VẬN DỤNG CÁC MÔ HÌNH KINH TẾ VĨ MÔ ĐỂ GIẢI THÍCH CHÍNH SÁCH GIẢM LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2012 – 2013 - Pdf 27

DANH SÁCH THÀNH VIÊN
STT HỌ VÀ TÊN MÃ SỐ SINH VIÊN
1 Trần Thị Thanh Nga 1113120130
2 Trần Diệu Linh 1111120125
3 Nguyễn Thị Ngọc Hà 1111120221
4 Đào Thị Thu Hương 1111120165
5 Nguyễn Khánh Linh 1112120124
6 Đàm Thu Hiền 1117120161
7 Bùi Thị Hồng Như 1111120185
8 Vũ Quyết Tiến 1113120230
9 Đinh Quỳnh Anh 1112120152
10 Trịnh Khánh Huyền 1111120223
11 Nguyễn Mai Trang 1111120139
12 Nguyễn Khánh Nhi 1111120210
13 Trần Thị Hà Châu 1111120106
14 Trần Ngọc Thu Hà 1117120158
1
MỤC LỤC
2
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển của thế giới, Việt Nam đã và đang từng bước đi lên và
đạt được những thành tựu to lớn, đặt biệt là lĩnh vực kinh tế. Trong đó công cuộc
đổi mới nền kinh tế ngành Ngân hàng đã đạt được những bước quan trọng trong hệ
thống các công cụ lãi suất được coi là nhạy cảm nhất, nó thực sự là vấn đề nóng
bỏng nhất, thu hút nhiều sự quan tâm của xã hội.
Lãi suất với tư cách là công cụ của chính sách tiền tệ, đặc biệt trong cơ chế thị
trường, lãi suất trở thành công cụ đắc lực để Ngân hàng nhà nước (NHNN) thực thi
chính sách tiền tệ nhằm điều tiết các mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư, lạm phát
và tăng trưởng kinh tế…
Có nhiều loại lãi suất khác nhau như lãi suất tiền vay, lãi suất tiền gửi, lãi suất
tái cấp vốn, lãi suất liên ngân hàng,… Lãi suất còn là một hiện tượng tiền tệ phản

người cho vay để được quyền sử dụng vốn, nó vận động tuân theo quy luật cung
cầu, xác định trên cơ sở cân bằng giữa nhu cầu về vốn vá cung về vốn trên thị
trường.
- Lãi suất chính là tín hiệu thị trường tham gia vào việc nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn và phân bổ nguồn vốn một cách hợp lý.
- Ngoài ra khái niệm lãi suất như là chi phí cơ hội của việc giữ tiền cũng tương
đối phổ biến.
b) Vai trò:
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập chung quan liêu bao cấp vai trò của lãi
suất được nhìn nhận một cách hết sức mờ nhạt và lệ thuộc nhiều khi được hiểu như
là một sự phan phối cuối cùng của sản phẩm giữa những người sản xuất và người
cho vay.
Chuyển sang nền kinh tế thị trường lãi suất giữ vai trò hết sức quan trọng là
một trong những đòn bẩy kinh tế .Nó tác động đến tất cả các lĩnh vực của nền kinh
tế quốc dân nói chung vai trò của lãi suất được thể hiện ở nội dung sau đây.
• Lãi suất là công cụ để khuyến khích tiết kiệm đầu tư:
Lãi suất là công cụ khuyến khích lợi ích vật chất để thu hút các khoản tiết
kiệm của các chủ thể kinh tế tạo nên quỹ cho vay đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế.
• Lãi suất ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:
Chính sách lãi suất là một bộ phận trong chính sách tiền tệ của Nhà nước
nhằm điều tiết lưu thông tiền tệ kích thích điều tiết và hướng hoạt động sản xuất
kinh doanh của các đơn vị kinh tế:
4
− Lãi suất phải trả cho khoản vay là khoản chi phí của doanh nghiệp .Do vậy ,lãi suất
sẽ khuyến khích các doanh nghiệp vay vốn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh .
Ngược lại, lãi suất cho vay cao sẽ thu hẹp đâu tư của các doanh nghiệp .
− Lãi suất là công cụ buộc các doanh nghiệp phải sử dụng hiệu quả . những ưu đãi về
lãi suất về điều kiện cung cấp tín dụng và thanh toán là công cụ của Nhà nước
nhằm khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các nghành các sản phẩm cần ưu
tiên trong chiến lược phát triển kinh tế.

