phát


20
huy quyền làm chủ của mình theo phương châm: được biết, được bàn, được tham
gia ý kiến, được giám sát kiểm tra mọi mặt hoạt động của nhà trường. Dân chủ gắn
với kỷ cương, việc thực hiện dân chủ phải đảm bảo các nguyên tắc, sự lãnh đạo và
quản lý của Đảng và Nhà nước đối với sự nghiệp phát triển giáo dục. Trong trường
học, việc thực hiện dân chủ của cán bộ, giáo viên, công nhân viên, của người học
trên cơ sở sự lãnh đạo của chi bộ, sự quản lý của Ban Giám hiệu. Các đoàn thể, tổ
chức trong nhà trường có vai trò to lớn trong việc tham gia, việc thực hiện dân chủ
ở trường học.
Như vậy, dân chủ ở cơ sở trong trường học là việc thực hiện một cách trực
tiếp quyền làm chủ của cán bộ, giáo viên, công nhân viên, thực hiện quyền làm
chủ trực tiếp của người học trong việc thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ của giáo
dục. Dân chủ, thực hành dân chủ - cụ thể ở cơ sở trong trường học là yêu cầu
khách quan và ngày càng bức thiết đối với các tổ chức đảng, chính quyền và
đoàn thể trong nhà trường nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ dạy và học, xây dựng
nền giáo dục thực sự của dân, do dân và vì dân.
1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
về thực hiện dân chủ trong trường học
1.2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong trường học
Trong hệ thống tư tưởng về dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng
“trong trường, cần có dân chủ” là một trong những di sản tinh thần quý báu.
Người đã nhiều lần nhắc nhở các cấp lãnh đạo, thầy giáo, học sinh, sinh viên,
cán bộ phụ trách luôn ý thức về dân chủ và thực hành dân chủ để đưa nhà trường

phát huy tinh thần tự học để xứng đáng là người chủ tương lai của đất nước,
người chủ của chính cuộc sống của mình.
Song song với dân chủ trong học tập là dân chủ trong công tác quản lý
trường học. Một trong những biện pháp tốt nhất để tác động vào sự phát triển
nhà trường chính là thực hành dân chủ. Nói chuyện với trường Thanh niên lao
động xã hội chủ nghĩa Hòa Bình ngày 17 tháng 8 năm 1962, Người đã căn dặn


22
thầy giáo và học sinh nhà trường: “Phải bàn bạc dân chủ”. Có công việc gì, ban
phụ trách trường bàn bạc với anh em, làm cho tư tưởng mọi người thông suốt,
động viên mọi người cùng làm, chứ không nên ban phụ trách định kế hoạch rồi
bắt mọi người làm…” [33, tr.589]. Nội dung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh
về dân chủ trong công tác quản lý trường học là “phải bàn bạc dân chủ” vì có
bàn bạc dân chủ mới phát huy được sáng kiến của quần chúng, mới “làm cho tư
tưởng mọi người thông suốt” để cùng làm. Người khẳng định dân chủ là chiếc
“Chìa khóa vạn năng” có thể giúp giải quyết trong những tình huống xấu nhất,
cần thực hành thường xuyên để giúp giải quyết mọi khó khăn trong công tác
quản lý nhà trường, quản lý giáo dục.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong trường học nhắc chúng ta luôn
quán triệt rằng một nền giáo dục mới nhất thiết phải thực hiện tốt dân chủ
mới, một nhà trường phát triển vững mạnh nhất thiết phải có dân chủ và thực
hiện tốt dân chủ. Dân chủ đó nhất thiết phải gắn liền với kỷ cương, vì thế song
song với việc phát huy dân chủ cần nghiêm khắc đối với những trường hợp vi
phạm hoặc mất dân chủ trong hoạt động giáo dục bằng những chế tài nhất định.
1.2.2. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về thực hiện dân chủ ở
cơ sở trong trường học
Thực hiện dân chủ ở cơ sở trong trường học là một trong những chủ trương
lớn, quan trọng của Đảng và Nhà nước ta nhằm đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục. Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về việc thực hiện dân chủ trong nhà

chủ hóa và xã hội hóa giáo dục đã đạt được những thành tựu quan trọng, không
khí dân chủ trong trường học đã được cải thiện đáng kể, các hoạt động đào tạo
và quản lý trong trường đã được công khai, dân chủ hơn, nhận thức về dân chủ
của cán bộ, giảng viên, công nhân viên, sinh viên ngày càng nâng cao, hệ thống
văn bản pháp lý về dân chủ ngày càng đầy đủ và phù hợp hơn với tình hình thực
tế của nhà trường, các nội dung và cơ chế thực hiện dân chủ trong nhà trường
cũng ngày càng được thể hiện rõ nét. Tuy nhiên, bên cạnh đó việc thực hiện dân


24
chủ trong các nhà trường vẫn còn nhiều hạn chế. Đó là việc thực hiện dân chủ
còn mang tính hình thức, dân chủ mới chỉ được thực hiện từ phía nhà trường
bằng hệ thống văn bản nên mang nặng tính áp đặt hành chính, nhận thức về dân
chủ và thực thi dân chủ của cán bộ, giảng viên, công nhân viên, sinh viên còn
hạn chế, công tác chỉ đạo và kiểm tra giám sát thực hiện dân chủ trong nhà
trường còn nhiều thiếu sót.
Quán triệt Chỉ thị 30 và Nghị quyết 71/1998/NĐ CP của Thủ tướng Chính
phủ về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan,
ngày 1-3-2000, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số
04/2000/QĐ-BGD&ĐT về Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà
trường. Quy chế nêu rõ những “Nguyên tắc thực hiện dân chủ trong nhà trường”:
1. Mở rộng dân chủ phải đảm bảo có sự lãnh đạo của tổ chức Đảng Cộng
sản Việt Nam theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện trách nhiệm của Hiệu
trưởng và phát huy vai trò của các tổ chức, các đoàn thể trong nhà trường.
2. Thực hiện dân chủ trong nhà trường phù hợp với Hiến pháp và pháp luật;
quyền phải đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm; dân chủ phải gắn liền với kỷ luật,
kỷ cương trong nhà trường.
3. Xử lý nghiêm minh những hành vi lợi dụng dân chủ, xâm phạm quyền tự
do dân chủ làm ảnh hưởng đến uy tín và hoạt động của nhà trường.
Thực tiễn đã chứng minh nơi nào thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, nơi

nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nội dung cơ bản của dân chủ hóa trong
đào tạo, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế yêu cầu lãnh đạo nhà trường,
cán bộ, giảng viên, công nhân viên, sinh viên nghiêm túc thực hiện các nhiệm vụ
của mình theo luật định, đảm bảo công khai các vấn đề về tuyển sinh, quy trình
đào tạo, được biết và được tham gia ý kiến xây dựng nội quy, quy định có liên
quan đến vấn đề đào tạo như nội dung, chương trình, giáo trình, quy trình thi và
kiểm tra, vấn đề đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy, học tập, vấn đề
đào tạo theo nhu cầu xã hội, đầu vào, đầu ra, vấn đề đảm bảo công bằng xã



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status