Đề tài:
TÌM HIỂU SỰ PHÊ PHÁN NHO GIÁO CỦA NHỮNG NHÀ NHO TIẾN
BỘ Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XX.
1
LỜI GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
Hệ tư tưởng Nho giáo được du nhập vào Đất Việt khoảng thế kỉ thứ nhất
sau công nguyên, do chính sách đồng hoá người Việt của đế chế Hán trong thời
kỳ Bắc thuộc. Với những ưu thế của nó về các quan điểm chính trị, kinh tế và
văn hoá giáo dục, hệ tư tưởng này đã dần chiếm được ưu thế trong xã hội của
người Việt và trở thành bệ đỡ tư tưởng, tinh thần cho toàn bộ hệ thống chính trị,
xã hội, kinh tế, văn hoá, giáo dục của Việt Nam từ thế kỷ XV. Tuy nhiên, đến
cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, trước sự biến đổi to lớn của lịch sử và thời
đại, hệ tư tưởng Nho giáo với những bất cập, hạn chế của nó đã không giải quyết
được những nhiệm vụ của thời đại, đó là việc tìm vạch ra con đường cứu nước
và giải phóng dân tộc cho người Việt. Những nhà nho tiến bộ của Việt Nam sau
khi tiếp cận với dòng tư tưởng dân chủ tư sản phương tây qua các Tân thư, Tân
báo, đã nhận thức được sự bất cập và những hạn chế của Nho giáo và trước sự
đòi hỏi của nhiệm vụ thời đại họ đã tiến hành phê phán hệ tư tưởng Nho giáo.
Tìm hiểu sự phê phán đó là một việc làm bổ ích và khoa học, nó góp phần
vào việc nghiên cứu và đánh giá một cách đúng đắn về tiến trình phát triển tư
tưởng và nhận thức của người Việt những năm đầu thế XX trong tiến trình lịch
sử. Cho đến nay, đã có rất nhiều các công trình khoa học của nhiều học giả trong
và ngoài nước tìm hiểu về vấn đề này, tuy nhiên lại chưa có công trình nghiên
cứu riêng nào về sự phê phán đó với tư cách là một thực thể, một vấn đề khoa
học. Vì thế, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Tìm hiểu sự phê phán của các
nhà nho tiến bộ đối với tư tưởng nho giáo ở Việt Nam đầu thế kỷ XX” làm đề
tài nghiên cứu của mình. Tuy nhiên, chúng tôi cũng biết đây là một đề tài rất
khó, muốn đạt được một kết quả nghiên cứu tốt và mang tính khoa học thì người
nghiên cứu nó phải làm việc thật sự nghiêm túc, khoa học. Sau một thời gian
làm việc và nghiên cứu nghiêm túc, được sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình và
khoa học của Thầy giáo, chúng tôi vui mừng công bố kết quả nghiên cứu của
.
Tuy nhiên, Nho giáo trong thời kỳ Bắc thuộc và thậm chí là trong khoảng
hai thế kỷ sau Bắc thuộc chưa thực sự chiếm lĩnh được địa vị độc tôn, để có thể
chi phối mọi hoạt động về đời sống chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá của người
Việt. Hệ tư tưởng Nho giáo chỉ thực sự bắt đầu chiếm lĩnh được vị thế trong đời
sống văn hoá xã hội cuả người Việt khi nhà Trần nên nắm quyền cai trị đất
nước. Song ở trong giai đoạn cai trị của nhà Trần, hệ tư tưởng Nho giáo cũng
chưa thực sự chiếm lĩnh được vị thế hàng đầu, nhiều tài liệu về thời kỳ này cho
thấy, lúc này những ảnh hưởng của đạo Phật còn khá lớn mạnh và nó chi phối
rất nhiều tới các mặt chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá của người Việt. Có
điều đó là vì đạo Phật có nhiều điểm tương đồng hay phù hợp với nền văn hoá
truyền thống của người Việt. Mặt khác, đây còn là thời kỳ mà chế độ phong kiến
mới được thiết lập trên đất Việt, nó chưa đủ hoàn thiện để trở thành một chế độ
quân chủ chuyên chế vững mạnh như ở thời đại của vương triều Lê được thiết
1
. Đại Việt sử ký toàn thư – NXBKHXH – Hà nội – 1993, Tr.155.
2
. Đại Việt sử ký toàn thư – NXBKHXH – Hà nội –1993, Tr.166.
