Giáo dục bình đẳng giới cho vị thành niên ở thành phố vinh, tỉnh nghệ an trong giai đoạn hiện nay - Pdf 29

1
B GIO DC V O TO
TRNG I HC VINH
PHAN TH HOI
GIO DC BèNH NG GII CHO V THNH NIấN
THNH PH VINH, TNH NGH AN
TRONG GIAI ON HIN NAY
Chuyên ngành: LL V PPDH B MễN GIO DC CHNH TR
Mã số: 60.14.10
Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Ngời hớng dẫn khoa học:
PGS. TS. GVCC. Đoàn Minh Duệ
Ngh An, 2013
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn thạc sỹ với đề tài "Giáo dục bình đẳng giới
cho vị thành niên ở Thành phố Vinh, Tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện
nay", ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân, tác giả còn nhận được sự
hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, chu đáo của PGS. TS. GVCC Đoàn Minh Duệ.
Học viên xin tỏ lòng tri ân sâu sắc tới Thầy.
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Khoa Giáo dục
Chính trị; Phòng Đào tạo Sau Đại học - Trường Đại học Vinh; cán bộ Phòng
Bình đẳng giới - Sở Lao động, Thương binh và Xã hội Tỉnh Nghệ An; cán bộ
Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội Thành phố Vinh đã tạo điều kiện
giúp đỡ và có những ý kiến đóng góp quý báu trong quá trình sưu tầm tài
liệu, soạn thảo đề cương và hoàn thành luận văn.
Ngoài ra, trong quá trình hoàn thiện luận văn, tác giả luôn nhận được
sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình và tạo điều kiện tốt nhất từ Ban giám hiệu
Trường Truyền thông đa phương tiện VTC, anh, chị, em đồng nghiệp, đồng
môn và những lời động viên từ gia đình, bạn bè, người thân để tác giả cố
gắng tập trung hoàn thành luận văn. Xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành
từ những nguồn động viên quý báu đó.

bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội cho nam và nữ trong phát triển kinh tế
- xã hội và phát triển nguồn lực tiến tới bình đẳng thực chất giữa nam và nữ,
thiết lập củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam và nữ trong mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội và gia đình, việc giáo dục bình đẳng giới cho vị thành
niên đóng vai trò hết sức quan trọng.
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội,
vấn đề bình đẳng giới ngày càng được xã hội quan tâm nhiều hơn. Hội nghị các
quốc gia tại NewYork (Mỹ) năm 2000 đã xác định: bình đẳng giới là một trong
tám mục tiêu của thiên niên kỷ. Ở Việt Nam, Nhà nước cũng đã ban hành nhiều
chủ trương, chính sách thúc đẩy bình đẳng nam, nữ như Luật Chống bạo hành
phụ nữ; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình; đặc biệt là Luật Bình đẳng giới
được Quốc hội khóa XI thông qua tại kỳ họp lần thứ 10 ngày 29 tháng 11 năm
2006. Việc ban hành Luật Bình đẳng giới là sự kiện có ý nghĩa rất quan trọng
trong đời sống chính trị, xã hội, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về bình
đẳng giới ở Việt Nam và là sự tiếp tục khẳng định quyết tâm của Việt Nam
trong thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, hội nhập khu vực và quốc tế.
Với sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước, mục tiêu bình đẳng giới
đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Tại Hội nghị kiểm điểm thực hiện
mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc năm 2005, Việt Nam được coi là
điểm sáng về thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, thuộc nhóm nước có thành tựu
khá trong khu vực về chỉ số phát triển giới, xếp thứ 87/144 quốc gia trên thế
giới [24; 7]. Ở Tỉnh Nghệ An, tính đến tháng 6 năm 2013, đã có 17/20 huyện,
5
thành, thị thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới [35; 2].
Trong đó, Thành phố Vinh dẫn đầu toàn tỉnh về việc hoàn thành các chỉ tiêu,
mục tiêu của Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng
giới trên địa bàn Tỉnh Nghệ An năm 2012.
