Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đề tài: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
môi giới của Công ty TNHH Chứng khoán
ACB
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TH.S CAO MINH TIẾN
SINH VIÊN : NGÔ QUANG HOÀN
LỚP : CQ48.17.02
SĐT : 0987892138
Gmail: [email protected]
ĐƠN VỊ THỰC TẬP: CÔNG TY TNHH CHỨNG KHOÁN ACB
Địa chỉ : số 29 Huỳnh Thúc Kháng, Quận Đống Đa, Hà Nội
SV: Ngô Quang Hoàn
Lớp:CQ48/17.02
i
Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn tốt nghiệp là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế
của đơn vị thực tập.
Tác giả luận văn tốt nghiệp
Ngô Quang Hoàn
SV: Ngô Quang Hoàn
Lớp:CQ48/17.02
ii
Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
SV: Ngô Quang Hoàn
Lớp:CQ48/17.02
iv
Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
Bảng 2.2: Chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi của ACBS từ 2011-2013 41
Bảng 2.3: Doanh thu thị phần môi giới cổ phiếu và chứng chỉ quỹ năm 2012-
2013 trên sàn HOSE 43
Bảng 2.4: Doanh thu thị phần môi giới cổ phiếu và chứng chỉ quỹ năm 2012-
2013 trên sàn Hà Nội 43
Bảng 2.5: Doanh thu thị phần môi giới cổ phiếu và chứng chỉ quỹ năm 2010-
2011 trên sàn HOSE 44
Bảng 2.6: Lợi nhuận hoạt động môi giới chứng khoán của 3 CTCK 46
Bảng 2.7: Tỷ suất lợi nhuận hoạt động môi giới chứng khoán trên tổng lợi
nhuận gộp của 3 CTCK 47
Bảng 2.8: Tỷ suất lợi nhuận hoạt động môi giới trên doanh thu hoạt động môi
giới của ACBS qua các năm 49
Bảng 2.9: Tỷ suất lợi nhuận hoạt động môi giới trên doanh thu hoạt động môi
giới của 3 CTCK 50
Bảng 2.10: Tình hình tăng trưởng tỷ trọng doanh thu hoạt động môi giới
chứng khoán của ACBS 53
Bảng 2.11: Tỷ trọng doanh thu môi giới trên tổng doanh thu hoạt động kinh
doanh qua các năm của 3 CTCK 54
Bảng 2.12: Tốc độ tăng trưởng doanh thu và chi phí của ACBS qua các năm
55
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1:Sơ đồ tổ chức của công ty TNHH chứng khoán ACB…… … .34
Hình 2.2: Thị phần môi giới cổ phiếu và chứng chỉ quỹ của ACBS trên HOSE
qua các năm………………………………………………………………….45
Hình 2.3: Lợi nhuận hoạt động môi giới chứng khoán của 3 CTCK……….46
Hình 2.4: Tỷ suất lợi nhuận hoạt động môi giới chứng khoán trên tổng lợi
Ở Việt Nam, Thị trường chứng khoán còn là một lĩnh vực khá mới mẻ
đối với công chúng. Làm thế nào để công chúng đầu tư có thể tiếp cận một
cách dễ dàng và hiệu quả với Thị trường chứng khoán, góp phần thu hút ngày
càng nhiều nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội cho đầu tư phát triển. Trải qua
hơn 13 năm vận hành an toàn, Thị trường chứng khoán Việt Nam đã có nhiều
dấu hiệu chuyển biến tích cực, quy mô của thị trường được mở rộng, lòng tin
của nhà đầu tư gia tăng. Thị trường phát triển tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũng
không ít những thách thức đối với các thành viên tham gia. Các thành viên
tham gia, mà chủ chốt là các Công ty chứng khoán luôn cần hòa nhịp với thị
trường. Năm 2013, Theo số liệu từ Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, các chỉ số
giá chứng khoán đều tăng so với cuối năm 2012. Tại ngày 24/12, Vn-Index
tăng 22,2% trong khi HNX-Index là 19,32%.Sự gia tăng của các chỉ số chứng
khoán trong năm 2013 đã đưa Việt Nam trở thành một trong những nước có
độ phục hồi mạnh nhất thế giới. Mức vốn hoá thị trường năm nay cũng tăng
SV: Ngô Quang Hoàn
Lớp:CQ48/17.02
1
Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
gần 200.000 tỷ đồng so với một năm trước, đạt khoảng 964.000 tỷ, tương
đương 31% GDP.Năm 2013, thị trường từng được dự báo phải chứng kiến sự
thoái lui của nhà đầu tư nước ngoài. Nhưng trên thực tế, tổng dòng vốn nước
ngoài luân chuyển năm qua vẫn tăng 54% và giá trị danh mục cao hơn 3,8 tỷ
USD so với cuối năm 2012. Số lượng tài khoản nhà đầu tư đạt khoảng 1,27
triệu, trong đó khối ngoại tăng 55%.
