MỤC LỤC
Trang
Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ
GIÁO DỤC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1- Cơ sở lý luận
2
5
1.1 Vai trò của giáo dục 5
1.2 Vai trò của việc nâng cao chất lượng giáo dục trong thời kỳ CNH-HĐH 6
1.3 Vai trò của công tác xã hội hoá giáo dục 7
1.4 Nội dung của công tác xã hội hoá giáo dục 9
2- Cơ sở thực tiễn 10
2.1 Nhưng thành tựu giáo dục của cả nước trong mấy năm qua 10
2.2 Những tồn tại trong công tác xã hội hoá giáo dục ở nước ta hiện nay 13
Chương II
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC CỦA VÙNG SÂU, VÙNG CAO TÂN HỢP
1 - Đặc điểm tình hình 15
1.1 Tình hình địa phương 15
1.2 Tình hình chung của nhà trường 17
2 - Quá trình thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục tại Tân Hợp trong
thời gian qua
2.1 Những kết quả đạt được và nguyên nhân 17
2.2 Những hạn chế còn tồn tại 22
2.3 Những vấn đề đặt ra cần giải quyết 24
Chương III
MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP
CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TỪ NAY ĐẾN NĂM 2013
1 - Mục tiêu
thành nhân cách con người, phẩm chất năng lực của công dân, đào tạo nguồn
nhân lực cho tương lai theo hướng toàn diện, năng động và sáng tạo, có niềm tự
hào dân tộc, có đạo đức và ý chí vươn lên góp phần làm cho dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nước ta là một quốc gia có nhiều thành phần dân tộc anh em cùng chung
sống, đoàn kết trong quá trình dựng nước và giữ nước. Địa bàn miền núi, vùng
sâu, vùng xa thông thường là địa bàn cư trú của các đồng bào dân tộc thiểu số.
Hiện nay trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các thành phần dân tộc ở nước
2
ta vẫn có sự chênh lệch. Vì vậy phải chú ý hơn nữa đến việc phát triển kinh tế -
xã hội ở vùng dân tộc ít người.
Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội
nhập quốc tế, nguồn lực con người Việt Nam càng trở nên có ý nghĩa quan
trọng, quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất nước. Giáo dục
ngày càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng một thế hệ
người Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế -xã hội. Đảng ta đã xác
định: “Sự nghiệp giáo dục là của nhà nước và của toàn dân”, vì vậy công tác xã
hội hoá giáo dục càng có tầm quan trọng và ý nghĩa vô cùng to lớn trong giai
đoạn hiện nay.
Là người cán bộ quản lý trường tiểu học, chịu trách nhiệm trước Đảng,
Nhà nước và nhân dân trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện việc dạy và
học của một nhà trường vùng sâu, vùng xa. Tôi càng thấy mình cần xác định rõ
hơn trọng trách, đầu tư hơn về tâm huyết, công sức, trí tuệ. Không ngừng nâng
cao học tập để đưa nhà trường ngày một đi lên. Củng cố, duy trì, nâng cao chất
lượng dạy và học của nhà trường nhằm xây dựng đơn vị từng bước đạt chuẩn
quốc gia theo mục tiêu giáo dục của Đảng và Nhà nước đề ra. Đối với vùng sâu,
vùng xa, vùng kinh tế đặc biệt khó khăn. Với chủ trương đưa miền núi tiến kịp
miền xuôi, thực hiện chính sách công bằng xã hội. Đảng và Nhà nước ta đã có
nhiều chính sách quan trọng: Chính sách “xoá đói, giảm nghèo”, đầu tư phát
hoàn thành phổ cập trung học cơ sở. Tạo niềm tin vững chắc cho cấp uỷ Đảng,
chính quyền các cấp và nhân dân địa phương. Cùng huyện nhà đưa nền giáo dục
tiến kịp các huyện vùng xuôi trong xu thế phát triển của quốc gia và khu vực.
Đề án về công tác xã hội hoá giáo dục ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn
giữ vai trò, ý nghĩa rất to lớn đối với công tác lãnh đạo và chỉ đạo của người
hiệu trưởng tiểu học bao gồm các mục đích sau:
- Phát triển và nâng cao nhu cầu về giáo dục trong cộng đồng dân cư, từ đó
có tác động tích cực trong việc tự giác của chính quyền và đoàn thể, của mỗi
người dân trong việc tham gia đóng góp nội lực để xây dựng trường sở, huy
động con em tới trường, duy trì số lượng học sinh và trên hết là cùng nhà
trường ngày một nâng cao chất lượng dạy và học.