những thay đổi trên thực tế về lạm phát.
5
2. Mối quan hệ giữa lãi suất và các biến số kinh tế:
Lãi suất là một trong những biến số được theo dõi một cách chặt chẽ nhất
trong nền kinh tế. Diễn biến của nó được đưa tin hầu như hàng ngày trên báo chí vì
nó trực tiếp ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của mỗi người chúng ta và có
những hệ quả quan trọng đối với sức khoẻ của nền kinh tế. Vì nó tác động to lớn
đối với việc tăng hoặc giảm khối lượng tiền lưu thông, thu hẹp hay mở rộng tín
dụng, khích lệ hay hạn chế huy động vốn, kích thích hay cản trở đầu tư, tạo lợi
nhuận hay khó khăn cho hoạt động ngân hàng.
Hơn nữa, lãi suất có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới nhiều nền kinh tế vĩ
mô khác.
a. Lãi suất và đầu tư:
Lượng cầu về hãng đầu tư phụ thuộc vào lãi suất vì lãi suất phản ánh chi phí
vốn để tài trợ cho đầu tư, việc tăng lãi suất làm giảm số lượng dự án đầu tư có lãi,
bởi vậy nhu cầu về hãng đầu tư giảm do đó đầu tư tỷ lệ nghịch với lãi suất.
Lãi suất thực tế phản ánh chi phí thực sự của tiền vay do vậy chúng ta nhận
định đầu tư phụ thuộc vào lãi suất thực tế chứ không phải lãi suất là lãi suất danh
nghĩa.
b. Lãi suất với tiêu dùng và tiết kiệm:
Thu nhập của cá nhân bao giờ cũng được chia làm hai phần là tiêu dùng và tiết
kiệm. Tiêu dùng là một hàm phụ thuộc vào thu nhập khả dụng. Ở mỗi giai đoạn của
chu kỳ kinh doanh, sự thắt chặt hay nới lỏng của chính sách thuế mà ngân sách
dành cho chi tiêu bị tác động. Tiết kiệm bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố như thu
nhập, tập quán tiết kiệm và lãi suất. Khi lãi suất tăng làm tăng ý muốn tiết kiệm và
sự sẵn sàng chi tiêu giảm xuống.
c. Lãi suất và lạm phát:
Lạm phát sự tăng lên liên tục của mức giá, là hiện tượng mất giá của đồng
tiền. Lý luận và thực tiễn đã thừa nhận mối quan hệ chặt chẽ giữ lãi suất và lạm
phát. Fisher chỉ ra rằng lãi suất tăng cao trong thời kỳ lạm phát cao. Có nhiều

cho họ.
Đối với thị trường chứng khoán và các hàng hóa khác, các công ty, tập đoàn
sở hữu các cổ phiếu và hàng hóa sẽ có sự gia tăng mới trong dòng tiền của họ bằng
hoạt động mua bán và đầu tư.
- Tác động tích cực đến sự tăng trưởng của nền kinh tế:
Lợi nhuận từ việc tiết kiệm không những làm tăng trưởng các khoản đầu tư
mà còn kích thích sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Các tập đoàn, công ty trở
7
nên an toàn hơn về mặt tài chính, tạo nhiều công ăn việc làm mới, từ đó tỉ lệ thất
nghiệp cũng giảm xuống.
Sự gia tăng các khoản tiết kiệm cũng góp phần thúc đẩy nền kinh tế toàn cầu.
Ngược lại, việc giảm tiết kiệm có thể cho thấy tín hiệu về một nền kinh tế suy giảm
nhanh chóng, từ đó kéo theo sự suy giảm trong các vấn đề khác.
b. Đầu tư:
- Tác động tới tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế:
Đối với tổng cầu: Trên thực tế, đầu tư vừa tạo ra các sản phẩm mới cho nền
kinh tế vừa tiêu thụ khối lượng lớn hàng hóa dịch vụ trong quá trình thực hiện đầu
tư.
Đối với tổng cung: Đầu tư có tính chất lâu dài và nó làm cho đường tổng
cung dài hạn của nền kinh tế tăng lên.
- Ảnh hưởng hai mặt tới sự ổn định nền kinh tế:
Nếu đầu tư có ảnh hưởng tới tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế không ăn
khớp với thời gian thì nó có thể phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế. Ngược lại, nếu
đầu tư tốt có thể giúp cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển.
- Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế:
Mối quan hệ giữ tốc độ tăng trưởng và vốn đầu tư được minh họa qua hàm
Harrod- Domar:
k = i/ g
Trong đó: + k: hệ số gia tăng vốn trên sản lượng
+ i : vốn đầu tư