Năm 2014, Thị trường chứng khoán Việt Nam có khoảng hơn 100
Công ty chứng khoán đang hoạt động. Việc gia tăng số lượng các Công ty
chứng khoán càng tạo thêm những áp lực cạnh tranh đối với các thành viên
trên thị trường. Để đảm bảo có thể cạnh tranh, các Công ty chứng khoán phải
tạo dựng được vị thế của mình trên thị trường và phải nâng cao được tiềm lực
tài chính. Hoạt động môi giới chứng khoán (MGCK) là một trong những hoạt
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục bảng biểu, Danh mục tài
liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về công ty chứng khoán và hoạt động môi
giới chứng khoán.
Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động môi giới của Công ty
TNHH Chứng Khoán ACB.
Chương 3 : Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới tại Công
ty TNHH Chứng Khoán ACB.
SV: Ngô Quang Hoàn
Lớp:CQ48/17.02
3
Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
CHƯƠNG 1:LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ
NGHIỆP VỤ MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1.1. Khái niệm công ty chứng khoán
Thị trường chứng khoán (TTCK) hoạt động nhằm huy động những
nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội tập trung thành nguồn vốn lớn tài trợ
cho doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và Chính phủ để phát triển sản xuất,
tăng trưởng kinh tế hay cho các dự án đầu tư. Thị trường chứng khoán là nơi
diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán. Việc mua bán
được tiến hành ở hai thị trường sơ cấp và thứ cấp. do vậy thị trường chứng
khoán là nơi chứng khoán được phát hành và trao đổi.
Để hình thành và phát triển thị trường chứng khoán có hiệu quả, một
yếu tố không thể thiếu được là các chủ thể tham gia kinh doanh trên thị
trường. Mục tiêu của việc hình thành thị trường chứng khoán là tạo nên kênh
huy động vốn dài hạn cho nền kinh tế và tạo ra tính thanh khoản cho các loại
chứng khoán. Thị trường chứng khoán không giống như các thị trường hàng
hóa thông thường khác vì hàng hóa của thị trường là các loại chứng khoán-
một loại hàng hóa đặc biệt. Với loại hàng hóa này người mua bán không trực
các dịch vụ tài chính khác. Mô hình này còn được gọi là mô hình ngân
hàng kiểu Đức.
Ưu điểm của mô hình này là các ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh
vực kinh doanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro trong hoạt động kinh doanh bằng
việc đa dạng hoá đầu tư. Ngoài ra, mô hình này còn có ưu điểm là tăng
khả năng chịu đựng của ngân hàng trước những biến động trên thị trường
tài chính. Mặt khác, các ngân hàng sẽ tận dụng được lợi thế của mình là tổ
chức kinh doanh tiền tệ có vốn lớn, cơ sở vật chất hiện đại và hiểu biết rõ về
khách hàng cũng nhưcác doanh nghiệp khi họ thực hiện nghiệp vụ cấp tín
dụng và tài trợ dự án.