- Nâng cao thời lượng học tập và giáo dục tại trường.
- Bảo đảm nâng cao chất lượng dạy và học các tiết học và buổi học.
- Giúp hiệu trưởng có cơ sở thực tiễn để xây dựng kế hoạch đúng đắn, phù
hợp, hiệu quả mà không để cho trí tưởng tượng bay bổng. Đề ra những chỉ tiêu,
những biện pháp vừa sức, trong tầm tay. Tạo được niềm tin ở khả năng thực
hiện của mọi thành viên trong tập thể sư phạm, trong lãnh đạo chính quyền,
đoàn thể địa phương và của mỗi người dân.
- Từng bước đưa các phương tiện kỹ thuật vào nhà trường, làm giảm nhẹ
lao động sư phạm, lao động quản lý và những cán bộ giúp việc.
- Tạo ra nhà trường văn minh, sạch, đẹp trong cơ sở vật chất, trong quan
hệ, làm cho học sinh yêu trường, yêu thầy, mến bạn, thêm ham thích hoạt động.
4
- Tạo sự phân công, phân cấp cụ thể, tạo đủ quyền hạn và ý thức trách
nhiệm của những người cộng sự.
- Giúp hiệu trưởng vạch được kế hoạch, tham mưu có hiệu quả, đề ra được
lộ trình và bước đi thích hợp trong từng giai đoạn. Cũng từ đây, hy vọng sẽ đẩy
nhanh hơn một bước để xây dựng nhà trường đạt chuẩn. Góp phần xây dựng
bậc học “ổn định, lành mạnh và phát triển”.
Chương I
toàn dân.
1.2 Vai trò của việc nâng cao chất lượng giáo dục trong thời kỳ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, công tác xã hội
hoá giáo dục giữ vai trò rất quan trọng:
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xu hướng phát triển của các nước trên
thế giới. Đó cũng là con đường phát triển tất yếu của nước ta để đi lên mục tiêu
"Xã hội công bằng văn minh, dân giàu nước mạnh" công nghiệp hoá, hiện đại
hoá không chỉ là công cuộc xây dựng kinh tế mà chính là quá trình biến đổi
cách mạng sâu sắc với lĩnh vực đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, khoa học của
con người…) làm cho xã hội phát triển lên một trạng thái mới về chất. Sự thành
công của quá tình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi ngoài môi trường chính
trị ổn định, phải có nguồn lực cần thiết như nguồn lực con người, vốn tài
nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật. Các nguồn lực này quan hệ chặt chẽ
với nhau. Cùng tham gia vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhưng
mức độ tác động vào vai trò của chúng đối với toàn bộ quá trình công nghiệp
hoá hiện đại hoá không giống nhau, trong đó nguồn nhân lực phải đủ về số
lượng, mạnh về chất lượng. Nói cách khác nguồn nhân lực phải trở thành động
lực phát triển. Nguồn nhân lực phát triển thì tất yếu công nghiệp hoá, hiện đại
hoá phải tiến hành để đáp ứng nhu cầu đó.
Để thực hiện thành công quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, chúng ta phải sử dụng đúng nguồn lực trong đó nguồn lực con người là
nguồn lực quan trọng nhất. Để tạo ra sự thay đổi căn bản về chất lượng trong
nguồn lực con người cần có hàng loạt những giải pháp thích ứng nhằm phát
triển tốt yếu tố của con người trong sự nghiệp đi lên của đất nước.
Chăm sóc đào tạo phát huy nguồn lực con người phục vụ cho công cuộc
công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Vấn đề con người trong công cuộc đổi mới vì công nghiệp hoá, hiện đại
hoá tập trung thành vấn đề quan trọng bậc nhất trong "kết cấu hạ tầng xã hội,
6
+ Sự độc quyền của Nhà nước trong cung cấp dịch vụ truyền thống bị
giảm đi;
Như vậy, xã hội hoá thực chất là một quá trình huy động nguồn lực
trong xã hội để phát triển các dịch vụ công và làm cho nhiều người hơn được
7
hưởng lợi từ các dịch vụ đó cũng như chịu trách nhiệm nhiều hơn khi sử dụng
dịch vụ.
Trong điều kiện nền kinh tế kế hoạch tập trung, người dân tham gia vào
các hoạt động giáo dục do Nhà nước quản lý rất hạn chế. Tuy nhiên, cũng phải
thừa nhận rằng trong thời gian đó, doanh nghiệp nhà nước giúp được nhiều hơn
đối với giáo dục trong việc tạo cơ sở cho học sinh thực tập mà không phải trả
bất cứ khoản chi phí nào.
