Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện nghĩa đàn, tỉnh nghệ an trong giai đoạn hiện nay - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM THỊ HUYỀN
GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NGHĨA ĐÀN, TỈNH NGHỆ
AN
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
1
NGHỆ AN - 2014
NGHỆ AN - 2014
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM THỊ HUYỀN
GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NGHĨA ĐÀN, TỈNH NGHỆ
AN
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
BỘ MÔN CHÍNH TRỊ
MÃ SỐ: 60140111
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học
TS. TRẦN VIẾT QUANG
1
NGHỆ AN - 2014

CNXH : Chủ nghĩa xã hội
GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo
KHCNMT : Khoa học công nghệ môi trường
MN : Mầm non
MT : Môi trường
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
TNMT : Tài nguyên môi trường
TNTT : Tài nguyên thiên nhiên
TTGDTX : Trung tâm giáo dục thường xuyên
3
DANH MỤC BẢNG
Trang
4
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Môi trường, bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan
hệ mật thiết với nhau bao quanh con người, ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự
tồn tại và phát triển của con người. Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối
với đời sống con người và sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, dân
tộc. Ph.Ăngghen từng khẳng định: “Bản thân con người là sản phẩm của giới tự
nhiên, con người tồn tại trong môi trường tự nhiên và cùng phát triển với môi
trường tự nhiên”.
Thế nhưng hiện nay môi trường ở nước ta đang bị hủy hoại nghiêm trọng
gây nên sự mất cân bằng sinh thái. Sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên và ô nhiễm
môi trường cũng đã, đang diễn ra và ảnh hưởng đến cuộc sống của con người
một cách rất rõ ràng, đặc biệt là ở khu vực châu Á Thái Bình Dương - nơi cư trú
của hơn 4 tỷ người như tình trạng: Ô nhiễm không khí, nguồn nước, hạn hán,
bão lũ ảnh hưởng rất lớn đến đời sống vật chất và tinh thần của con người.
Sự phát triển của khoa học, công nghệ và quá trình công nghiệp hóa, đô thị

kiện Đại hội lần thứ VI, VII, VIII, IX, X, XI. Trong văn kiện Đại hội X, Đảng ta
đã khẳng định: “Coi trọng việc thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ bảo vệ môi
trường trong mọi hoạt động kinh tế, xã hội ”. Văn kiện Đại hội lần thứ XI xác
định: Bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, chủ động ứng phó có hiệu quả
với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai phải nâng cao ý thức bảo vệ môi
trường, gắn nhiệm vụ, mục tiêu bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế - xã
hội.
Vấn đề về môi trường, bảo vệ môi trường được đề cập trong các Nghị
quyết, Chỉ thị, Quyết định của Đảng và Nhà nước như:
7
Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về: Tăng cường
công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước; Quyết định
1363 QĐ - TTg ngày 17/10/2001 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt đề
án: Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Quyết định này nhằm đưa ra nội dung phương hướng giáo dục bảo vệ môi
trường một cách toàn diện từ bậc mầm non đến bậc học THPT; Quyết định số
256/2003/QĐ-TTg ngày 2/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ về chiến lược bảo
vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020. Đặc biệt
Nghị quyết số 41 NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi
trường trong thời kỳ CNH, HĐH. Các Quyết định, Chỉ thị đã đưa ra những quan
điểm, định hướng cơ bản, góp phần tạo sự chuyển biến mạnh mẽ từ các cấp các
ngành và nhân dân do đó mức độ suy thoái, ô nhiễm môi trường đã từng bước
được hạn chế. Đồng thời Chỉ thị, Nghị quyết cũng đã đánh giá mức độ và hiệu
quả đạt được của quá trình triển khai. Từ đó Chỉ thị Nghị quyết đã đề ra những
giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế và nâng cao hiệu quả của công tác
giáo dục ý thức bảo vệ môi trường.
Vấn đề bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên, ứng phó với biến đổi
khí hậu được đề cập trong các Quyết định, Nghị quyết gần đây như:
Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 5/9/2012 phê duyệt chiến lược bảo vệ
môi trường quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Quyết định số