khó khăn.
• Sự suy giảm tốc độ tăng trưởng nền kinh tế: tăng trưởng GDP năm
2012 của Việt Nam ở mức thấp nhất trong vòng 13 năm qua, giảm còn
5.03%.
• Vĩ mô được cải thiện:
Tình trạng thâm hụt ngân sách và tụt giá tiền đồng cũng gần như được chế
ngự. Dự trữ ngoại hối trong năm 2012 đã tăng lên đáng kể so vớí 2011: từ 9 tỷ
USD năm 2011 lên 20 tỷ USD vào cuối năm 2012.
• Tình hình nợ xấu:
Các ngân hàng quá mạnh tay cho vay trong vòng hơn 1 thập kỷ, kết hợp với
lãi suất cao nhất khu vực năm 2011 khiến nợ xấu tăng cao. Theo báo cáo của các tổ
chức tín dụng, đến ngày 31/5/2012, nợ xấu của hệ thống là 117.723 tỷ đồng, chiếm
4,47% so với tổng dư nợ tín dụng. Trong đó, nợ xấu của nhóm ngân hàng thương
mại nhà nước là 54,6 ngàn tỷ đồng, chiếm 3,96% dư nợ tín dụng của nhóm ngân
hàng thương mại nhà nước; Nợ xấu của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần là 41
ngàn tỷ đồng, chiếm 4,54% dư nợ tín dụng của nhóm ngân hàng thương mại cổ
phần.
10
• 'Thanh lọc' ngành ngân hàng :
Sự trượt dốc của VN-Index thể hiện tính liên thông của ngành ngân hàng và
chứng khoán, liên thông giữa các ngân hàng với nhau qua sở hữu chéo, cũng như
sự phụ thuộc quá lớn vào tâm lý thị trường của chứng khoán Việt Nam.
• Bất động sản đóng băng:
Chính phủ Việt Nam đã ra hàng loạt quyết định giải cứu thị trường bất động
sản, trong đó có việc tái cơ cấu thị trường, giảm lãi suất cho vay mua nhà, ưu đãi
dự án nhà xã hội, giải quyết nợ xấu và thúc đẩy khu vực xây dựng.
• Doanh nghiệp phá sản:
− Khoảng 55 nghìn doanh nghiệp giải thể.
− Tỷ giá hối đoái ít thay đổi.
− Thị trường vàng không ổn định, tăng giảm bất thường.

8%/năm.
Đây là mức lãi suất tiền gửi thấp nhất kể từ tháng 8 năm 2011, sau 6 lần điều
chỉnh của Ngân hàng Nhà nước.
Lãi suất huy động giảm là một tín hiệu tốt để doanh nghiệp có thể trông đợi lãi
suất cho vay giảm, góp phần cải thiện phần nào khó khăn về vốn. Tuy nhiên, các
doanh nghiệp cho rằng, với sức mua kém trong giai đoạn hiện nay, dù lãi vay có hạ
cũng khó giải quyết vấn đề. Lãi suất cho vay chỉ nên duy trì ở mức 10% đến 12%,
nhưng mức tốt nhất nên dưới 10%. Đó cũng là mục tiêu của NHNN, tạo cơ hội cho
các doanh nghiệp Việt Nam vay vốn để khôi phục sản xuất cũng như vực dậy sức
khỏe nền kinh tế.
2. Phân tích chính sách giảm lãi suất của NHNN:
12
a. Mục tiêu của chính sách hạ lãi suất:
Như chúng ta đã biết, lãi suất là một công cụ vĩ mô quan trọng trong điều hành
kinh tế của Chính phủ. Một biến số quan trọng trong nền kinh tế, có tác động lan
tỏa đến hầu hết các lĩnh vực kinh doanh, đăc biệt là về thị trường vốn của nước ta
hiện nay.
Do đó, chỉ cần có các động thái nhỏ tác động vào lãi suất như tăng hoặc giảm
sẽ có ảnh hưởng khá lớn đến nội tại nền kinh tế Việt Nam.
Vì vậy, đây là công cụ hữu hiệu để chính phủ sử dụng để điều hành và quản lí
nền kinh tế. Tùy vào từng điều kiện, bối cảnh của quốc gia mà NHNN sẽ đại diện
cho cơ quan quản lí (chính phủ) sẽ có những động thái tích cực tác động vào lãi
suất nhằm hướng đến những mục tiêu cụ thể trong thời gian đó.
Đối với nước ta hiện nay, khi động thái hạ lãi suất vừa qua của NHNN được
các doanh nghiệp và các chuyên gia đánh giá cao trong bối canh kinh tế khó khăn
hiện nay. Có thể chỉ ra các mục tiêu mà NHNN muốn hướng tới của việc hạ lãi suất
như:
• Thứ nhất: Giảm lãi suất để kích thích đầu tư
Xét trong phương diện một quốc gia, các nhà kinh tế học đã chỉ ra rằng mối
quan hệ giữa lãi suất và đầu tư là hết sức chặt chẽ. Có thể nói lãi suất giảm thì sẽ