Đến ngày nay, người dân lại có điều kiện để tham gia vào quá trình giáo
dục và tổ chức giáo dục nhiều hơn. Xã hội hoá giáo dục không chỉ là những
đóng góp vật chất mà cả những ý kiến góp ý của người dân cho quá trình đổi
mới giáo dục. Xã hội hoá giáo dục là cách tiếp cận mang tính dân chủ nhiều
hơn.
Như vậy, có thể xem xã hội hoá giáo dục là sự huy động nguồn lực trong
xã hội để làm giáo dục, để đấu tranh với nghèo nàn và lạc hậu, là tạo điều kiện
tốt hơn cho người dân được hưởng dịch vụ giáo dục có chất lượng và nhiều cơ
hội học tập, đóng góp sáng kiến với giáo dục Ngược lại, lạm dụng cái gọi là
xã hội hoá để huy động tối đa đóng góp người dân, chuyển gánh nặng ngân
sách sang cho người dân, trong khi chất lượng dịch vụ không tăng tương xứng,
ngân sách dành cho giáo dục cắt giảm là không đúng với chính sách của Đảng
và Nhà nước trong xã hội hoá giáo dục. Đã không ít nhà trường chỉ hiểu một
chiều về sự đóng góp của người dân, “tăng thu” các kiểu phí trong nhà trường
và một số người đã lên tiếng phê phán mang tính một chiều của chủ trương xã
hội hoá .
Một số nước phát triển cũng huy động sự đóng góp của lĩnh vực tư cho
giáo dục, đặc biệt giáo dục đại học dưới dạng hiến tặng (endowment) với số tiền
cường trách nhiệm của cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp, các tổ chức đoàn thể,
tổ chức kinh tế - xã hội, cá nhân đối với giáo dục.
- Đa dạng hoá các loại hình giáo dục.
- Tăng cường đầu tư từ nguồn ngân sách, khai thác triệt để và sử dụng có
hiệu quả các nguồn lực trong xã hội để phát huy giáo dục.
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới Giáo dục phổ thông cần phải có cơ sở vật chất
đạt chuẩn để đảm bảo việc dạy và học trong nhà trường.
Vậy xã hội hóa giáo dục là gì? Nói một cách nôm na, đó cũng chỉ là một
trong những phương cách để nhà nước thực hiện nhiệm vụ hiến định là tạo điều
kiện cho con em của mọi tầng lớp trong xã hội đều được đến trường và mọi cái
gì cản trở nó đều không phải xã hội hóa giáo dục. Nói cách khác, xã hội hóa
giáo dục (hay không xã hội hóa) dù kiểu nào đi chăng nữa đều phải nhằm đạt
được những mục tiêu thiết yếu của giáo dục và nhà nước, trong mọi trường hợp,
luôn luôn phải chịu trách nhiệm chính, không thể chuyển giao trách nhiệm của
mình cho ai khác. Càng không thể lợi dụng xã hội hóa để biến giáo dục, nhiệm
vụ chính danh của nhà nước, thành một ngành kinh doanh lấy lợi nhuận làm
mục tiêu thay thế.
9
Điển hình cho quan niệm như trên về phát triển giáo dục là CHLB Đức.
Học sinh, sinh viên ở đây từ cấp phổ thông đến đại học đều được hưởng chế độ
miễn học phí. Ngoài ra, riêng những học sinh, sinh viên nghèo (không đủ điều
kiện vật chất sống tối thiểu) còn được nhà nước trợ cấp, “bù” thêm tài chính để
họ có thể an tâm sống và học tập. Ngoài hệ thống trường công lập, tại Đức có
tới 2.500 trường tư. Trong số ấy, theo quy định của pháp luật, bất kỳ trường tư
nào được nhà nước công nhận văn bằng có giá trị tương đương trường công thì
nhà nước có nghĩa vụ cung cấp toàn bộ tài chính cho hoạt động của trường đó.
Điều này cho thấy giáo dục trong mọi trường hợp là nhiệm vụ không thể tách
rời của nhà nước, kể cả khi giáo dục được xã hội hóa và cho tư nhân tham gia.
