BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THỊ VÂN ANH
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
NGHỆ AN - 2014
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THỊ VÂN ANH
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60.31.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học:
TS. TRẦN VIẾT QUANG
NGHỆ AN - 2014
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập tại Trường Đại học Vinh, tôi đã nhận được rất
nhiều sự quan tâm, giúp đỡ từ phía Nhà trường, Thầy cô và đồng nghiệp.
Nhân dịp luận văn được bảo vệ, tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới
TS. Trần Viết Quang, người đã định hướng đề tài và trực tiếp hướng dẫn, giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn.
Cảm ơn các Thầy giáo, Cô giáo trong Khoa Giáo dục Chính trị, Phòng
Kết luận chương 1 47
Chương 2
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN 49
2.1. Khái quát về các trường Trung học phổ thông Chuyên trên địa
bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 49
2.2. Tình hình đạo đức của học sinh các trường Trung học phổ thông
Chuyên trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 55
3
2.3. Tình hình công tác giáo dục đạo đức cho học sinh các trường
Trung học phổ thông Chuyên trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh
Nghệ An 62
2.4. Đánh giá chung về đạo đức và công tác giáo dục đạo đức cho học
sinh các trường Trung học phổ thông Chuyên trên địa bàn thành
phố Vinh, tỉnh Nghệ An 75
Kết luận chương 2 82
Chương 3
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN TRÊN ĐỊA BÀN TP VINH, TỈNH
NGHỆ AN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 85
3.1. Phương hướng giáo dục đạo đức cho học sinh các trường Trung
học phổ thông Chuyên trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ
An giai đoạn hiện nay 85
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức
cho học sinh trường Trung học phổ thông Chuyên trên địa bàn
thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An giai đoạn hiện nay 90
Kết luận chương 3 123
KẾT LUẬN 125
đang phải đối diện với tình trạng suy thoái, xuống cấp về đạo đức, lối sống, sự
gia tăng tệ nạn xã hội và tội phạm. Đáng lo ngại nhất là trong lớp trẻ xuất hiện
vấn đề tiêu cực trong học tập và thi cử, vấn đề bạo lực học đường ngày càng
gia tăng, văn hóa học đường đang bị xuống cấp nghiêm trọng.
Ở các nhà trường nói chung, công tác giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối
sống chưa được quan tâm một cách đúng mức. Một bộ phận không nhỏ học
sinh chạy theo lối sống thực dụng, chưa có ý thức trong việc rèn luyện đạo
đức, lối sống mới. Nhiều giá trị đạo đức xã hội bị đảo lộn và xuống cấp.
6
Không ít học sinh thiếu tích cực trong học tập và rèn luyện, không chịu
phấn đấu, thiếu niềm tin, lý tưởng sống. Thực trạng học sinh mắc vào tệ
nạn ma túy, tệ nạn mại dâm, thành lập các nhóm không lành mạnh, đánh
nhau, tổ chức đua xe trái phép, bạo lực học đường, quan hệ tình dục trước
hôn nhân đang là mối lo lớn của toàn xã hội ta, đã tạo ra hình ảnh không
đẹp về học sinh.
Từ thực trạng đó, cả xã hội đang quan tâm tìm cách giải quyết, ngành
giáo dục và đào tạo đang trăn trở tìm giải pháp, Đảng và Nhà nước ta đang chỉ
đạo quyết liệt với tính đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục nước nhà,
trong đó, vai trò của giáo dục Phổ thông có tầm quan trọng đặc biệt. Giáo dục
Phổ thông là vườn ươm để có những con người hoàn thiện, là khởi đầu cho sự
nghiệp đào tạo con người, hình thành nhân cách. Tất cả điều đó đặt ra yêu cầu
bức thiết đòi hỏi chúng ta phải nhận thức đúng đắn vai trò của giáo dục và
GDĐĐ cho học sinh, nhất là học sinh THPT - giai đoạn của sự chuyển tiếp
giữa thiếu niên và thanh niên, là giai đoạn tạo dựng nền móng nhân cách để
trở thành sinh viên, trí thức, người lao động mới cho tương lai.