trường, tài nguyên” - Nhà xuất bản giáo dục năm 2001. Tác giả Phạm Thị Ngọc
Trầm, “Môi trường sinh thái - vấn đề và giải pháp” - Nxb Chính trị Quốc gia.
Nhóm tác giả Phan Nguyên Hồng, Trần Thị Thu Hương, Nguyễn Phương Nga,
“Hỏi đáp về môi trường” - Nxb Giáo dục năm 2005. Tác giả Lê văn Khoa, “Môi
trường và ô nhiễm” - Nxb Giáo dục năm 2005. Tác giả Phạm Hồng Ban - “Bài
giảng môi trường và con người” - Trường Đại Học Vinh năm 2008. Tác giả
9
Nguyễn Thị Phương Thảo, năm 2009 Luận văn Thạc sĩ Khoa học Giáo dục,
Trường Đại Học Vinh “Những giải pháp cơ bản tăng cường giáo dục ý thức bảo
vệ môi trường cho thanh niên phường Cửa Nam và Đông Vĩnh ở thành phố
Vinh, tỉnh Nghệ An”. Tác giả Dương Thị Hiệp, năm 2012, Luận văn Thạc sĩ
Khoa học Giáo dục, Trường Đại Học Vinh “Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường
cho học sinh THPT ở huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp”.
Như vậy, chúng ta thấy mặc dù vấn đề về môi trường và giáo dục ý thức
bảo vệ môi trường đã được Đảng, Nhà nước và ngành GD&ĐT hết sức quan
tâm và cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu nhưng do đặc điểm điều kiện tự
nhiên, điều kiện kinh tế xã hội của mỗi vùng miền khác nhau nên công tác
giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong thời gian qua chưa làm cho học sinh
hiểu biết một cách sâu sắc và đầy đủ về chủ trương chính sách của Đảng và pháp
luật của Nhà nước, cũng như kiến thức về môi trường để các em có thể tự giác
thực hiện. Hiện nay công tác giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh
THPT trên địa bàn tỉnh Nghệ An nói chung và học sinh THPT trên địa bàn
huyện Nghĩa Đàn nói riêng chưa có tác giả nào đề cập đến.
Trên cơ sở các công trình nêu trên, tác giả tiếp tục nghiên cứu đề tài của
mình, qua đó giúp học sinh THPT trên địa bàn tỉnh Nghệ An nói chung và học
sinh huyện Nghĩa Đàn nói riêng hiểu biết sâu sắc bản chất của vấn đề bảo vệ
môi trường, từ đó nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, biết bảo vệ, giữ gìn và sử
dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên để có thể góp phần tham gia có
hiệu quả việc phòng ngừa và giải quyết các vấn đề về môi trường.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu, khảo sát vấn đề giáo dục ý thức bảo vệ môi
trường cho học sinh khối 10 và khối 11 của các trường THPT trên địa bàn huyện
Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.
6. Ý nghĩa của luận văn
11
- Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc giáo dục ý
thức bảo vệ môi trường cho học sinh THPT.
- Luận văn còn góp phần làm rõ thực trạng ý thức bảo vệ môi trường của
học sinh THPT ở huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham
khảo cho công tác giáo ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh THPT trong
giai đoạn hiện nay.
7. Giả thuyết khoa học
Nếu làm rõ được cơ sở lý luận, thực tiễn và đề ra được các giải pháp phù
hợp sẽ góp phần nâng cao được ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh ở các
trường THPT trên địa bàn huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An nói riêng và ở các
trường THPT khác trong cả nước nói chung.
8. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài
gồm 2 chương, 4 tiết.
12
B. NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC Ý THỨC
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG Ở HUYỆN NGHĨA ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
1.1. Cơ sở lý luận của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học
sinh trung học phổ thông
1.1.1. Môi trường và ý thức bảo vệ môi trường
1.1.1.1. Khái niệm môi trường