Những thành tựu đạt được về bình đẳng giới là rất to lớn nhưng trong
thực tế khoảng cách giới và sự phân biệt đối xử về giới vẫn còn tồn tại trong
đời sống xã hội. Ở Thành phố Vinh hiện nay, định kiến giới và tư tưởng trọng

Ngày 28/1/2010, Ban Dân vận Trung ương tổ chức Hội thảo trực tuyến
“Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động thực hiện Luật Bình đẳng giới
và Nghị quyết 11-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, tại hai đầu cầu Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh. Mục tiêu của Hội thảo nhằm nâng cao nhận thức và
hành động của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội về thực hiện Luật Bình
đẳng giới và Nghị quyết 11-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ
thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; Hội thảo "Bình đẳng giới trong các
xu hướng giới tính" diễn ra ngày 29/9/2012 tại Trung tâm tâm lý học ứng
dụng Sông Phố (Đồng Nai). Tại Hội thảo, các nhà khoa học đã trình bày các
báo cáo về vấn đề: Tổng quan các nghiên cứu tâm lý, Sức khỏe tâm thần về
xu hướng giới tính, Tiếp cận y khoa về xu hướng giới tính, Quyền và các
vấn đề xu hướng giới tính ở Việt Nam, Tác động của xã hội với xu hướng
giới tính. Trên cơ sở những tham luận và ý kiến trao đổi tại hội thảo, Trung
tâm đã tiến hành một loạt các buổi tọa đàm chuyên đề tại các trường trung
học nhằm truyền thông đến vị thành niên những kiến thức về giới tính, qua
đó giúp các em có lối sống lành mạnh, có nhận thức và thái độ đúng mực với
vấn đề giới tính và tránh kỳ thị giới; Đặc biệt, ngày 28/11/2012, tại Thành
phố Vinh, Nghệ An đã diễn ra hội thảo “Nâng cao nghiệp vụ công tác bình
7
đẳng giới”. Thành phần tham dự hội thảo có các cán bộ chuyên trách và
kiêm nhiệm làm công tác bình đẳng giới ở tất cả 25 phường, xã và hiệu
trưởng các trường Tiểu học, THCS, THPT đóng trên địa bàn. Trong hội thảo
nhiều vấn đề được thảo luận như bình đẳng giới ở trẻ vị thành niên trong gia
đình, nhà trường và ngoài xã hội
Thứ hai, liên quan trực tiếp đến đề tài có nhiều bài viết như: Tác giả
Nguyễn Thanh Bình (chủ biên) (2004) với công trình "Những điều cần
biết để giáo dục giới tính cho con", Nxb Lao động; Tác giả Nguyễn Thị
Hồng Hạnh (chủ biên) (2007) với công trình "Tư vấn sức khỏe giới tính
tuổi VTN", Nxb Phụ nữ; Hoặc tác giả Sa Thị Hồng Hạnh (chủ biên)

Như vậy, về mảng đề tài này đã có rất nhiều sách, báo, hội thảo, công
trình nghiên cứu khoa học đề cập. Nhìn chung, các nghiên cứu đã nêu lên
được cơ sở lý luận cũng như thực trạng bất bình đẳng giới, đồng thời đưa ra
được một số kiến nghị, giải pháp nhằm hạn chế tình trạng này trong xã hội
Việt Nam. Nhưng vấn đề giáo dục bình đẳng giới cho vị thành niên cho đến
nay chưa có tài liệu nào đề cập sâu. Vì vậy, tác giả tập trung nghiên cứu về
giáo dục bình đẳng giới cho vị thành niên ở Thành phố Vinh, Tỉnh Nghệ An
là vấn đề đang được nhiều người quan tâm.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Tập trung làm rõ thực trạng và đề xuất các giải pháp giáo dục bình
đẳng giới cho vị thành niên ở Thành phố Vinh, Tỉnh Nghệ An nhằm làm cho
công tác ngày càng tốt hơn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận của giáo dục bình đẳng giới cho vị thành niên;
- Đánh giá, phân tích thực trạng về giáo dục bình đẳng giới cho vị
thành niên ở Thành phố Vinh, Tỉnh Nghệ An;
9
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục bình đẳng
giới cho vị thành niên ở Thành phố Vinh, Tỉnh Nghệ An trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về các giải pháp giáo dục bình đẳng giới cho vị thành
niên ở Thành phố Vinh, Tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng giáo dục bình đẳng
giới cho vị thành niên trên địa bàn Thành phố Vinh; từ đó đề xuất một số giải
pháp nhằm giáo dục bình đẳng giới cho vị thành niên ở Thành phố Vinh, Tỉnh
Nghệ An trong giai đoạn hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC BÌNH ĐẲNG GIỚI
CHO VỊ THÀNH NIÊN
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Giới, bình đẳng giới
1.1.1.1. Giới và giới tính
• Giới
Trên thế giới, thuật ngữ “giới” theo tiếng Anh là “gender” bắt đầu được
sử dụng trong các tài liệu khoa học xã hội của một số nước công nghiệp phát
triển cách đây chưa đầy 30 năm, và được du nhập vào Việt Nam khoảng 20 năm.