SV: Ngô Quang Hoàn
Lớp:CQ48/17.02
5
Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
Tuy nhiên, mô hình này cũng có những hạn chế, đó là do vừa là tổ chức
tín dụng là vừa là tổ chức kinh doanh doanh chứng khoán, do đó khả năng
chuyên môn không sâu nhưcác công ty chứng khoán chuyên doanh. Điều
này sẽ làm cho thị trường chứng khoán kém phát triển vì các ngân hàng
thường có xu hướng bảo thủ và thích hoạt động cho vay hơn là thực hiện các
nghiệp vụ của thị trường chứng khoán như: bảo lãnh phát hành chứng
khoán, tư vấn đầu tưchứng khoán, quản lý danh mục đầu tư.
Đồng thời, do khó tách bạch được hoạt động ngân hàng và hoạt động
kinh doanh chứng khoán, trong điều kiện môi trường pháp luật không lành
mạnh, các ngân hàng dễ gây nên tình trạng lũng đoạn thị trường, và khi đó
các biến động trên thị trường chứng khoán sẽ tác động mạnh tới kinh doanh
tiền tệ, gây tác động dây chuyền và dẫn đến khủng hoảng thị trường tài chính.
Bên cạnh đó, do không có sự tách biệt rõ ràng giữa các nguồn vốn, nên các
ngân hàng có thể sử dụng tiền gửi tiết kiệm của dân cưđể đầu tư chứng
khoán, và khi thị trường chứng khoán biến động theo chiều hướng xấu sẽ tác
động tới công chúng thông qua việc ồ ạt rút tiền gửi, làm cho ngân hàng mất
nhiệm hữu hạn trong phần vốn góp của mình đối với những khoản nợ của
công ty.Công ty hợp danh thông thường không được phép phát hành bất cứ
một loại chứng khoán nào.
Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là một pháp nhân độc lập với các chủ sở hữu công ty
là các cổ đông. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản
khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Công
ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán (cổ phiếu và trái phiếu) ra công
chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán hiện hành.
Công ty trách nhiệm hữu hạn
SV: Ngô Quang Hoàn
Lớp:CQ48/17.02
7
Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
Thành viên của công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các
nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết
góp vào doanh nghiệp. Công ty trách nhiệm hữu hạn không được phép
phát hành cổ phiếu.
Do các ưu điểm của loại hình công ty cổ phần và công ty trách nhiệm
hữu hạn so với công ty hợp danh, vì vậy, hiện nay chủ yếu các công ty chứng
khoán được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty
cổ phần.
1.1.3. Vai trò của công ty chứng khoán
Với những đặc điểm trên, công ty chứng khoán có vai trò quan trọng
đối với những chủ thể khác nhau trên thị trường chứng khoán.
Đối với các tổ chức phát hành. Mục tiêu khi tham gia vào thị trường
chứng khoán của các TCPH là huy động vốn thông qua việc phát hành các
chứng khoán. Vì vậy, thông qua hoạt động đại lý phát hành, bảo lãnh phát
hành, các công ty chứng khoán có vai trò tạo ra cơ chế huy động vốn phục
vụ các nhà phát hành.
Chính vì vậy, giá cả của mỗi loại chứng khoán giao dịch đều có sự tham
gia định giá của các công ty chứng khoán.
Các công ty chứng khoán còn thể hiện vai trò lớn hơn khi tham gia điều
tiết thị trường. Để bảo vệ những khoản đầu tư của khách hàng và bảo vệ lợi
ích của chính mình, nhiều công ty chứng khoán đã giành một tỷ lệ nhất định
các giao dịch để thực hiện vai trò bình ổn thị trường.
(2) Góp phần làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính.