Tuy nhiên, không nên hiểu xã hội hóa giáo dục một cách đơn giản dưới
góc độ huy động nguồn vốn đầu tư mà phải mở rộng ra nhiều góc độ, phạm vi
các xã, trường trung học cơ sở có ở xã hoặc cụm liên xã, trường trung học phổ
thông có ở tất cả các huyện. Các tỉnh và nhiều huyện miền núi đã có trường nội
trú và bán trú cho con em các dân tộc thiểu số.
2.1.2 Chất lượng giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo đã có tiến
bộ. Nội dung dạy học và kiến thức của học sinh phổ thông đã toàn diện hơn.
Trình độ hiểu biết, năng lực tiếp cận tri thức mới của một bộ phận học sinh
được nâng cao. Trong những năm gần đây, công tác quản lý chất lượng đã đặc
biệt được chú trọng. Đã hình thành các tổ chức chuyên trách về đánh giá và
kiểm định chất lượng. Các trường phổ thông chất lượng cao được hình thành ở
nhiều địa phương.
Đồng thời với sự đổi mới chương trình, sách giáo khoa và tài liệu dạy học
theo Nghị quyết 40/2000/QH của Quốc hội, phương pháp giáo dục ở các nhà
trường đã bước đầu được đổi mới theo tinh thần phát huy tính năng động, chủ
động và tích cực của người học, đồng thời tăng cường ứng dụng công nghệ
thông tin vào quá trình dạy và học. Chuẩn nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên ở
các cấp học và trình độ đào tạo đã và đang được xây dựng làm cơ sở cho việc
đánh giá và bồi dưỡng giáo viên theo chuẩn.
2.1.3 Tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước đã được công nhận chuẩn
quốc gia về xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và đang thực hiện phổ cập
trung học cơ sở. Đến 12/2008 đã có 42/63 tỉnh, thành phố (67%) đạt chuẩn phổ
cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; 47/63 tỉnh (74,6%) đạt chuẩn phổ cập giáo
dục trung học cơ sở. Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết chữ của cả nước là 94%;
số năm học trung bình của dân số từ 15 tuổi trở lên là 9,6. Sự khác biệt về trình
độ học vấn giữa nam và nữ ngày càng được thu hẹp. Về cơ bản nước ta đã đạt
được sự bình đẳng nam nữ trong giáo dục cơ bản.
2.1.4 Công tác xã hội hoá giáo dục và việc huy động nguồn lực cho giáo
dục đã đạt được những kết quả bước đầu. Các lực lượng xã hội tham gia ngày
càng tích cực vào việc huy động trẻ đến trường, giám sát, đánh giá và hiến kế
cho giáo dục, xây dựng cơ sở vật chất trường học, đầu tư mở trường, đóng góp
11
Chương trình phát triển Liên hiệp quốc trong những năm gần đây có những
tiến bộ đáng kể: từ 0,688, xếp thứ 109 trong số 174 quốc gia vào năm 2000 đã
tăng lên 0,733, xếp thứ 105 trong số 177 quốc gia vào năm 2005. Những thành
tựu của giáo dục đã và đang góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế-xã
hội, giữ vững an ninh chính trị của đất nước trong hơn 20 năm đổi mới, tạo
điều kiện cho đất nước tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế.
12
Sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo điều hành của Chính phủ và chính quyền
các cấp, sự quan tâm, tham gia đóng góp của các tổ chức kinh tế-xã hội và toàn
dân đối với giáo dục đã góp phần quyết định cho sự thành công của sự nghiệp
giáo dục.
Sự ổn định chính trị, những thành quả phát triển kinh tế, cải thiện đời sống
nhân dân của thời kỳ đổi mới đã tạo môi trường với các điều kiện thuận lợi cho
phát triển giáo dục. Đầu tư cho giáo dục trong tổng chi ngân sách nhà nước đã
liên tục tăng qua các năm.
Lòng yêu nước, yêu người, yêu nghề, sự nỗ lực của đội ngũ nhà giáo và
quyết tâm đổi mới của ngành giáo dục đào tạo đã góp phần quan trọng thực
hiện nhiệm vụ giáo dục. Các giáo viên và cản bộ quản lý công tác ở mọi miền tổ
quốc, đặc biệt ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa đã vượt qua mọi khó khăn, thử
thách to lớn, đóng góp công sức vào sự nghiệp trồng người.
Truyền thống hiếu học của dân tộc được phát huy mạnh mẽ, thể hiện trong
từng gia đình, từng dòng họ, từng cộng đồng dân cư. Nhân dân đã không tiếc
công sức, tiền của đầu tư và khuyến khích động viên con em vượt khó, chăm
chỉ học tập, hỗ trợ và tạo điều kiện dạy tốt, học tốt cho các nhà trường.