Theo quan điểm xã hội học, “giới” dùng để chỉ các đặc điểm, vị trí, vai
trò và mối quan hệ xã hội giữa nam và nữ. Hay nói cách khác, giới là sự khác
biệt giữa phụ nữ và nam giới trong quan hệ xã hội. Ví dụ, trong các xã hội mà
quan hệ nam nữ không bình đẳng, nam giới thường làm nhiệm vụ quản trị,
còn phụ nữ thường làm nhiệm vụ thừa hành, hoặc chỉ ở nhà nội trợ và phụ
thuộc nam giới về mặt kinh tế, còn nam giới tham gia các hoạt động xã hội và
quyết định các vấn đề quan trọng trong gia đình. Nói đến mối quan hệ giới là
nói đến cách thức phân định vị trí xã hội giữa nam và nữ, liên quan đến hàng
loạt các vấn đề thuộc về thể chế và xã hội, chứ không phải là mối quan hệ cá
biệt giữa một nam giới và một nữ giới nào đó.
Ở Việt Nam, trong lĩnh vực pháp lý, khái niệm "đàn bà”, “đàn ông”,
“trai”, “gái”, “nam”, “nữ” , “phụ nữ”, “nam giới”… đã được sử dụng trong các
bản Hiến pháp cũng như nhiều văn bản pháp luật. Tuy nhiên, khái niệm “giới”
lần đầu tiên được quy định tại Luật Bình đẳng giới, được Quốc hội khoá XI kỳ
họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006, có hiệu lực từ ngày 01/07/2007.
Theo Khoản 1 Điều 5 Luật Bình đẳng giới thì “Giới chỉ đặc điểm, vị trí,
vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội” [30; 1].
12
Theo tài liệu “Hướng dẫn lồng ghép giới trong hoạch định và thực thi
chính sách” do Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ phụ nữ Việt Nam xuất bản năm

trình độ phát triển của xã hội.
Bình đẳng giới theo quan niệm xã hội học là sự đối xử ngang quyền
giữa hai giới nam và nữ, cũng như giữa các tầng lớp phụ nữ trong xã hội, có
xét đến đặc điểm riêng của nữ giới, được điều chỉnh bởi các chính sách đối
với phụ nữ một cách hợp lý. Hay nói cách khác, bình đẳng giới là sự thừa
nhận, sự coi trọng ngang nhau đối với các đặc điểm giới tính và sự thiết lập
các cơ hội ngang nhau đối với nữ và nam trong xã hội.
Theo Khoản 3 Điều 5 Luật Bình đẳng giới, “Bình đẳng giới là việc
nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy
năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng
như nhau về thành quả của sự phát triển đó” [30; 2].
Văn bản của Liên hợp quốc đã chỉ rõ: “Bình đẳng về giới là nam nữ
được công nhận có vị thế xã hội ngang nhau, có những điều kiện như nhau để
thực hiện đầy đủ các quyền con người, có cơ hội như nhau để đóng góp và
hưởng lợi từ sự phát triển chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của đất nước”
[25; 19]. Quyền bình đẳng giữa nam và nữ là một nội dung cơ bản của Luật
nhân quyền quốc tế.