4
lập sau đó (thế kỷ XV). Như vậy, có thể nói cho đến cuối thế kỷ XIV và khoảng
một thập kỷ đầu của thế kỷ XV, hệ tư tưởng Nho giáo vẫn chưa thực sự nắm
được vị trí đứng đầu để có thể chi phối các hoạt động chính trị, kinh tế, và văn
hoá xã hội của người Việt. Hay nói cách khác là vào lúc này, hệ tư tưởng Nho
giáo còn phải tranh giành ảnh hưởng với với các dòng tư tưởng khác như: Phật
Giáo, Đạo Giáo, Lão Giáo... Hệ tư tưởng Nho giáo chỉ thực sự chiếm được địa
vị độc tôn khi mà vương triều Lê được thiết lập vào năm 1427.
Hệ tư tưởng Nho giáo có thể chiếm lĩnh được địa vị độc tôn và trở thành
bệ đỡ tư tưởng, tinh thần cho toàn bộ hệ thống chính trị, kinh tế, và văn hoá, xã
hội của Việt Nam là vì, vào cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV chế độ phong kiến
vừa mới thiết lập ở Việt Nam đã bắt đầu đi vào khủng hoảng, dẫn tới sự tan rã
Ban ngày cắp sách đi rong
Tối về lại đốt đèn trong tốn dầu”.
Rồi những câu tục ngữ, ca dao như: “Sĩ, nông, công, thương, Nhất sĩ nhì
nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ” đều nhằm vào mục đích phê phán đó.
Ngoài ra, chúng ta còn thấy được sự phê phán khá nghiêm túc và sâu cay các trí
thức nho học qua thơ Hồ Xuân Hương như:
“Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ,
Lại đây cho chị dạy làm thơ.
Ong non ngứa nọc châm hoa rữa,
Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa”.
Nhưng sự phê phán một cách có ý thức, có khoa học và có hệ thống thì
phải đến cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX với cuốn sách “Vũ trung tuỳ bút”
của Phạm Đình Hổ. Với “Vũ trung tuỳ bút”, Phạm Đình Hổ đã phê phán học
thuyết nho giáo về học thuật, về phong cách của nhà nho và văn hoá, giáo dục,
tuy rằng nó chưa thực sự sâu sắc.
Về học thuật ông viết: “Đời nay những kẻ học lỏm được mấy câu mép,
nào có quan hệ gì đến đạo tu, tề, trị, bình, thế mà đã ngàng nhiên tự đắc”
1
; về lối
chữ viết thì: “Còn những giấy tờ ở chốn cửa công thì dùng riêng một lối chữ
“nam”, lúc đầu là phòng dân giả mạo, mới theo hoa văn mà đặt ra một lối chữ
1
1. Vũ Trung tuỳ bút – Phạm Đình Hổ – NXB văn học, Hà Nội- 1972, tr.37.
6
việc quan... Song những cách giả dối là bởi những kẻ nho lại làm ra, càng ngày
càng tệ”
2
; về cốt cách nhà nho: “Ta nghe chuyện trên này, lấy làm quái lạ... Ôi!
Người đời, những kẻ mũ cao áo dài, đứng ngồi chững chạc, mồm vẫn đọc sách
thành hiền, vẫn chen nhau trong hàng mũ áo, ngày thường vô sự vẫn tự nhận là
vào những thời điểm đó, sự phê phán Nho giáo còn chưa lôi kéo được đông đảo
2
2. Như trên, tr.39, 40.
3
3. Như trên, tr. 88.
4
4. Như trên, tr.97,98.
5
5. Như trên, tr.158.
6
. Vũ trung tuỳ bút - Phạm Đình Hổ,… tr.159, 160.
7
giới trí thức nho học trong nước, những hạn chế của đạo nho cũng chưa bộc lộ ra
một cách rõ nét nhất, chỉ đến khi đất nước ta rơi vào tay thực dân Pháp và phong
trào kháng Pháp, đặc biệt là “Phong trào Cần Vương” do những chí sĩ nho giáo
yêu nước tổ chức bị thất bại, thì những hạn chế đó mới thật sự rõ nét và những
nhà nho tiến bộ cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỷ XX đã nhận ra nó. Do vậy mà họ đã
tiến hành đánh giá và phê phán học thuyết Nho giáo, nhằm mục đích thức tỉnh
giai cấp và dân tộc, mà tiếng kêu ai oán của “ông đồ mù” Nguyễn Đình Chiểu có
thể nói là phát súng đầu tiên khai màn cho công cuộc đó:
“Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng,
Nỡ để dân đen mắc nạn này”
1
.