như bất động sản, chứng khoán, vàng… đang là những kênh đầu tư khá khát vốn
trong thời điểm hiện tại. Nếu như bất động sản các doanh ngiệp thiếu vốn để tiếp
tục hoàn thiện dự án, còn chứng khoán mỗi phiên giao dịch tính thanh khoản thấp
và giá trị giao dịch khá thấp so với trước đây. Vì vậy, hơn lúc nào hết cần có một
giả pháp khơi thông nguồn vốn chảy vào các kênh này và hạ lãi suất nói chung và
hạ lãi suất tiền gửi nói riêng đang mang lại những tín hiệu lạc quan cho thị trường,
kết hợp với các giải pháp khác của chính phủ.
• Thứ ba: Giảm lãi suất để Doanh nghiệp có khả năng tiếp cận với nguồn vốn giá
rẻ:
Trong thời kì khó khăn như hiện nay, khi các doanh nghiệp đang rất khó khăn
trong việc huy động và tiếp cận nguồn vốn sản suất, giảm lãi suất tiết kiệm là một
cơ sở cho việc hạ lãi suất cho vay của ngân hàng. Nhiều doanh nghiệp đã phản ánh
đang được tiếp cận vốn vay khá thuận lợi với lãi suất 12% 1 năm. Thậm chí, Công
ty cổ phần nhựa Tân Phú đã vay được vốn với mức lãi suất 10%/năm do là doanh
nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu và có tín nhiệm cao với ngân hàng.
Tuy nhiên, giảm lãi suất chưa phải là cởi được nút thắt cho doanh nghiệp. Bởi
lẽ, muốn tiếp cận vốn vay thì doanh nghiệp còn phải giải quyết hai vấn đề lớn là
14
khả năng tiêu thụ hàng hóa và nợ xấu. Doanh nghiệp không có khả năng tiêu thụ
hàng hóa và nợ xấu vẫn còn thì cũng không mạo hiểm vay vốn, mở rộng kinh
doanh. Thực tế, chỉ số hàng tồn kho mặc dù có xu hướng giảm dần nhưng vẫn ở
mức cao. Tại thời điểm 1/4/2013 chỉ số tồn kho của toàn ngành công nghiệp chế
biến, chế tạo tăng 13% so với cùng thời điểm năm trước. Chỉ số sản xuất công
nghiệp quý I/2013 chỉ tăng 4,9%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2012 (5,9%) phản
ánh khả năng hấp thụ vốn và năng lực sản xuất của nền kinh tế đã bị ảnh hưởng
nghiêm trọng. Và đến cuối tháng 2/2013, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của hệ thống
ngân hàng trong nước đang ở mức 6%, giảm từ trên 8% năm 2012. Rõ ràng, tồn
kho và nợ xấu tiếp tục là điểm nghẽn của tăng trưởng kinh tế và khả năng hấp thụ,
tiếp cận vốn của doanh nghiệp.
b. Giải thích chính sách hạ lãi suất:

I
1
r
2
r
1
Đồ thị: Hàm đầu tư phụ thuộc vào biến nội sinh lãi suất
Nếu tiết kiệm phụ thuộc vào lãi suất, thì sự dịch chuyển vào trong của đường đầu tư
làm lãi suất giảm và khối lượng đầu tư. Lãi suất thấp hơn làm cho mọi người giảm
tiết kiệm và điều này làm đầu tư giảm đi.
Lãi suất là biến nội sinh nên các điểm trên đồ thị di chuyển chứ không dịch chuyển
cả đường I. Lãi suất giảm từ r
1
xuống r
2
khiến I
1
tăng lên I
2
16
• Nguyên nhân Ngân hàng nhà nước bây giờ mới giảm lãi suất cho
vay (nghị quyết tháng 3 năm 2013 đặt giá trần cho lãi suất ngân
hàng)
(Lãi suất thực tế chính là chi phí đầu tư)
Trước đó, vì lạm phát cao nên lãi suất cao, nên tỷ lệ tiết kiệm tăng, mà bất
động sản, đầu tư bị đình trệ, khủng hoảng nên người dân chọn cách an toàn là đi
gửi tiền, không đầu tư vào các kênh đó nữa.Bên cạnh đó, đầu tư thì ngân hàng cho
vay nhưng không đòi được, lãi suất lại cao quá khiến các doanh nghiệp điêu đứng
vì không có vốn và không dám đi vay.
Đến năm nay: Lạm phát bốn tháng đầu năm chỉ ở mức 2,41% so với cuối năm

1
→LM
2
), thu nhập tăng( Y
1
→Y
2
).
Tăng cung tiền làm LM dịch chuyển
Khi NHNN giảm các lãi suất chủ chốt như lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu,
lãi suất liên ngân hàng sẽ tác động đến các ngân hàng thương mại giúp cho các
ngân hàng này có nhiều tiền hơn.
Ví dụ khi hạ lãi suất tái chiết khấu, hạ dự trữ bắt buộc xuống thì ngân hàng sẽ có
thêm tiền trong ngân hàng mà k phải nộp lại cho NHNN vì vậy sẽ có thêm tiền
cung ứng cho nền kinh tế , tức cho vay ra, vì vậy NHNN đã làm biện pháp gián
tiếp đẩy cung tiền lên làm cho đường LM dịch chuyển sang phải.
Ví dụ nếu trước đây NHNN quy định sự trự bắt buộc là 5 đồng. Bây giờ giảm các
loại lãi suất chủ chốt xuống, NHNN chỉ bắt dựu trữ 3, còn 2 đồng kia NH thương
mại đêm cho doanh nghiệp vay tức là đẩy cung tiền trong nền kinh tế lên. Các lãi
suất kia tương tự tái chiết khấu ,liên ngân hàng vì thế mới làm dịch chuyển LM,
lãi suất cho vay của các NHTM k tác động đến LM . LM là đại diện cho chính sách
tiền tệ.
PHẦN III: ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT CHÍNH SÁCH
1. Đánh giá chung:
a. Vai trò vĩ mô:
Bằng cách kiểm soát lãi suất,Ngân hàng nhà nước có thể chi phối được sự
tăng trưởng của nền kinh tế, bằng cách tăng hoặc giảm lãi suất. Ngân hàng có thể
làm yếu đi khả năng cho vay của NHTM và do đó thực hiện chính sách tiền tệ,
giảm bớt khối lượng tiền tệ cần thiết cho việc mở rộng sản xuất kinh doanh và chi
tiêu của người tiêu dùng.