Báo cáo đánh giá thực trạng bình đẳng giới tại Việt Nam năm 2004 của
Hội Liên hiệp phụ nữ viết: “Bình đẳng giới là một cách tiếp cận giải quyết các
vấn đề đang đối diện với cả nam và nữ theo cách chia sẻ các lợi ích của phát
triển một cách bình đẳng, bảo đảm chống lại gánh nặng thiên lệch của những
tác động tiêu cực” [21; 4].
Theo tài liệu “Hướng dẫn lồng ghép giới trong hoạch định và thực thi
chính sách” do Ủy ban quốc gia Vì sự tiến bộ phụ nữ Việt Nam xuất bản năm
14
2004 thì “Bình đẳng giới là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm
giống và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới” [46; 4]. Nam giới và nữ giới cùng
có điều kiện bình đẳng để phát huy hết khả năng và thực hiện các mong muốn
của mình; có cơ hội bình đẳng để tham gia, đóng góp và thụ hưởng từ các nguồn
lực của xã hội và quá trình phát triển; được hưởng tự do và chất lượng cuộc sống

bình đẳng giới, được tính trên cơ sở tuổi thọ trung bình, trình độ giáo dục và
thu nhập bình quân đầu người của nam và nữ" (Theo Khoản 9 Điều 5 Luật
Bình đẳng giới) [30; 2].
Chỉ số phát triển giới (GDI) càng tiến tới bằng 1 thì càng bình đẳng, và
càng lùi về 0 thì càng bất bình đẳng. Năm 1995, Việt Nam có GDI=0,537 xếp
vị trí thứ 74/130 nước; năm 1999, Việt Nam có GDI=0,662 xếp ở vị trí thứ
91/174 nước, trong đó nước có GDI cao nhất là Canada (DGI=0,928); năm
2005 GDI của Việt Nam là 0,702 đứng thứ 87/144 nước. Tại Hội nghị kiểm
điểm thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc năm 2005, Việt Nam
được coi là điểm sáng về thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, một trong những
nước có thành tựu về bình đẳng giới tốt nhất khu vực Đông Nam Á.
• Bất bình đẳng giới
Bất bình đẳng giới là sự phân biệt đối xử với nam, nữ về vị thế, điều
kiện và cơ hội bất lợi cho nam, nữ trong việc thực hiện quyền con người,
đóng góp và hưởng lợi từ sự phát triển của gia đình và xã hội.
Hay nói cách khác, bất bình đẳng giới là sự đối xử khác biệt với nam và
nữ, tạo nên sự tiếp cận các nguồn lực khác nhau, sự thụ hưởng khác nhau giữa
nam và nữ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Theo quan điểm xã hội học, bất bình đẳng giới là sự khác biệt giới gây
thiệt hại hoặc cản trở sự tiến bộ của nam và nữ. Tuy nhiên, không phải sự
khác biệt nào về giới cũng dẫn tới bất bình đẳng giới.
16
Các dạng tồn tại bất bình đẳng giới: gánh nặng công việc, sự phân biệt
đối xử, bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục, những
định kiến rập khuôn và bạo lực trên cơ sở giới tính.
1.1.1.3. Định kiến giới và phân biệt đối xử về giới
• Định kiến giới
Theo Khoản 4 Điều 5 Luật Bình đẳng giới, "định kiến giới là nhận
thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và
năng lực của nam hoặc nữ" [30; 2].

rõ ràng mà còn là cả những hành vi tiềm ẩn mục đích làm tổn hại hoặc vô
hiệu hóa các quyền con người và quyền công dân của nam, nữ. Do đó, việc
lồng ghép giới trong xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật cần được
quan tâm một cách thích đáng.
Phân biệt đối xử về giới chỉ có thể được xóa bỏ khi các cơ quan, tổ
chức, gia đình và cá nhân hiểu sâu sắc, hiểu đúng và toàn diện những khía
cạnh liên quan đến giới, giới tính và bình đẳng giới để không máy móc, rập
khuôn theo hướng định kiến trong việc nhìn nhận về sự tham gia, đóng góp và
thụ hưởng thành quả từ sự tham gia, đóng góp đó của nam, nữ trong các môi
trường hiện tại mà hướng tới việc tìm ra các khía cạnh kỹ thuật tốt nhất bảo
đảm bình đẳng giới ở các môi trường đó trong tương lai.