B. Nội dung sự phê phán Nho Giáo của những nhà nho tiến bộ ở Việt
Nam trong những năm đầu thế kỷ XX
1. Sự phê phán Nho Giáo với tư cách là một học thuyết
Với tư cách là một học thuyết, một trường phái tư tưởng của phương
Đông, sau khi du nhập vào Việt Nam, học thuyết Nho giáo đã có những đóng
góp nhất định cho việc ổn định và phát triển nền văn hoá, xã hội Việt Nam. Tuy
thuyết Nho giáo, thứ học thuyết mà bấy lâu nay họ vẫn miệt mài theo học,
nghiền ngẫm là nguyên nhân dẫn tới việc mất nước. Phan Chu Trinh trong Thư
gửi toàn quyền Đông Dương viết: “Nước Nam ta bấy lâu nay học thuyết sai lầm,
phong tục hư hỏng, không có liêm sỉ, không có kiến thức”
1
. Còn như trong tác
phẩm Tối tân thời tà khí ca, tác giả của nó viết:
“Mắng chửi sao đáng kể.
Tộc loại nhờ nó mất,
Cừu địch nhờ nó vinh.
Tam cương thảy đổ nát,
Đạo nghĩa nhổ sạch không.
....................
Trời đất có tà khí,
Phú thành vật nhiêu hình.
Dưới thì là cứt đái,
Trên thì là cẩu tinh.
1
. Dẫn theo: Văn thơ yêu nước và cách mạng Việt Nam đầu thé kỷ XX, NXB Văn học, Hà Nôi – 1976, tr.194.
9
Với người là nô tính,
Mờ mịt lấp biển xanh.”
1
Hoặc giả như cụ Phan Bội Châu trong tác phẩm Sùng bái giai nhân viết:
“... Từ khi đạo học của thành hiền không sáng, nhân tài không như xưa, khí lực
đã hèn, óc lão lại mỏng. Vua không biết nuôi dưỡng, thầy không biết dạy bảo.
Vì thế mà người đời như một hình gỗ, một tượng đất,...Thi thư trở thành cái làm
cho người ta ngu dốt? Trung hiếu là vật gây nên mọi tai quái?”
2
. Rồi ông tỏ ra
nhân với những nhận thức xưa cũ không thức thời. Những nhà nho tiến bộ đầu
thế kỷ đã nhận ra sự sai lầm của cái thuyết thiên mệnh đó, họ cho rằng chính cái
thuyết thiên mệnh duy tâm, tin vào mệnh trời đã làm hủ hoá con người, cản trở
sự phát triển nhận thức của con người, làm cho người ta dễ bằng lòng với thực
tại của cuộc sống mà mất đi phương hướng trong hành động; rằng nó là cái
thuyết tai hại làm cho người ta trở nên ươn hèn, bảo thủ mà không chịu học hỏi
cái mới, không phát huy được khả năng sáng tạo của mình: “Ngày nay, chỉ riêng
cái thuyết mệnh trời cũng đã đủ làm cho dân ta bị trở ngại. Mệnh là cái không
đến mà lại đến. Người quân tử tri mệnh là biết không thể tránh được điều hại,
không thể hưởng được điều lợi, nhưng cái đáng làm thì cứ làm. Cho nên tri
mệnh là để khuyên lập chí, dẫu biết rằng người không có trí thì khi gặp việc là
cầu khấn trời giúp cho, hỏng việc thì lại đổ cho trời làm hại! Cho nên, nước yếu
thì không quy trách nhiệm cho chính sự tồi tệ, quốc dân bất tài, mà lại cứ nói
vận số không phải do con người quyết định. Lụt lội hạn hán thì không trách cứ
là không có kế hoạch tiêu nước kịp thời, không phòng ngừa đói kém, mà lại nói
thiên tai không phải do người gây nên... Than ôi! sao lại có những cách nói tự
hại mình đến thế? Sức người không làm được mà đổ tội cho trời, trời có nhận tội
đâu”
1
.