Thị trường chứng khoán có vai trò là môi trường làm tăng tính
thanh khoản của các tài sản tài chính. Nhưng các công ty chứng khoán
mới là người thực hiện tốt vai trò đó vì công ty chứng khoán tạo ra cơ chế
giao dịch trên thị trường. Trên thị trường cấp 1, do thực hiện các hoạt
động như bảo lãnh phát hành, chứng khoán hoá, các công ty chứng khoán
SV: Ngô Quang Hoàn
Lớp:CQ48/17.02
9
Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
không những huy động một lượng vốn lớn đưa vào sản xuất kinh doanh
cho nhà phát hành mà còn làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài
chính được đầu tư vì các chứng khoán qua đợt phát hành sẽ được mua bán
giao dịch trên thị trường cấp 2. Điều này làm giảm rủi ro, tạo tâm lý yên
tâm cho người đầu tư. Trên thị trường cấp 2, do thực hiện các giao dịch
mua và bán các công ty chứng khoán giúp người đầu tư chuyển đổi chứng
khoán thành tiền mặt và ngược lại. Những hoạt động đó có thể làm tăng
tính thanh khoản của những tài sản tài chính.
Đối với các cơ quan quản lý thị trường.
Công ty chứng khoán có vai trò cung cấp thông tin về thị trường chứng
khoán cho các cơ quan quản lý thị trường để thực hiện mục tiêu đó. Các công
ty chứng khoán thực hiện được vai trò này bởi vì họ vừa là người bảo lãnh
phát hành cho các chứng khoán mới, vừa là trung gian mua bán chứng khoán
và thực hiện các giao dịch trên thị trường. Một trong những yêu cầu của thị
giới từ khách hàng. Phí môi giới thường được tính theo tỷ lệ phần trăm của
tổng giá trị giao dịch.
Bảo lãnh phát hành chứng khoán
Bảo lãnh phát hành chứng khoán là cam kết giữa tổ chức bảo lãnh phát
hành và tổ chức phát hành về việc sẽ bán hết hoặc bán một phần số lượng
chứng khoán dự định phát hành.
Nghiệp vụ được thực hiện bởi đội ngũ chuyên gia giỏi về chứng khoán,
am hiểu thị trường và có năng lực tài chính.vì vậy, thông qua tổ chức bảo
lãnh phát hành, rủi ro đợt phát hành sẽ giảm. Các công việc cần làm như: tư
vấn tài chính cho nhà phát hành, giúp nhà phát hành thực hiện các thủ tục
trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và bình
ổn giá chứng khoán trong thời gian đầu sau đợt phát hành chứng khoán. Tổ
chức bảo lãnh chịu trách nhiệm mua và chào bán chứng khoán của tổ chức
SV: Ngô Quang Hoàn
Lớp:CQ48/17.02
11
Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
phát hành nhằm thực hiện việc phân phối chứng khoán để hưởng phí bảo lãnh
phát hành hay một tỷ lệ hoa hồng trên số tiền thu được. Phí bảo lãnh là mức
chênh lệch giữa giá bán chứng khoán cho người đầu tư và số tiền tổ chức
phát hành nhận được.
Nghiệp vụ tự doanh
Tự doanh chứng khoán là hoạt động kinh doanh mà công ty chứng
khoán tự mua bán chứng khoán cho chính mình để hưởng lợi nhuận từ việc
đầu tư chứng khoán mang lại như chênh lệch giá chứng khoán, cổ tức, các
quyền khác kèm theo việc sở hữu chứng khoán.