thích người dân gửi tiết kiệm vì nó có khả năng sinh lời cao và an toàn hơn việc
tích trữ tài sản, nhờ đó nguồn vốn chung của ngân hàng tăng lên và khối lượng tiền
phục vụ cho sản xuất và kinh doanh cũng tăng lên.
Tóm lại, lãi suất có tác động đến nhiều mặt của kinh tế, đến sự phát triển và
tăng trưởng kinh tế. Một chính sách lãi suất hợp lí sẽ tạo điều kiện để thu hút các
khoản vốn nhàn rỗi, vừa thúc đẩy đầu tư trong nền kinh tế, giúp nền kinh tế phát
triển và tăng trưởng ổn định.
b. Vai trò vi mô:
Lãi suất là yếu tố thúc đẩy kinh doanh có hiệu quả của DN, bù đắp chi phí và
đem lại lợi nhuận cho ngân hàng.
DN vay vốn của NH phải chịu lãi với khoản tiền mình đã vay để kinh doanh
vì thế DN phải cố kinh doanh có hiệu quả để đảm bảo khả năng trả nợ đúng hạn.
Còn hoạt động tài chính của NH là huy động vốn và cho vay. NH phải trả lãi cho
người gửi tiền và thu lãi của những người vay vốn vì vậy NH cũng phải tính toàn
mức lãi suất hợp lí để bù đắp các chi phí nghiệp vụ và có lợi cho mình .
2. Sự ảnh hưởng của chính sách lãi suất tới nền kinh tế thị trường:
19
- Ảnh hưởng của lãi suất trên thị trường VN đối với hành vi cá nhân, các doanh
nghiệp.
+ Đối với cá nhân: Mức lãi suất tiết kiệm thực giảm từ năm 2007 đến 2009 (từ
9,6% đến 9,4%) nhưng tiêu dùng có xu hướng tăng (tổng mức bản lẻ hàng hóa và
dịch vụ loại trừ tăng giá tăng từ 15% đến 30,8%).
Như vậy có thể thấy lãi suất thực trong giai đoạn này có tác động cùng chiều
đến hành vi tiết kiệm và ngược chiều với tiêu dùng của các cá nhân. Có nghĩa là lãi
suất thực giảm sẽ khuyến khích tiêu dùng hơn là tiết kiệm.
Lãi suất giảm người dân còn có thể có thêm nhiều kênh đầu tư khác ngoài việc
chỉ gửi tiết kiệm, từ đó sẽ kích thích sản xuất và tiêu dùng.
+ Đối với doanh nghiệp:
Năm 2011 và 2012, hàng vạn DN bị nhấn chìm bởi vòng xoáy lãi suất cao, thì
hiện nay, số DN hồi sinh trở lại là không nhỏ. Đối với các DN vừa và nhỏ, động

vào cuối năm, làm lạm phát kì vọng cũng sẽ tăng lên. (nhưng mức lạm
phát kì vong vẫn dưới 1 con số).
• Trên thực tế tuy lãi suất giảm nhưng để tiếp cận đc vốn vay của ngân
hàng phần lớn vẫn là các doanh nghiêp, tập đoàn kinh tế lớn còn với các
doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ vẫn là vẫn đề nan giải.
21
KẾT LUẬN
Có thể nói vấn đề lãi suất là một trong những vân đề có tác động không nhỏ
đến nền kinh tế đất nước, nó ảnh hưởng đến cung cầu, quỹ cho vay, rủi ro và kỳ
hạn, lạm phát dự tính, các chính sách vĩ mô của chính phủ, sự phát triển của nền
kinh tế trong chu kỳ kinh doanh, cũng như chính sách tiền tệ của NHNN.
Do đó, một chính sách lãi suất đúng đắn sẽ đem lại một sự ổn định vĩ mô, phát
triển kinh tế. Song một chính sách lãi suất sai lầm có thể kéo theo nhiều hệ quả
khôn lường khác. Và việc cần làm lúc này là chính phủ cần tìm ra nhiều biện pháp
mới và hữu hiệu để giải quyết bài toán lãi suất hiện đang rất nhức nhối của Việt
Nam hiện nay, cũng như sử dụng chúng một cách linh hoạt, điều chỉnh sao cho phù
hợp với nền kinh tế đất nước. Muốn vậy, chúng ta phải biết nhìn vào quá khứ để
học tập, cũng như nhìn vào tương lai để tiến tới, từ đó, nhìn vào hiện tại xem chúng
ta cần làm gì để đưa đất nước phát triển ổn định và bền vững.
Không chỉ có chính phủ làm điều đó, mỗi chúng ta cũng cần suy nghĩ thật thấu
đáo, mạnh dạn đưa ra những kiến nghị của mình để cùng nhau vượt qua, không chỉ
thử thách về “Lãi suất” mà còn nhiều thử thách khác rất cần được sự quan tâm của
cộng đồng. Mong rằng bài tiểu luận của chúng em phần nào đóng góp được những
ý tưởng mới giúp giải quyết vấn đề này.
22
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. PGS.TS Nguyễn Văn Công, 2006, Bài giảng và thực hành lý thuyết
kinh tế vĩ mô 2, Trường đại học Kinh tế quốc dân NXB Lao động.
2. Mankiw, N.G., 2003, Macroeconomics, fifth edition, Harvard University,
Worth Publishers.\


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status