Thứ đến là những nhà nho tiến bộ đã phê phán cái tư tưởng nội hạ ngoại
di, vì nếu như thuyết thiên mệnh là sự cản trở sự phát triển của nhận thức, thì cái
tư tưởng “nội hạ ngoại di” trọng mình khinh người trong học thuyết Nho giáo
còn tai hại hơn. Nó làm cho người ta chỉ coi trọng bản thân, tự đề cao bản thân
mà coi thường người khác, mà không chịu học hỏi. Đây là sản phẩm của quá
trình tranh giành địa vị độc tôn của Nho giáo với các tôn giáo khác, muốn nắm
được địa vị độc tôn thì phải đề cao cái đạo của mình, phải tỏ ra cái đạo của mình
là cao quý để hạ thấp địa vị của các tôn giáo khác. Vì thế, khi mà Nho giáo đã
nắm được địa vị độc tôn, trở thành đạo cao quý, thì đương nhiên những đệ tử
của học thuyết Nho giáo cũng là những người cao quý, kẻ cả, được coi trọng
lo, lo Quan Âm đói, nói tóm lại thì bao nhiêu cái khổ sở nhục nhằn ở nước ta
cũng vì cái dốt mà ra cả”
2
.
Thứ ba là những nhà nho tiến bộ đả phá cái tư tưởng quý đạo vương khinh
đạo bá. Chính vì coi trọng tư tưởng nội hạ ngoại di, trọng mình mà khinh người
nên cái tư tưởng mù quáng quý đạo vương mà khinh đạo bá của học thuyết Nho
giáo đã ra đời. Đây là cái tư tưởng cực đoan, độc tôn Nho giáo. Vương đạo tức
2
. Như trên, tr. 53.
1
. Dẫn theo: Thơ văn yêu nước và cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX, NXB Văn học, HN – 1976, tr. 633, 634.
2
. Dẫn theo: Đăng cổ tùng báo, số ra ngày 27 tháng 6 năm 1907. Tư liệu lưu trữ của Thư viện trường
ĐHKHXH&NV.
12
là đạo của nhà vua, mà đã là đạo của nhà vua thì đương nhiên là cao quý nhất.
Mà một khi nó đã trở thành đạo cao quý nhất thì đương nhiên là người ta sẽ coi
thường những thứ đạo khác mà không chịu học hỏi tiếp thu những cái mới, cái
hay. Như vậy là cái tư tưởng quý đạo vương khinh đạo bá lại càng bó hẹp con
người ta hơn, làm cho người ta trở nên bảo thủ hơn, vênh váo hơn, thế cho nên:
“Phàm những kẻ biết được đôi chút từ chương đã vênh vang cho mình là sĩ,
không thèm đứng cùng hàng với nông, công, thương, họ cho là hèn hạ, gọi là
dân buôn, dân thợ, dân cùng, ngu dốt”
3
. Những nhà nho tiến bộ đã cho cái tư
tưởng này là một trong bốn nguyên nhân khởi điểm làm cho dân ta ngày càng
dốt đi, làm cho đất nước ngày càng tiều tuỵ, yếu hèn.
Nhưng nguyên nhân dẫn đến cái sự ngu dốt tai hại ấy còn là nhờ cái tư
tưởng bảo thủ coi xưa hơn nay, cho xưa là phải nay là quấy của đạo Nho. Những
3
. Dẫn theo: Văn thơ Đông Kinh Nghĩa Thục, NXB Văn hoá, HN – 1997, tr. 49.
4
. Dẫn theo: Thơ văn yêu nước và cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX, NXB Văn học, HN – 1976, tr. 635, 636.
13
hơn cả những kẻ ngu si đảo lộn phải trái, trắng đen”
5
. Cái dốt nát, ngu si, bảo thủ
của con người bởi tư tưởng trọng xưa hơn nay thối nát ấy, đã cản trở sự phát
triển về nhận thức của cá nhân và xã hội, nó kìm hãm và trói buộc con người và
xã hội vào những thứ giáo lý cũ rích, làm cho người ta không theo kịp được sự
phát triển của thời đại. Nó hướng người ta chỉ trông vào xưa chứ chẳng biết nay,
không tin vào thực tại, đến nỗi đã trở thành nô lệ mà vẫn không biết, vẫn huyênh
hoang: “Người ngày nay mà không muốn hơn người ngày xưa thì văn minh
không tiến. Nước yếu thì sẽ bị nước văn minh hơn thôn tính. Người nước ta
thích bàn về thời Hổng cổ, hâm mộ Hoàng nông, mà không biết rằng thế đạo
ngày một suy, mà lại than thở phong tục xưa không được phục hồi. Những lời
không phải cổ nhân nói, những việc không phải cổ nhân làm, cũng cho là người
đời phải kinh sợ. Chính cái lòng hiếu cổ ấy làm cản trở trí tiến thủ”
6
.