Nghệ An là một vùng đất có truyền thống hiếu học, nơi sinh ra nhiều
nhân tài cho đất nước. Tuy nhiên, thời gian vừa qua, qua khảo sát tình hình
đặc điểm học sinh THPT của Tỉnh Nghệ An, đặc biệt là học sinh các trường
THPT Chuyên TP Vinh (Trường THPT Chuyên Phan Bội Châu; Trường
THPT Chuyên - Đại học Vinh), bên cạnh những mặt tích cực, vẫn còn những
Giáo dục và Đào tạo về kết quả Hội thảo Quốc gia về GDĐĐ - công dân trong
giáo dục Phổ thông Việt Nam [11]… Đây là những văn bản, tài liệu mang
tính định hướng quá trình GDĐĐ cho học sinh, sinh viên trong hệ thống giáo
dục quốc dân nói chung và trong các trường THPT nói riêng.
8
Viện Khoa học giáo dục Việt Nam và khối các trường Đại học Sư
phạm (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Vinh, Đại học Sư
phạm Huế, Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh ) đã có những đóng
góp quan trọng vào lĩnh vực nghiên cứu này với các tác giả: Hà Thế Ngữ,
Nguyễn Đức Minh, Phạm Minh Hạc [22], [23], [24], [25], [26], Phạm Tất
Dong, Phạm Hoàng Gia, Phạm Minh Hùng, Nguyễn Lương Bằng [4], [5], [6],
[7] và nhiều tác giả khác. Để đi đến các quan niệm và giải pháp về GDĐĐ,
các tác giả đã lựa chọn cho mình những cách tiếp cận khác nhau, tạo ra sự đa
dạng, phong phú về nội dung và phương pháp nghiên cứu. Cụ thể như: tác giả
Phạm Minh Hạc xuất phát từ đặc trưng tâm lý học để khảo sát hành vi và hoạt
động, nghiên cứu đạo đức trong cấu trúc của nhân cách, thực hiện quá trình
GDĐĐ trong quá trình phát triển nhân cách, xem đó như mục tiêu quan trọng
nhất của việc thực hiện chất lượng giáo dục; tác giả Nguyễn Đức Minh nghiên
cứu và trình bày cơ sở tâm lý - giáo dục học của GDĐĐ; tác giả Hà Thế Ngữ
chú trọng đến vấn đề tổ chức quá trình GDĐĐ thông qua dạy học các môn
khoa học, nhất là các môn khoa học xã hội và nhân văn, rèn luyện phương
pháp tư duy khoa học để trên cơ sở đó giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan,
bồi dưỡng ý thức đạo đức, hướng dẫn thực hiện các hành vi đạo đức cho học
sinh; tác giả Phạm Tất Dong đã đi sâu nghiên cứu cơ sở tâm lý của hoạt động
giáo dục lao động, giáo dục hướng nghiệp, gắn kết hoạt động này với GDĐĐ
nhằm đạt mục tiêu GDĐĐ nghề nghiệp và lý tưởng nghề nghiệp cho thế hệ
trẻ; tác giả Nguyễn Lương Bằng đã có một loạt bài viết: Giáo dục đạo đức
cho học sinh (dưới góc độ triết học và đạo đức) [4]; Truyền thống đạo đức
trọng nhân nghĩa và ảnh hưởng của nó đối với sinh viên hiện nay [5]; Sinh
viên với việc học tập đạo đức Hồ Chí Minh trong thời kỳ hội nhập quốc tế [6];
10
hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội [14]. Các tác giả đã bàn về những
nội hàm của đạo đức, GDĐĐ trong nền kinh tế thị trường, những giải pháp
khắc phục sự tha hóa, xuống cấp trên một số mặt của đạo đức trong xã hội
hiện tại.
Cùng hướng nghiên cứu, tác giả Trịnh Huy Duy (2009) trong công
trình Xây dựng đạo đức mới trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội [16] đã khẳng định trong nền kinh
tế thị trường có sự thay đổi về một số hệ giá trị, sự hội nhập với các nền kinh
tế bên ngoài, vì vậy, vấn đề xây dựng đạo đức mới cần được quan tâm một
cách đúng mực, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong tình
hình hiện nay.