2.2 Những tồn tại trong công tác xã hội hoá giáo dục ở nước ta hiện nay
Mặc dù đã đạt được một số thành tựu cơ bản nhưng giáo dục nước ta vẫn
còn những bất cập và yếu kém:
Cơ sở vật chất kỹ thuật nhà trường còn thiếu thốn và lạc hậu. Mặc dù tình
hình cơ sở vật chất kỹ thuật nhà trường trong những năm gần đây đã có nhiều
cải thiện rõ rệt nhưng tính đến năm 2007 vẫn còn 11% số lớp học ở tình trạng
nước cho giáo dục còn thiếu hiệu quả, chưa tập trung cao cho những mục tiêu
ưu tiên. Cơ cấu chi ngân sách giáo dục chưa hợp lý, trong đó phần chi cho hoạt
động chuyên môn là không đáng kể.
Những tác động khách quan làm tăng thêm những yếu kém bất cập của
giáo dục
Quá trình hội nhập quốc tế đã mang tới những cơ hội lớn nhưng cũng mang
đến nhiều thách thức lớn đối với giáo dục. Trong xã hội, chủ nghĩa hình thức,
hám danh vọng còn nặng nề; tâm lý khoa cử, bằng cấp vẫn chi phối mạnh việc
dạy, học và thi cử. Mặt trái của kinh tế thị trường đã có nhiều ảnh hưởng tiêu cực
đến giáo dục. Nhu cầu học tập của nhân dân ngày càng cao trong khi khả năng
đáp ứng của ngành giáo dục và trình độ phát triển kinh tế của đất nước còn hạn
chế. Sức đón nhận của thị trường lao động còn hạn hẹp, chưa đáp ứng nhu cầu
việc làm của người lao động đã qua đào tạo.
Do thời gian duy trì cơ chế tập trung quan liêu bao cấp quá dài, nảy sinh tư
tưởng trông chờ ỷ lại quá lớn trong nhân dân kể cả chính quyền các cấp, sự bứt
phá, dám nghĩ, dám làm còn hạn chế. Do đó công tác xã hội hoá nói chung, công
tác xã hội hoá giáo dục nói riêng còn quá nhiều bất cập.
14
Chương II
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC VÙNG SÂU, VÙNG CAO TÂN HỢP
1 - Đặc điểm tình hình
1.1 Tình hình địa phương
Tân Hợp là xã cùng cao nằm phía Bắc của huyện miền núi Tân Kỳ. Xã có
chiều dài là 13km, chiểu rộng 7km, diện tích tự nhiên là 6.775 ha. Trong đó
diện tích canh tác nông nghiệp là 1703 ha, đất lâm nghiệp 4399 ha, đất phi nông
nghiệp 129 ha, đất chuyên dùng 42 ha. Là một xã ở độ cao hơn hẳn so với các
xã khác tại huyện Tân Kỳ, lại gần như là biệt lập với các xã xung quanh. Nói là
biệt lập bởi vì Tân Hợp ngăn cách với các xã xung quanh toàn là các dãy núi
cao, như ngăn cách với xã Giai Xuân bởi dãy Rú Nàn, ngăn cách với xã Châu
Lý huyện Quỳ Hợp bởi dãy Bù Tro (có ngọn cao 720m so với mực nước biển),
làm cho đường càng xuống cấp nhiều, nắng khấp khểnh, mưa xập xình. Làm
cho Tân Hợp gặp rất nhiều khó khăn, có thể là bậc nhất của huyện nếu không
được sớm đầu tư về tiền vốn và công sức đáng kể của nhà nước và sự nỗ lực
vượt bậc về trí tuệ và sức người của Đảng bộ và nhân dân Tân Hợp.
Theo điều tra xã hội học, Tân Hợp chiếm khoảng 93% là đồng bào dân
tộc Thổ thuộc nhóm Việt - Mường cư trú lâu đời tại địa phương. Số còn lại là
đồng bào miền xuôi lên lập nghiệp.
Xã có 8 xóm bản, cách nhau từ 3 - 4 km, từ trung tâm xã đi xóm xa nhất
là 8 km.