Vinh. Môi trường là: “Tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh
sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước,
ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội ” [2;3]. Tóm lại, môi trường là tất cả
những gì có sung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển. Môi trường sống
của con người được chia thành:
- Môi trường tự nhiên: Bao gồm các yếu tố thiên nhiên như, mặt trời, khí
quyển, thời tiết, khí hậu, biển cả, sông ngòi, ao, hồ, đồi núi, đất đai, động thực
vật, vi sinh vật, con người Môi trường này tồn tại khách quan độc lập với ý
thức của con người nhưng ảnh hưởng đến cuộc sống của con người. Mọi hoạt
động hàng ngày của con người đều liên quan đến môi trường như: Ăn, uống, hít
thở không khí, nhà ở, điều kiện vui chơi giải trí Như C.Mác nói: Về mặt thể
xác con người chỉ sống bằng những sản phẩm tự nhiên ấy, dù là dưới hình thức
thực phẩm, nhiên liệu, áo quần, nhà ở Về mặt thực tiễn tính phổ biến của con
14
người biểu hiện ra ở chính cái phổ biến toàn bộ giới tự nhiên thành thân thể vô
cơ của con người. Như vậy môi trường tự nhiên gắn liền với cuộc sống của con
người chi phối mọi hoạt động của con người, tách khỏi môi trường ấy con người
không thể tồn tại được.
- Môi trường xã hội: Là tổng thể các quan hệ giữa người với người. Đó là
những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định Ở các mức độ khác nhau như: Liên
Hợp Quốc, Hiệp hội các nước các quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã Môi
trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất
định tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển làm cho cuộc sống con
người khác với các sinh vật khác.
Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao gồm
tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành tiện nghi phục vụ cho cuộc
sống của con người như: Ô tô, xe máy, nhà ở, công sở, các khu đô thị, công viên
Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh con người, cho con
người cuộc sống. sự phát triển Bởi thế môi trường có những chức năng cơ
bản sau:

đến đơn giản và tham gia vào hàng loạt các quá trình sinh địa hóa phức tạp khác.
Trong thời kỳ còn sơ khai khi dân số nhân loại còn ít chủ yếu còn do quá trình
phân hủy tự nhiên làm cho chất thải sau một thời gian biến đổi nhất định lại trở
lại trạng thái nguyên liệu tự nhiên. Sự gia tăng dân số thế giới nhanh chóng cộng
với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa làm cho số lượng chất thải tăng lên
không ngừng dẫn đến ở nhiều nơi nhiều chỗ trở nên quá tải, gây ô nhiễm môi
trường làm cho chất lượng môi trường giảm sút và môi trường ngày càng bị ô
nhiễm nặng nề.
- Thứ tư: Môi trường là nơi cung cấp và lưu giữ thông tin cho con người.
Môi trường là nơi cung cấp và lưu trữ lịch sử địa chất, lịch sử tiến hóa của
vật chất và sinh vật, lịch sử xuất hiện và phát triển của văn hóa loài người.
16
Môi trường là nơi cung cấp các thông tin, tín hiệu báo động sớm các
hiểm họa đối với con người và sinh vật sống trên trái đất như: bão lũ, động
đất, núi lửa
Môi trường còn là nơi lưu trữ và cung cấp cho con người sự đa dạng các
nguồn gen, các loài động vật, thực vật, các hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo, các
vẻ đẹp, cảnh quan, có giá trị thẩm mỹ, tôn giáo, văn hóa khác
Ngoài ra môi trường còn mang đầy đủ những đặc trưng riêng của nó:
- Một là: Tính cấu trúc phức tạp. Hệ thống môi trường bao gồm nhiều thành
phần hợp thành. Các thành phần đó có bản chất khác nhau (tự nhiên, kinh tế, dân
cư, xã hội ) và bị chi phối bởi các quy luật khác nhau, đôi khi đối lập nhau.
- Hai là: Tính động. Hệ thống môi trường không phải là một hệ tĩnh, mà
luôn luôn thay đổi trong cấu trúc của nó, trong quan hệ tương tác giữa các thành
phần cơ cấu và trong từng thành phần cơ cấu. Bất kỳ một sự thay đổi nào của hệ
thống đều làm cho nó lệch khỏi trạng thái cân bằng trước đó và hệ thống đó lại
có su hướng lập lại thế cân bằng mới. Vì thế, cân bằng động là một đặc tính cơ
bản của môi trường với tư cách là một hệ thống. Đặc tính đó cần được tính đến
trong hoạt động tư duy và trong tổ chức thực tiễn của con người.
- Ba là: Tính mở. Môi trường dù với quy mô lớn hay nhỏ đến như thế nào