Ở nghiệp vụ này công ty chứng khoán đóng vai trò là nhà đầu tư trên
thị trường phải tự gánh chịu những rủi ro từ quyết định mua bán chứng
khoán của mình. Đối với một số thị trường hoạt động tự doanh của công ty
chứng khoán được gắn liền với hoạt động tạo lập thị trường. Các công ty
chứng khoán của khách hàng, chuyển các lệnh mua lệnh bán đó vào Sở giao
dịch chứng khoán và hưởng hoa hồng môi giới
1.2.3. Vai trò của môi giới chứng khoán
Trong nền kinh tế hiện nay, hoạt động môi giới chứng khoán có vai
trò rất to lớn. Nghề môi giới chứng khoán vừa là kết quả của quá trình phát
triển của nền kinh tế thị trường, vừa thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
và cải thiện môi trường kinh doanh. Như vậy vai trò của môi giới chứng
khoán thể hiện ở các khía cạnh sau:
Vai trò trung gian huy động vốn, tham gia tạo kênh huy động vốn
hiệu quả cho đầu tư và phát triển nền kinh tế.
Thị trường chứng khoán là trung gian tài chính hoạt động trên thị
trường tài chính và nhằm huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Với
vai trò là tổ chức trung gian tài chính, công ty chứng khoán giúp cho hoạt
động của thị trường chứng khoán được hoạt động một cách hiệu quả và ổn
SV: Ngô Quang Hoàn
Lớp:CQ48/17.02
13
Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
định. Để thực hiện tốt vai trò này công ty chứng khoán thực hiện chức năng
chủ yếu sau: tạo cơ chế huy động vốn bằng cách kết nối giữa những người có
năng lực tài chính, người có nhu cầu đầu tư với những người có nhu cầu huy
động vốn. Các công ty chứng khoán thực hiện chức năng này thông qua hoạt
động bảo lãnh phát hành và môi giới chứng khoán; cung cấp cơ chế xác định
giá cho các khoản đầu tư, can thiệp trên thị trường, góp phần điều tiết giá
chứng khoán; cung cấp cơ chế chuyển các khoản đầu tư thành tiền cho các
nhà đầu tư, giảm thiểu thiệt hại cho các nhà đầu tư khi tham gia đầu tư chứng
khoán trên thị trường chứng khoán.
Giảm chi phí giao dịch.
Do lợi thế của việc chuyên môn hóa, môi giới chứng khoán giúp giảm
thiểu chi phí giao dịch, chi phí tìm kiếm đối tác khi những người mua và
trên hệ thống giao dịch trực tuyến trên internet của CTCK hoặc đặt lệnh qua
điện thoại, fax…
Bước 3: Thực hiện lệnh
Trước khi nhập lệnh vào hệ thống, CTCK cần kiểm tra lại các mục do
khách hàng điền, khi có sự tẩy xóa nhất thiết phải có sự xác nhận của khách
hàng. Các phiếu lệnh cần kiểm tra đầy đủ các thông tin của một phiếu lệnh,
tính hợp lệ của chữ ký, kiểm tra tính hợp lệ của lệnh về đơn vị giao dịch, đơn
vị yết giá, biên độ giao động giá,…Nhân viên môi giới cần kiểm tra xem số
dư tài khoản lưu ký chứng khoán có đủ số chứng khoán mà khách hàng đặt
bán đối với các lệnh bán hoặc số dư tài khoản tiền có đủ 100% giá trị chứng
khoán đặt mua đối với các lệnh mua.
Sau khi kiểm tra tính chính xác. hợp lệ của phiếu lệnh, nhân viên môi
giới sẽ chuyển lệnh của khách hàng vào hệ thống giao dịch của Sở giao dịch
chứng khoán.
Các lệnh của nhà đầu tư sau khi được nhập vào hệ thống giao dịch của
Sở sẽ được so khớp một cách tự động theo các nguyên tắc ưu tiên khi khớp
SV: Ngô Quang Hoàn
Lớp:CQ48/17.02
15
Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
lệnh. Hệ thống giao dịch của Sở sẽ thông báo tức thời kết quả khớp lệnh đến
công ty chứng khoán khi lệnh được thực hiện. CTCK sẽ xác nhận lại kết quả
với khách hàng.