Đất nước sau 20 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam đã làm cho bộ mặt kinh tế, xã hội của nước ta thay đổi căn bản. Tình trạng
đói nghèo triền miên đã bị đẩy lùi, chính trị ổn định, môi trường xã hội lành
mạnh. Nhân dân phấn khởi làm ăn và đã có của ăn, của để. Từng bước vươn lên
làm giàu, con em có điều kiện để học hành, được chăm sóc, nuôi dạy ngày càng
tốt hơn. Vùng cao cũng chính nhờ đó mà ngày càng thay đổi, khác xa những
năm của thập kỷ 90. Đường sá ô tô đã vào tận trung tâm xã mà nhiều vùng
trước đó những người dân gần trọn cuộc đời họ không giám mơ ước. Nhờ sự
quan tâm của nhà nước, nhiều chương trình, dự án mang tầm quốc gia đã được
đầu tư cho vùng cao, như chương trình 135, chương trình CBRIP, dự án
RAICA Điện, đường, trường, trạm được xây dựng khang trang, hiện đại. Đời
sống nhân dân được cải thiện đáng kể.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Tân Hợp, đời sống nhân dân Tân Hợp đã
có nhiều khởi sắc. Hộ nghèo đã được giảm xuống nhanh chóng, thu nhập của
nhân dân ngày càng cao hơn. Vì vậy đã góp phần làm cho bộ mặt xã hội tại địa
phương cũng có nhiều đổi thay rõ rệt. Văn hoá, tinh thần ngày càng phát triển,
nhân dân ngày càng quan tâm nhiều hơn đến vấn đề nâng cao dân trí, chăm lo
nhiều hơn công tác giáo dục và đào tạo.
16
Tuy nhiên, so với mặt bằng chung, Tân Hợp vẫn là xã nghèo, xã đặc biệt
khó khăn nhất của huyện. Nếu như nhân dân Nghĩa Đồng, Nghĩa Thái hàng
Trường có đủ các tổ chức đoàn thể, hoạt động thường xuyên theo đúng điều lệ,
chức năng và nhiệm vụ của từng tổ chức. Chi bộ đảng của trường có 34 đảng
17
viên, sinh hoạt và lãnh đạo nhà trường theo đúng Điều lệ Đảng cộng sản Việt
nam. Hàng năm chi bộ luôn đạt danh hiệu chi bộ trong sạch vững mạnh, 100%
đảng viên được xếp loại đủ tư cách hoàn thành nhiệm vụ. Chi đoàn thanh niên
hoạt động có hiệu quả, là nòng cốt trong các phong trào thi đua của nhà trường.
Liên đội thiếu niên và các sao nhi đồng hoạt động thường xuyên và có nhiều
hoạt động bổ ích trong công tác giáo dục và chăm sóc thiếu niên nhi đồng.
Công đoàn nhà trường hoạt động theo đúng Luật công đoàn và theo sự chỉ đạo
của công đoàn cấp trên, 4 năm liền đạt Công đoàn cơ sở vững mạnh. Các tổ
chức và hội đồng trong nhà trường phối hợp nhịp nhàng trong hoạt động đã góp
phần làm cho nhà trường thực hiện tốt các nhiệm vụ giáo dục và giảng dạy. Quy
chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường được thực hiện tốt.
+ Về đội ngũ giáo viên:
- Tổng số giáo viên : 41 người.
- Số giáo viên đảm bảo đủ về số lượng và cơ cấu. Trong tổng số giáo viên
trực tiếp đứng lớp: có 40 người / 32 lớp, tỷ lệ 1,28 giáo viên trên một lớp, có
giáo viên Tổng phụ trách chuyên trách và 01 giáo viên phụ trách Thư viện -
Thiết bị (do trường tự hợp đồng), đã qua tập huấn và bồi dưỡng nghiệp vụ.
- Trình độ đào tạo của giáo viên:
Tổng số 41/41 giáo viên có trình độ đào tạo đạt chuẩn, trong đó có 27
giáo viên trình độ vượt chuẩn, chiếm tỉ lệ: 65,8 %.
Cụ thể trình độ đào tạo của giáo viên như sau:
+ Đại học: 14 người = 34,1 %.
+ Cao đẳng: 13 người = 31,7 %.
+ Trung học: 14 người = 34,1 %.
- Số giáo viên dạy giỏi cấp huyện, cấp tỉnh:
Có 4/41 giáo viên đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp huyện;
đạt tỉ lệ: 19,51 %.
/ 01 học sinh.
- Thư viện có diện tích 54m
2
, có các loại sách tham khảo, sách nghiệp vụ,
sách giáo khoa phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập nghiên cứu với tổng
số sách là 897 cuốn.
- Có các phòng chức năng phục vụ cho hoạt động của nhà trường.