Ngoài ra, chúng tôi còn tiếp cận với một số công trình nghiên cứu khác
như: công trình “Một số vấn đề thời đại và đạo đức” của nhà giáo Mai Văn
Bính (1991), Trường Đại học Sư phạm I, Hà Nội [8]; công trình Giáo dục lý
tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ Việt Nam trong điều kiện lịch sử mới của
Phạm Đình Nghiệp (1996), Nxb Giáo dục [43]; công trình Giáo dục đạo đức,
hệ thống giá trị tư tưởng nhân văn của Hà Nhật Thăng (1998), Nxb Giáo dục
[53]; công trình Phương pháp dạy học đạo đức của Lưu Thu Thúy (2001),
Nxb Giáo dục [55]; công trình Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của
Đặng Vũ Hoạt (2003), Nxb Giáo dục [29]…
Vấn đề GDĐĐ cho thế hệ trẻ hiện nay cũng được các nhà nghiên cứu
đề cập qua các bài viết trên một số báo như: “Mấy ý về giáo dục, rèn luyện
đạo đức Hồ Chí Minh” của Lê Xuân Vũ, Tạp chí Cộng sản, số 4 năm 1994
[63]; “Vai trò của giáo dục đạo đức đối với sự phát triển nhân cách trong cơ
chế thị trường” của Nguyễn Văn Phúc, Tạp chí Triết học, số 10 năm 1996
[44]; “Thực trạng và một số giải pháp giáo dục đạo đức cho học sinh THPT”
của Phạm Khắc Chương, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 2 năm 1997 [15];
11
“Công tác giáo dục đạo đức, chính trị cho học sinh, sinh viên” của Nguyễn
- Khảo sát thực trạng của việc GDĐĐ cho học sinh các trường THPT
Chuyên trên địa bàn TP Vinh, tỉnh Nghệ An trong thời gian qua.
- Trên cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu, luận văn đề xuất
một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả về GDĐĐ cho học sinh các trường
THPT Chuyên trên địa bàn TP Vinh, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tương và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tiếp cận từ góc độ chính trị - đạo đức, nghiên cứu lý luận đạo
đức và GDĐĐ, đánh giá thực trạng công tác GDĐĐ cho học sinh các trường
THPT Chuyên trên địa bàn TP Vinh, tỉnh Nghệ An.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Thực trạng đạo đức và GDĐĐ cho học sinh THPT ở các trường THPT
Chuyên (Trường THPT Chuyên Phan Bội Châu; Trường THPT Chuyên - Đại
học Vinh) trên địa bàn TP Vinh, tỉnh Nghệ An từ năm 2010 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục và GDĐĐ,
lối sống cho học sinh; đồng thời dựa trên các Nghị quyết, các văn bản của Bộ
Giáo dục và Đào tạo và Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Nghệ An, Trường Đại
học Vinh về công tác GDĐĐ cho học sinh.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dung phương pháp nghiên cứu: phương pháp thống kê;
phương pháp so sánh; phương pháp phân tích; phương pháp tổng hợp;
phương pháp lịch sử - lôgich; phương pháp điều tra xã hội học
13
6. Đóng góp về lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận của vấn đề GDĐĐ cho
học sinh THPT trong giai đoạn hiện nay.
- Luận văn đã khảo sát thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm
moral. Ethics có gốc ở chữ Hy Lạp là ethicos, nghĩa là lề thói, tập tục. Moral
có gốc là moris - lề thói trong tiếng Latinh. Theo người phương Tây cổ đại,
khi ta nói đến đạo đức, tức là nói đến những lề thói, tập tục đã được định hình
trong một cộng đồng dân tộc. Tuân theo những tập tục, lề thói chuẩn mực ấy
được xem là người có đạo đức và ngược lại. Theo quan niệm của Socrates,
con người có thể tìm hiểu những điều thuộc đời sống thực tiễn, để tìm thấy
những chân lý khách quan về một nền đạo đức thực tiễn. Ông tin vào nhân
đức, công lý và coi đó là cách sống hợp với ý muốn thần thánh. Theo ý tưởng
của Platon, con người phải khôn ngoan và biết sống điều độ, nghĩa là phải biết
làm chủ được bản thân mình để đạt được hạnh phúc. Với Platon, đạo đức là
những yếu tố như: hạnh phúc, sự chính trực
Ở phương Đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ
đại bắt nguồn từ cách hiểu về đạo và đức của họ. Đạo có nghĩa là con đường.
Về sau, khái niệm đạo được vận dụng trong triết học để chỉ “con đường của
tự nhiên”. Đạo còn có nghĩa là “con đường sống” của con người trong xã hội.
Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung, đức là biểu hiện của
15
đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý. Như vậy, có thể nói đạo đức của
người Trung Quốc cổ đại chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc
sống đặt ra mà mỗi người phải tuân theo. Điều này cũng phù hợp với cách
hiểu về đạo đức của người phương Tây xa xưa.