Từ đó có những hành động và cách ứng xử văn minh với môi trường, biết yêu
quý và giữ cho môi trường trong lành, đồng thời biết sống có trách nhiệm với
môi trường. Chúng ta không thể hoàn thành được sứ mệnh này nếu tồn tại một
số cá nhân không có ý thức bảo vệ môi trường. Sức mạnh to lớn nhất đó chính là
sự đồng lòng, chung tay và quyết tâm vì một hành tinh xanh, sạch - ngôi nhà
chung của nhân loại. Để thức tỉnh được ý thức của tất cả mọi người chúng ta cần
sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng để gửi các thông điệp, hình ảnh
đến với tất cả mọi người. Bên cạnh đó cần đến sự hỗ trợ của các phương tiện
18
truyền thông khác như: Báo chí, đài phát thanh, treo các áp phích, băng rôn
Nhằm mục đích kêu gọi mọi người dân một cách tích cực.
Ta biết rằng ngày nay xã hội ngày càng phát triển, đời sống vật chất và
tinh thần của con người ngày càng được nâng lên. Nhưng đối lập với nó là môi
trường ngày càng bị ô nhiễm, diễn biến của môi trường ngày càng phức tạp
khôn lường đe dọa trực tiếp đến đời sống của con người. Bảo vệ môi trường là
vấn đề sống còn, không chỉ là trách nhiệm của bất kỳ quốc gia, cơ quan, tổ chức
hay cá nhân riêng biệt nào, mà nó là trách nhiệm, là bổn phận của tất cả các sinh
vật sống, tồn tại và phát triển trên hành tinh này. Bởi vậy giải pháp hữu hiệu
nhất là xây dựng ý thức bảo vệ môi trường cho mọi người, để ý thức bảo vệ môi
trường ăn sâu vào tâm trí của mọi người.
Bởi thế ngay trong học đường chúng ta cần đẩy mạnh việc giáo dục ý thức
bảo vệ môi trường. Nên đưa vào chương trình những bài học, kiến thức về bảo
vệ môi trường, giáo dục các em một cách khoa học và thiết thực hơn. Trong các
hoạt động đoàn thể phải lấy việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường làm một
trong những tiêu chí hoạt động. Khi cá nhân đã ý thức được thì ý thức đó phải
được nâng lên thành hành động cụ thể thông qua những việc làm cụ thể. Các tổ
chức, các cơ quan nhà nước, các đoàn thể và nhà trường cần phải hỗ trợ, động
viên, thúc đẩy để mọi người tích cực trong việc bảo vệ môi trường.
Thực tế trong xã hội hiện nay rác thải là một trong những vấn đề lớn. Vì
vậy, cần phải kêu gọi mọi người nghiêm chỉnh thực hiện giữ gìn vệ sinh chung.