Tư tưởng trọng quan khinh dân, trong học thuyết Nho giáo cũng là một
trọng tâm mà những nhà nho tiến bộ đầu thế kỷ XX chĩa mũi nhọn vào phê
phán. Nó được coi là nguyên nhân dẫn đến sự hủ hoá, thối nát của bộ máy chính
quyền và thể chế chính trị phong kiến. Nó dẫn đến cái thói vênh váo, tự cao tự
đại của tầng lớp nho sĩ trong xã hội. Tư tưởng đó xuất phát từ đâu, từ cái sự độc
tôn Nho giáo, từ cái sự đề cao cái đạo Tam cương, Ngũ thường với những mối
quan hệ ràng buộc bởi nhiều phép tắc bất di, bất dịch, dẫn đến sự tách bạch, đối
lập một cách tuyệt đối giữa vua, quan và dân. Quan không được vượt quyền,
không được bàn bạc, cãi lệnh vua, vì lệnh vua là thánh chỉ, là lời của thiên tử;
thủ, quân phiệt, đề cao cái đạo nghĩa tôn quân, cho trung với vua là yêu nước
của học thuyết Nho giáo. Người ta coi vua là hiện thân của thánh nhân, lời của
vua là thánh chỉ, chính vì thế mà người ta chỉ biết đến vua, chứ không biết đến
nước, coi tuân mệnh vua là trung với nước, là yêu nước. Cái quan điểm chính trị
ấy đã dẫn đến cái thể chế chính trị bảo thủ, cực đoan “ngoài áp chế không có gì
là tôn chỉ; ngoài phục tòng, không có gì là nghĩ xa”
4
. Nguyên do xuất phát cái
quan điểm chính trị tôn quân ấy là ở cái đạo Tam cương của học thuyết Nho
giáo. Tam cương bao gồm cương vua - tôi, cương vợ - chồng, cương cha – con,
đó là những mối quan hệ rường cột của xã hội phong kiến, được đề ra vào đời
nhà Hán. Nó nhằm mục đích thiết lập nên những phép tắc nhất định hạn chế sự
chỗi dậy làm bạo loạn của những kẻ phản thần tặc tử và chống lại cái đạo pháp
gia đời Tần, tăng uy lực cho ngôi vị thống trị của nhà Hán. Nhưng càng ngày
bọn nho học thống trị phong kiến càng lợi dụng cái ý nghĩa tốt đẹp đó của đạo
Tam cương để đặt ra nhiều phép tắc trói buộc những con dân trong xã hội, vì
chúng sợ bị mất đi địa vị và quyền lợi. Vì thế, nó dẫn đến cái tệ chuyên quyền,
độc đoán của bọn vua quan phong kiến: “Thuở xưa các nước cũng đều có chính
thể rồi. Phàm chính sự trong nước thì chỉ vài vị đại thần được bàn bạc, còn quan
nhỏ thì nghe cũng không được nghe, huống hồ là dân trăm họ! Quyền chuẩn y
hay bác bỏ đều ở trong tay nhà vua, đại thần không được hạn chế, nói gì đến
2
. Như trên, tr. 215.
3
. Như trên, tr. 215.
4
. Dẫn theo: Thơ văn yêu nước và cách mạng Viẹt Nam đầu thế kỷ XX, NXB Văn học, HN – 1976, tr. 636.
15
những người khác”
1
trọng nông ức thương của học thuyết Nho giáo. Do cái tư tưởng nội hạ ngoại di
và quý đạo vương khinh đạo bá, cho nên giới nho sĩ rất coi thường cái mục đích
1
. Dẫn theo: Văn thơ Đông Kinh Nghĩa Thục, NXB Văn Hoá, HN – 1997, tr. 64.
2
. Dẫn theo: Thơ văn yêu nước và cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX, NXB Văn học, HN – 1976, tr. 61.
3
. Như trên, tr. 61.
1
. Dẫn theo: Văn thơ Đông kinh nghĩa, NXB Văn hoá, HN - 1997, tr.71.
16