Trong thời trung đại, những quan niệm về đạo đức của người Việt Nam
chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi tư tưởng triết học Trung Quốc (các học thuyết
Nho, Phật, Đạo). Đến thời hiện đại, tuy nhiều học giả đã cố gắng xác lập khái
niệm đạo đức nhưng về cơ bản, các cách hiểu này đều tương đối thống nhất
với quan niệm của cổ nhân. Trong cuốn Hán - Việt từ điển, trên cơ sở phân
tách 2 yếu tố đạo và đức, học giả Đào Duy Anh đã cho rằng: “Nguyên lý tự
nhiên là đạo, được vào trong lòng người là đức - Cái lý pháp người ta nên noi
theo”. Theo Từ điển tiếng Việt do GS Hoàng Phê (Chủ biên), đạo đức là
“những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành
không thể thay thế.
Ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội. Các hình thái ý thức xã hội
khác nhau tuỳ vào phương thức phản ánh tồn tại xã hội và tác động riêng biệt
đối với đời sống khác nhau. Do chỗ đạo đức là một hình thái ý thức xã hội
nên nó phản ánh tồn tại xã hội, phản ánh hiện thực đời sống. Nói cách khác,
đạo đức cho thấy thực tiễn đời sống, cung cách ứng xử của con người với con
người, con người với xã hội. Đạo đức cũng vận động trên cơ sở sự vận động,
phát triển của tồn tại xã hội, của phương thức sản xuất. Sự phát sinh và phát
triển của đạo đức, xét đến cùng là một quá trình do sự phát triển của phương
thức sản xuất quyết định.
Đạo đức còn có vai trò là một phương thức điều chỉnh hành vi của con
người. Bên cạnh đạo đức, phương thức điều chỉnh hành vi con người còn có
17
phong tục, tập quán, tôn giáo, pháp luật… Đối với đạo đức, sự đánh giá hành
vi con người theo khuôn khép chuẩn mực và qui tắc đạo đức biểu hiện thành
những khái niệm về thiện và ác, vinh và nhục, chính nghĩa và phi nghĩa.
Những khuôn khép (chuẩn mực) và qui tắc đạo đức là yêu cầu của xã hội
hoặc của một giai cấp nhất định đề ra cho hành vi mỗi cá nhân. Cá nhân phải
chuyển hóa những đòi hỏi của xã hội và những biểu hiện của chúng thành nhu
cầu, mục đích và hứng thú trong hoạt động của mình. Từ đây có thể thấy, vai
trò quan trọng của đạo đức đối với sự phát triển của xã hội là hình thành trong
mỗi người ý thức đúng, từ đó điều chỉnh hành vi đúng với quan niệm, cách
ứng xử của cộng đồng, với chuẩn mực đạo đức xã hội. Một xã hội nếu các
thành viên ý thức đúng và hành động đúng với quan niệm của cộng đồng thì
xã hội đó sẽ ổn định, phát triển bền vững, ngược lại sẽ tạo ra tình trạng bất ổn,
rối loạn.
Vì liên quan đến nhận thức, hành vi của mỗi cá nhân và của cả cộng
đồng, đạo đức có vai trò duy trì trật tự, sự bình ổn và phát triển của xã hội.
Đạo đức, về mặt nào đó mà nói, chính là bộ mặt của một xã hội phát triển bền
vững. Cùng với pháp luật, đạo đức góp phần điều chỉnh ý thức, hành vi, qua
Như vậy, có thể thấy, đạo đức có vai trò rất quan trọng đối với sự phát
triển của xã hội. Tuy nhiên, cần thấy rằng, sự tác động của đạo đức đối với xã
hội cũng có hai mặt. Nếu công tác quản lý yếu kém, hệ thống các quy tắc,
nguyên tắc ứng xử, chuẩn mực đạo đức không phù hợp với xã hội hoặc lệch
lạc so với xu thế phát triển thì đạo đức trở thành lực cản, cản trở sự phát triển
xã hội, tạo ra sự bất ổn. Vì vậy, việc giáo dục, hình thành những chuẩn mực
đạo đức tích cực, có lợi cho sự phát triển của cá nhân và xã hội là nhiệm vụ
chung của tất cả mọi người, của cả gia đình, nhà trường và xã hội.
19
1.1.2. Giáo dục đạo đức và các thiết chế của nó
1.1.2.1. Giáo dục đạo đức
Quá trình hình thành và phát triển đạo đức của con người là quá trình
tác động qua lại giữa xã hội và cá nhân để chuyển hóa những nguyên tắc, yêu
cầu, chuẩn mực, giá trị đạo đức của cộng đồng thành những phẩm chất đạo
đức cá nhân, làm cho cá nhân đó trưởng thành về mặt đạo đức đáp ứng yêu
cầu của xã hội. Dưới tác động của giáo dục, quá trình đó diễn ra chủ động, có
định hướng, mục đích và đem lại hiệu quả cao hơn nhiều lần so với để nó diễn
ra tự nhiên, không có tổ chức.