hành để họ tham gia một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong phòng ngừa và
giải quyết những vấn đề về môi trường và quản lý chất lượng môi trường.
Trên cơ sở đó hội nghị đã đề ra các mục tiêu cụ thể về giáo dục ý thức bảo
vệ môi trường, sự nhạy cảm đối với môi trường và những vấn đề có liên quan.
- Về kiến thức: Giúp tích lũy được nhiều kinh nghiệm khác nhau và có
được những hiểu biết căn bản về môi trường và những vấn đề có liên quan.
20
- Về thái độ: Hình thành được những giá trị và ý thức quan tâm đến môi
trường, cũng như động cơ thúc đẩy trong việc tham gia tích cực vào việc bảo vệ
và cải thiện môi trường.
- Về kỹ năng: Giúp cho các đoàn thể xã hội và cá nhân có được những kỹ
năng trong việc xác định và giải quyết các vấn đề về môi trường.
- Về sự tham gia các hoạt động thực tiễn: Tạo cơ hội cho các đoàn thể và
các cá nhân tham gia một cách tích cực ở mọi cấp trong việc giải quyết các vấn
đề về môi trường.
Giáo dục môi trường tập trung vào các đối tượng ở mọi lứa tuổi, nhưng
quan tâm hơn cả là đối tượng học sinh. Đặc biệt đối với học sinh trung học phổ
thông thì việc giáo dục môi trường cho các em là việc làm mang tính cần thiết
và thời sự.Với đối tượng này thì việc giáo dục môi trường có thể thông qua các
môn học, các hoạt động trong nhà trường nhằm để trang bị cho các em những
kiến thức cơ bản về: Yếu tố môi trường, vai trò của môi trường đối với con
người và tác động ngược lại của con người đối với môi trường, phát triển kỹ
năng bảo vệ và gìn giữ môi trường nơi học sinh đang học tập và sinh sống tại gia
đình. Đây là những việc làm góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho
học sinh nhằm giúp các em nhận thức được sự cần thiết phải có trách nhiệm giữ
gìn vệ sinh trường học, lớp học tạo cảnh quan trường học thật sự xanh - sạch -
đẹp để mọi người được hít thở không khí trong lành.
+ Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường
Chúng ta biết rằng quá trình tồn tại và phát triển của con người luôn luôn
gắn bó mật thiết với tự nhiên bởi chúng ta đều sinh ra trong môi trường tự nhiên,

những nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất: Quá trình giáo dục nhằm giúp học sinh nhận thức được ý nghĩa,
tầm quan trọng của các vấn đề môi trường như một nguồn lực để sống, lao động
và phát triển của mỗi cá nhân, cộng đồng quốc gia và quốc tế. Từ đó có thái độ,
22
cách cư xử đúng đắn các vấn đề về môi trường, xây dựng quan niệm đúng về ý
thức trách nhiệm, về giá trị nhân cách để dần hình thành kỹ năng thu thập dữ
liệu và phát triển sự đánh giá thẩm mỹ.
Thứ hai: Giúp học sinh hiểu biết bản chất các vấn đề môi trường: Tính
phức tạp, quan hệ nhiều mặt, nhiều chiều, tính hữu hạn của tài nguyên thiên
nhiên và khả năng chịu tải của môi trường, quan hệ chặt chẽ giữa môi trường và
sự phát triển, giữa môi trường địa phương, vùng, quốc gia với môi trường khu
vực và toàn cầu.
Thứ ba: Giúp học sinh có tri thức, kỹ năng, phương pháp, hành động để
nâng cao năng lực lựa chọn phong cách sống thích hợp với việc sử lý hợp lý và
khôn ngoan các nguồn tài nguyên thiên nhiên, có thể tham gia có hiệu quả vào
việc phòng ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường bằng những hành động cụ
thể tại nơi sinh sống và học tập.
Thứ tư: Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường gắn với việc giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh. Bởi để hiệu quả giáo dục môi trường được bền vững thì phải
hình thành cho các em những thói quen tốt những kỹ năng sống liên quan đến
bảo vệ môi trường như: Giáo dục các em thói quen đổ rác đúng nơi quy định,
khi thấy người khác bỏ rác không đúng nơi quy định thì ngay lập tức lịch sử
nhắc nhở.
Thứ năm: Gắn việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường với việc tuyên
truyền phổ biến pháp luật trong nhà trường như luật bảo vệ môi trường, luật đa
dạng sinh học
Ngoài những nội dung trên thì theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cần tuân theo các nguyên tắc sau:
Một là: Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường không phải là ghép thêm vào


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status