Đối với các giao dịch cổ phiếu, chứng chỉ quỹ lô lớn hoặc lô lẻ và tất cả
các giao dịch trái phiếu: CTCK không áp dụng phương thức giao dịch khớp
lệnh mà thực hiện phương thức giao dịch thỏa thuận.
Bước 4: Thanh quyết toán với khách hàng
Sau khi kết thúc ngày giao dịch, toàn bộ dữ liệu về kết quả giao
dịch chứng khoán của các Sở giao dịch chứng khoán được chuyển sang
Trung tâm lưu ký để tiến hành bù trừ và thanh toán. Việc bù trừ thanh
yêu cầu khách hàng…).
Tính tin cậy, trung thực, công bằng
Nhân viên môi giới phải cư xử với khách hàng một cách công bằng
trong việc hướng dẫn và thực hiện cho khách hàng một các bình đẳng, không
phân biệt đối xử, sao cho khách hàng có thể sử dụng lợi ích từ thông tin của
thị trường một cách đồng đều
Tính chuyên nghiệp
Nhà phân tích cần có những lời hướng dẫn rõ ràng, dựa trên cơ sở
thông tin đầy đủ và công khai, phù hợp với mục tiêu đầu tư của khách
hàng. Nhà môi giới phải thực hiện lệnh theo yêu cầu của khách hàng, phải
thực hiện lệnh của khách hàng trước tiên.
Nhà môi giới không được sử dụng tài sản hay tài khoản giao dịch của
khách hàng để mua bán chứng khoán khác thông qua tài khoản của khách
hàng. Nhân viên môi giới không được có lợi ích gì lien quan đến lỗ hay lãi
của khách hàng.
Trong trường hợp có xung đột lợi ích, nhân viên môi giới phải công
bố rõ ràng các thông tin liên quan đến xung đột lợi ích giữa công ty và
khách hàng, giữa nhân viên môi giới và khách hàng.
SV: Ngô Quang Hoàn
Lớp:CQ48/17.02
17
Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
Tính tuân thủ
Khi thực hiện nhiệm vụ của mình người môi giới phải tuân thủ theo
đúng các quy định pháp luật, các quy định của công ty đã đề ra để đảm bảo thị
trường hoạt động theo nguyên tắc của pháp luật, diễn ra trôi chảy hơn tránh
xảy ra những tiêu cực trong hoạt động môi giới mà các nhà môi giới lợi dụng
khe hở của pháp luật nhằm thu lợi riêng cho mình.
Tính bảo mật
Trong hoạt động môi giới, nhân viên môi giới phải đảm bảo các
khả năng chấp nhận rủi ro của khách hàng, qua đó mà phục vụ khách hàng tốt
hơn và có chiến lược khách hàng thích hợp.
Tuy nhiên trong hoạt động môi giới thì mọi quyết định là do khách
hàng, người môi giới chỉ có thể đưa ra lời khuyên cho khách hàng và người
môi giới phải thực hiện theo lệnh của khách hàng mà không được đưa ra
quyết định thay cho khách hàng.
1.3. HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN.
1.3.1. Hiệu quả hoạt động môi giới chứng khoán.
Hiệu quả hoạt động môi giới chứng khoán thể hiện ở những lợi ích mà
nó mang lại cho công ty chứng khoán khi bỏ tiền ra đầu tư để thực hiện hoạt
động này. Vì vậy, hoạt động môi giới chứng khoán hiệu quả khi:
Làm tăng vị thế và uy tín của công ty đồng thời mở rộng quan hệ với
khách hàng trong và ngoài nước.
Đem lại khoản thu lớn thường xuyên và ổn định cho công ty.
Muốn đạt được điều đó, CTCK phải cung cấp các dịch vụ môi giới
nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất, có sức cạnh tranh
song vẫn đảm bảo tính an toàn và sinh lợi đồng thời vẫn tuân thủ đúng pháp
luật và các quy định về chứng khoán và thị trường chứng khoán.
SV: Ngô Quang Hoàn
Lớp:CQ48/17.02
19