1.1.1.4. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới; Lồng ghép vấn đề bình
đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và hoạt động bình
đẳng giới
• Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình
đẳng giới thực chất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong
trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện,
18
cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp
dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh
lệch này. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được thực hiện trong một thời
gian nhất định và chấm dứt khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được. (Theo
Điều 5 Khoản 6 Luật Bình đẳng giới) [30; 2].
• Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm
pháp luật là biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới bằng cách xác
định vấn đề giới, dự báo tác động giới của văn bản, trách nhiệm, nguồn lực để
giải quyết vấn đề giới trong các quan hệ xã hội được văn bản quy phạm pháp
luật điều chỉnh (Theo Khoản 7 Điều 5 Luật Bình đẳng giới) [30; 2].
• Hoạt động bình đẳng giới là hoạt động do cơ quan, tổ chức, gia
đình, cá nhân thực hiện nhằm đạt mục tiêu bình đẳng giới. (Theo Khoản 8

tâm. Có thể nói rằng giáo dục bình đẳng giới có tầm quan trọng to lớn đối với
sự phát triển của đất nước. Vì vậy, có một nhà giáo dục đã viết: Giáo dục một
người đàn ông, ta được một gia đình, giáo dục một người phụ nữ ta được cả
một thế hệ. Lợi ích trăm năm trồng người chính là xuất phát từ việc giáo dục
bình đẳng giới.
1.1.3. Vị thành niên
1.1.3.1. Khái niệm
Theo từ điển Tiếng Việt, "Vị thành niên: người chưa đến tuổi được pháp
luật công nhận là công dân với đầy đủ các quyền và nghĩa vụ" [28;1425].
Theo khái niệm trên, chúng ta biết rằng tuổi vị thành niên là giai đoạn
đặc biệt mạnh mẽ và phức tạp nhất trong cuộc đời của mỗi con người. Biểu
hiện của nó là xảy ra đồng thời một loạt những thay đổi bao gồm: Sự phát
triển mạnh mẽ về thể chất, sự biến đổi điều chỉnh tâm lý và các quan hệ xã
20
hội, bước đầu hình thành nhân cách nên nảy sinh nhiều rối nhiễu về tâm lý
nhất so với các lứa tuổi khác.
Trẻ vị thành niên là tương lai của xã hội. Ở lứa tuổi này, các em được
hưởng sự quan tâm, các chính sách ưu đãi dành cho người chưa thành niên
trong mọi lĩnh vực. Tuy vậy, hiện nay việc xác định trẻ trong độ tuổi nào
được gọi là vị thành niên còn thiếu rõ ràng và chưa thống nhất. Thực tế quy
định độ tuổi vị thành niên không phải bây giờ mới bàn mà từ lâu đã là đề tài
gây nhiều tranh cãi trên thế giới và cả Việt Nam. Nhất là khi ở mỗi văn bản
pháp luật lại có những quy định về độ tuổi khác nhau.
Ở các nước trên thế giới quy định về độ tuổi vị thành niên cũng khác
nhau: Nhật Bản, Indonesia, Hàn Quốc và Đài Loan quy định tuổi vị thành niên
là từ 13 - 17 tuổi; Ở Úc, Ấn Độ, Anh, Mỹ, Philippin là 13 - 18 tuổi; Một số
nước khác như: Brazil, Colombia và Peru quy định trẻ em từ 12 đến 17 tuổi là
vị thành niên; Riêng Trung Quốc vị thành niên là từ 14 - 17 tuổi
Theo tập quán của nhiều dân tộc trên thế giới, muốn chuyển từ lứa tuổi
vị thành niên sang lứa tuổi thành niên, phải trải qua nhiều nghi lễ, rèn luyện và

có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động.
Theo Luật Hôn nhân và gia đình, nam thanh niên không được kết hôn khi
chưa đủ 20 tuổi, nữ thanh niên không được kết hôn khi chưa đủ 18 tuổi.