Bao gồm:
+ Phòng Hội đồng sư phạm: 42 m
2
.
+ 2 phòng P.Hiệu trưởng: 56 m
2
.
+ Phòng đoàn đội: 24 m
2
.
- Phương tiện trong lớp học:
43,7% số phòng học đã được xây dựng chuẩn hoá, có đủ bàn ghế cho
giáo viên và học sinh theo đúng quy cách. Phòng học có đủ ánh sáng và được
trang trí theo đúng quy định.
- Thiết bị giáo dục:
Có các trang thiết bị giáo dục đầy đủ theo danh mục tối thiểu của Bộ
Giáo dục và Đào tạo quy định. Có các thiết bị nghe nhìn, nhạc cụ, các bộ thiết
bị mô hình, tranh ảnh dùng chung cho tất cả các khối lớp.
- Điều kiện vệ sinh.
Nhà trường được đặt ở trung tâm xã, địa thế bằng phẳng, cao ráo và
thoáng mát thuận tiện cho học sinh tới trường học tập.
Trường có công trình vệ sinh, có cổng, biển trường, tường bao và bờ rào
cây sống bảo vệ. Không có hàng quán trong khu vực nhà trường. Các điều kiện
+ Tổng số còn học ở các lớp tiểu học: 25 em.
+ Số hoàn thành chương trình tiểu học: 66 em
20
+ Bỏ học: 3 em
- Tỷ lệ huy động và duy trì số trẻ 6 đến 14 tuổi ra học các lớp tiểu học:
Huy động: 819/ 829, đạt 98,8%.
- Duy trì sĩ số hàng năm đạt 99,4 %.
Chất lượng và hiệu quả giáo dục
- Tỉ lệ học sinh lên lớp thẳng toàn trường đạt 93,32 %.
- Tỉ lệ học sinh lớp 5 hoàn thành chương trình bậc tiểu học:
86/91 = 94,5%.
- Kết quả học sinh được đánh giá nhận xét việc thực hiện đầy đủ nhiệm
vụ của học sinh:
- Kết quả chung toàn trường: 386 học sinh = 95,3 %.
Học lực:
- Môn Tiếng Việt:
Loại giỏi: 10 tỷ lệ = 2,5 % ; Loại Khá: 123 tỷ lệ = 30,4 % ;
Loại TB: 193 tỷ lệ = 47,7 % ; Loại Yếu: 77 tỷ lệ = 19,0 %
- Môn Toán:
Loại Giỏi: 21 tỷ lệ = 5,2 % ; Loại Khá: 121 tỷ lệ = 29,9 % ;
Loại TB: 174 tỷ lệ = 43,0 % ; Loại Yếu: 87 tỷ lệ = 21,5%.
- Môn Khoa học: (Số HS khối 4,5: 194 , trong đó khuyết tật: 15)
Loại Giỏi: 26 tỷ lệ = 14,5% ; Loại Khá: 64 tỷ lệ = 35,8% ;
Loại TB: 84 tỷ lệ = 46,9% ; Loại Yếu: 5 tỷ lệ = 2,8%.
- Môn Lịch sử + Địa lý
Loại Giỏi: 36 tỷ lệ = 20,1% ; Loại Khá: 90 tỷ lệ = 50,3%
Loại TB: 52 tỷ lệ = 29,1% ; Loại Yếu: 1 tỷ lệ = 0,6%.
* Nguyên nhân của những kết quả trên
Sự quan tâm lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng uỷ - HĐND - UBND xã Tân
Hợp đối với nhà trường, nhân dân tin tưởng. Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo
được nâng lên nhưng vẫn còn chậm. Quy mô, mạng lưới trường lớp, điều kiện
cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học chưa đáp ứng yêu cầu với việc đổi mới
phương pháp dạy; trình độ năng lực của một bộ phận giáo viên còn bất cập so
với yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông; một số giáo viên chưa biết vận dụng
tiếng dân tộc thiểu số trong giảng dạy nên hạn chế trong việc truyền thụ kiến
thức cho học sinh; nhiều ngành, địa phương, hộ gia đình chưa thật sự quan tâm
đến công tác giáo dục, chưa coi công tác giáo dục là quốc sách hàng đầu.