GDĐĐ là quá trình chuyển hóa những chuẩn mực, nguyên tắc đạo đức
của xã hội thành đạo đức và nhân cách của mỗi cá nhân, được thể hiện trong
giao tiếp, ý thức tự giác và các hoạt động thực tiễn diễn ra hằng ngày trong xã
hội. GDĐĐ được tiến hành thường xuyên trong các môi trường gia đình, nhà
trường và xã hội với những phương pháp, hình thức khác nhau.
Trong nhà trường, GDĐĐ là “bộ phận hợp thành nền tảng của nội dung
giáo dục toàn diện nhằm giúp thế hệ trẻ hình thành lí tưởng, ý thức và tình
cảm đạo đức, tạo nên những thói quen và hành vi đạo đức của con người mới,
xã hội chủ nghĩa thể hiện ở các phẩm chất đạo đức như lòng nhân ái, yêu Tổ
quốc, yêu lao động, đức hi sinh, dũng cảm, tính liêm khiết, trung thực, vô tư,
khiêm tốn, tự tin, tự trọng…” [30, 124]. Nó là một bộ phận của quá trình giáo
dục tổng thể, có quan hệ biện chứng với các quá trình bộ phận khác nhau như
những thiết chế liên quan đến các hoạt động văn hoá, nghệ thuật, giáo dục,
khoa học, tôn giáo. Thiết chế giao tiếp công cộng bao gồm tất cả các khuôn
mẫu và phương thức hành vi trong sự giao tiếp công cộng. Các mối quan hệ
xã hội giữa người với người đều kinh qua những thiết chế.
21
Theo đó, thiết chế GDĐĐ là khái niệm chỉ toàn bộ hệ thống tổ chức và
hệ thống giám sát mọi hoạt động GDĐĐ (ở đây, chúng ta đang bàn đến GDĐĐ
trong nhà trường). Nhờ các thiết chế này mà các bộ phận giáo dục kết hợp lại
với nhau, đảm bảo hoạt động nhịp nhàng và trong khuôn khổ. Các thiết chế
GDĐĐ đều có nhiệm vụ đáp ứng các nhu cầu GDĐĐ, điều chỉnh hoạt động
của các bộ phận trong nhà trường và của các thành viên, kết hợp hài hoà các bộ
phận, đảm bảo sự ổn định, đúng hướng của các hoạt động GDĐĐ.
Thiết chế của GDĐĐ trong nhà trường trước hết là thiết chế chính trị,
biểu hiện trực tiếp qua chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà
nước; Luật Giáo dục; Nghị quyết Đại hội các cấp về các vấn đề liên quan đến
giáo dục nói chung, GDĐĐ nói riêng; các văn bản, chỉ thị, đường lối GDĐĐ
của Bộ Giáo dục và Đào tạo (như Luật Giáo dục; các thông tư, quy định, kế
hoạch triển khai công tác GDĐĐ); nội quy, quy chế trường THPT Tất cả
những quy định này hợp lại thành thiết chế chính trị, định hướng chỉ đạo công
tác GDĐĐ cho học sinh. Nói cách khác, thiết chế chính trị buộc công tác
GDĐĐ phải hướng tới phù hợp với thể chế chính trị (ví như phải giáo dục cho
học sinh đạo đức xã hội chủ nghĩa), thống nhất và hướng tới phục vụ nhiệm
vụ chính trị chung của toàn Đảng, toàn dân tộc.
Bên cạnh thiết chế chính trị, công tác GDĐĐ còn phải phụ thuộc vào
thiết chế tinh thần, cụ thể đó chính là đặc điểm văn hóa, tinh thần của người
Việt. Việc truyền tải những giá trị đạo đức cho học sinh tuy vẫn phải đảm bảo
tính hiện đại nhưng nó có liên quan mật thiết với các giá trị văn hóa truyền
thống như: lòng yêu nước, tự hào dân tộc, lòng thương người, lòng biết ơn, ý
thức cộng đồng, tôn sư trọng đạo, kính trên nhường dưới… Chỉ khi phù hợp
với cách cảm, cách nghĩ, lối sống của người Việt thì các giá trị đạo đức nhà
23