Như vậy, theo chúng tôi mặc dù ở Việt Nam còn tồn tại nhiều quy định
khác nhau về độ tuổi VTN, nhưng nhìn chung đều cho rằng theo Luật Bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em; Luật Thanh niên; Luật Hình sự lấy độ tuổi
VTN là từ 13 đến dưới 16 tuổi. Vì thế trong đề tài này, chúng tôi về cơ bản
đồng thuận với quan điểm vị thành niên là những người có độ tuổi từ 13 đến
22
dưới 16 tuổi. Tuy nhiên, việc xác định độ tuổi vị thành niên là dựa trên sự
phát triển thể chất, tâm lý xã hội của từng thời kỳ, vì vậy sự phân chia này chỉ
mang tính chất tương đối.
1.1.3.2. Những thay đổi ở độ tuổi vị thành niên
* Thay đổi về thể chất
Nữ Nam
- Phát triển chiều cao.
- Phát triển cân nặng.
- Tuyến vú phát triển → Ngực to ra
- Khung chậu phát triển → mông to
ra (to hơn nam giới).
- Phát triển lông mu.
- Đùi thon.
- Bộ phận sinh dục phát triển: âm
hộ, âm đạo to ra, tử cung và buồng
trứng phát triển.
- Có kinh nguyệt.
- Ngưng phát triển bộ xương sau
khi hình thể đã hoàn thiện.
- Phát triển chiều cao và cân nặng.
- Phát triển lông mu.

các em lại thường thay đổi tình cảm một cách dễ dàng, khi vui, khi buồn kiểu
"sớm nắng chiều mưa".
- Hành động: Các em muốn thử sức mình và muốn khám phá những
điều mới lạ. Các em thường quan tâm đến những thay đổi của cơ thể, nhất là
các em gái dễ băn khoăn, lo lắng, buồn rầu về những nhược điểm ở cơ thể
mình khi so sánh với các bạn cùng lứa. Các em cũng bắt đầu quan tâm đến bè
bạn, muốn tách khỏi sự bảo hộ của bố mẹ, tuy nhiên các em vẫn còn quá trẻ,
chưa có kinh nghiệm và vẫn phụ thuộc vào bố mẹ và gia đình. Khi mong
muốn điều gì, các em muốn được thoả mãn nhu cầu ngay và có thể hành động
bất chấp hậu quả, trong khi về mặt tư duy các em chưa phát triển đầy đủ khả
năng tự phê phán. Cũng ở nhóm tuổi này các em thường muốn tìm hiểu về
khả năng hoạt động tình dục của mình.
Như vậy, tuổi VTN là thời kỳ có những thay đổi lớn lao trong cơ thể.
VTN đang đứng trước ngã ba đường đời, họ có thể và phải bắt đầu tự làm
việc cho mình. Nếu bắt đầu cuộc sống một cách tốt đẹp, các em có thể có
được một sức sống và ý chí để làm việc, nhưng các em cần giúp đỡ và cơ hội.
24
Những khả năng phát triển mới này tạo ra những hành vi mới. Những hành vi
này không những thay đổi tùy theo giới tính và sự trưởng thành về thể lực, trí
tuệ và những quan hệ xã hội của các cá nhân VTN mà còn tùy thuộc vào môi
trường xã hội, văn hóa, chính trị, vật chất, kinh tế nơi các em sống.
Thời kỳ tuổi VTN được đặc trưng bởi sự phát triển nhanh về tâm lý và
thể lực, đây cũng là thời kỳ đánh dấu những bước phát triển lớn về mặt xã hội
trong cuộc đời của mỗi con người.
Các nhà khoa học cho rằng, đây là thời kỳ đặc biệt, có nhiều biến đổi
đột ngột, mạnh mẽ và sinh lý - đánh dấu sự trưởng thành giới tính của tuổi
VTN. Sự phát triển thể chất đã tác động mạnh mẽ đến đặc trưng tâm lý, tạo
cho VTN có những rung động đầu đời, những cảm xúc giới tính, những khẳng
định và xu hướng thích được thừa nhận “đã là người lớn”, chính những cấu
tạo tâm lý mới đã tạo nên sự “nổi loạn” trong mọi hành vi ứng xử của tuổi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status