22
Nhân dân trên địa bàn xã chủ yếu là thuần nông, kinh tế phụ thuộc vào
mùa vụ, điều kiện vật chất thiếu thốn. Nhà trường thì thiếu các phòng chức
năng, một số phòng học khi trời mưa, gió to không học được, cơ sở vật chất
xuống cấp, không đủ chuẩn. Diện tích sân chơi không đảm bảo, chưa đáp ứng
được yêu cầu dạy và học…
Trong mấy năm nay, giáo dục tiểu học Tân Hợp đã đạt được những tiến
bộ căn bản, so với xuất phát điểm. Tuy nhiên, những cái đã đạt được, xem ra
giữa vùng cao Tân Hợp so với miền xuôi, hoặc với các xã thuận lợi trong huyện
vẫn có một sự chênh lệch. Trẻ học đúng độ tuổi càng lên lớp trên càng chênh
lệnh so với miền xuôi, do một số em bỏ học hoặc phải lưu ban. Hiệu quả đào
tạo là tỷ lệ biểu thị: Trong tổng số trẻ em vào lớp 1, số % được công nhận hoàn
thành chương trình tiểu học sau 5 năm (số còn lại hoặc đã bỏ học dở chừng
hoặc đang lưu ban ở các lớp dưới). Tính tại thời điểm tháng 9 năm 2008 ở Tân
Hợp là 73,3% và của Thị trấn là 99,3%, của Tân Phú là 98,2%.
Trên thực tế, việc xếp loại học sinh đạt mức trung bình, khá, giỏi tại các
nhà trường thường chỉ có ý nghĩa so sánh tương đối trong mỗi trường, mỗi
vùng. Vì thế xin không so sánh chất lượng học của học sinh Tân Hợp với các
trường khác, chính do điều kiện kinh tế - xã hội, điều kiện về giao thông, về
mọi mặt của đời sống xã hội đã quyết định tỷ lệ cao thấp của trẻ em học đúng
độ tuổi, của hiệu quả đào tạo và của trẻ em thất học.
- Vấn đề căn bản và bao trùm là: Kinh tế - xã hội của địa phương trong
mấy năm qua đã có sự tiến bộ rất nhiều, thế nhưng sự chuyển biến đó ở miền
theo chương trình 135 của Chính phủ, còn lại 5 phân hiệu đang là phòng học
cấp 4B xuống cấp, bàn ghế cho giáo viên, cho học sinh thiếu lại không đúng
quy chuẩn, Từ đó tính kích thích thi đua và phấn đấu học tập tất yếu còn thấp,
trong khi đó nhà ở cho giáo viên đã hẹp, nhỏ lại phải dồn 2 - 3 người cho 1
phòng làm cho giáo viên thiếu tâm huyết phấn đấu.
Điều kiện về nguồn nước sinh hoạt cũng rất khó khăn, nguồn nước cả xã
Tân Hợp hầu hết ô nhiễm vôi, mùa khô thiếu nước sinh hoạt từ 3 đến 4 tháng.
Nguồn nước ở đây muốn ăn uống phải đun sôi 2-3 lần để lọc mới dùng được.
Trong khi đó thực hiện chính sách hưởng tiền vận chuyển nước ngọt của Chính
phủ thì giáo viên Tân Hợp chỉ được cấp theo vùng thiếu nước theo mùa, mỗi
năm 3 tháng là không hợp lý.
2.3 - Những vấn đề đặt ra cần giải quyết
- Ổn định quy mô trường lớp;
- Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, bao gồm: hệ thống phòng
học, phòng chức năng, sân chơi, bãi tập, trang thiết bị dạy và học. Xây dụng thư
viện đạt chuẩn, công trình vệ sinh đảm bảo theo quy định. Tập trung cao độ để
trong thời gian sớm nhất đạt chuẩn quốc gia mức độ 1.
- Xây dựng đội ngũ giáo viên đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, tăng
cường đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng đại trà, chất lượng
24
mũi nhọn, sớm đưa nhà trường đạt chất lượng tối thiểu theo quy định của Bộ
Giáo dục và Đào tạo.
- Tăng cường quản lý sĩ số học sinh, dạy học đảm bảo chất lượng, sớm
đưa xã nhà đạt chuẩn Quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và
phổ cập giáo dục trung học cơ sở trên địa bàn.
- Tăng cường công tác xã hội hoá giáo dục:
Nhà trường phối hợp với cộng đồng tổ chức Đại hội Giáo dục cấp cơ sở
theo định kỳ với nội dung thiết thực.
Nhà trường đóng vai trò nòng cốt trong Hội đồng Giáo dục cấp cơ sở, chủ
động đề xuất những biện pháp cụ thể nhằm thực hiện chủ trương và kế hoạch do