1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong những năm gần đây, thế giới đã chứng kiến sự bùng nổ của hoạt động
du lịch trên toàn cầu. Du lịch đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều
quốc gia và kinh tế du lịch đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế thế giới
và là nhu cầu cần thiết cho mọi người.
Nghị định 45/CP của chính phủ về đổi mới quản lý và phát triển ngành du
lịch đă coi du lịch là ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế -
xă hội của đất nước.
Sự đổi mới do Đảng ta lănh đạo và khởi xướng đă thu được những thành tựu
bước đầu quan trọng trên các mặt kinh tế - xã hội - ngoại giao. Nhận thức về vai trò,
vị trí, hiệu quả nhiều mặt của du lịch trong nền kinh tế và hoạt động xã hội, ngành
kinh doanh du lịch đă cố gắng xây dựng lực lượng, phát triển cơ sở vật chất kỹ
thuật, nâng cao chất lượng dịch vụ, mở rộng qui mô hoạt động nhằm thoả măn nhu
cầu của khách du lịch, với mục đích đem lại lợi nhuận cao, đồng thời hỗ trợ các
ngành kinh tế khác cùng phát triển mạnh lên.
Tuy nhiên trong kinh doanh du lịch còn có nhiều tồn tại cần được khắc phục
như tình trạng thất thoát, lăng phí vật liệu chế biến, tiền vốn…Điều này đòi hỏi cần
phải tăng cường quản lý chặt chẽ trong ngành du lịch mà đặc biệt là chi phí sản xuất
và tính giá thành. Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành là khâu quan trọng
trong toàn bộ công tác kế toán của các doanh nghiệp sản xuất nói chung, các doanh
nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch nói riêng. Chi phí sản xuất là những chi phí về sử
dụng tài sản, vật liệu, lao động trong quá trình sản xuất, là cơ sở để cấu tạo nên giá
thành sản phẩm. Vì vậy việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm có hiệu quả những loại tài
sản, nguyên vật liệu, lao động, tiền vốn đi đôi với việc phấn đấu hạ giá thành sản
phẩm phải chăng là một nhiệm vụ chủ yếu của doanh nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu
quản lý kinh tế của doanh nghiệp mà còn là một trong những điều kiện kiên quyết
để tăng tích luỹ xă hội, tăng tốc độ quy mô phát triển sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, cải thiện và nâng cao đời sống của người lao động.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, tác giả đã mạnh dạn chọn đề
- Luận văn thạc sĩ: “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm tại Công ty cổ phần đầu tư và phát triển xây dựng Hà Tây”, Nguyễn Thị Ánh
Nguyệt (Năm 2012) - Trường Học viện tài chính. Đề tài đã trình bày khái quát
những lý luận cơ bản của kế toán chi phí và giá thành trên phương diện kế toán tài
chính và kế toán quản trị, phân tích thực trạng kế toán, đánh giá được những hạn
chế và nguyên nhân khắc phục chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Công
ty Cổ phần đầu tư và phát triển xây dựng Hà Tây. Trên cơ sở đó đề xuất những định
3
hướng hoàn thiện công tác kế toán của công ty trên phương diện KTTC và KTQT.
Một điểm mới của đề tài này là ứng dụng kế toán quản trị trong hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp, cụ thể như sau:
+ Tổ chức vận dụng phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận
trong việc ra quyết định kinh doanh
+ Hoàn thiện tổ chức bộ máy kế toán đảm bảo thực hiện kế toán quản trị
+ Hoàn thiện việc lập dự toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
+ Xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ phục vụ cho việc quản trị nói chung và
quản trị chi phí sản xuất và giá thành nói riêng.
- Luận văn thạc sĩ: “Hoàn thịên kế toán chi phí kinh doanh và tính giá thành
sản phẩm dịch vụ buồng ngủ ở các khách sạn du lịch tại Tổng cục du lịch Việt
Nam”, Nguyễn Thị Hương, năm 2005. Đề tài đã trình bày một số vấn đề lý luận cơ
bản về kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại doanh nghiệp, thực trạng công
tác kế toán, đánh giá kết quả đạt được, những ưu điểm, hạn chế, đề xuất những giải
pháp nhằm hoàn thiện kế toán chi phí kinh doanh và tính giá thành sản phẩm dịch
vụ buồng ngủ trong các khách sạn du lịch thuộc Tổng cục du lịch Việt Nam. Tuy
nhiên, luận văn chỉ đi khai thác và phân tích những khía cạnh KTTC, chưa thấy đề
cập KTQT trong hoạt động kinh doanh.
- Bài “Kế toán quản trị chi phí với hoạt động kinh doanh du lịch”, Nguyễn Đăng
Quốc Hưng (Năm 2011) - Trường trung học kinh tế kỹ thuật Đức Minh, Đà Nẵng.
Trong bài viết này, tác giả cũng đã trình bày được những vấn đề sau:
+ Đặc điểm kế toán quản trị chi phí trong hoạt động kinh doanh du lịch
giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành dịch vụ ăn
uống tại Công ty cổ phần tập đoàn xây dựng và du lịch Bình Minh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu những lý luận chung về kế
toán chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch và thực trạng kế toán
chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm dịch vụ ăn uống tại Công ty cổ phần tập
đoàn xây dựng và du lịch Bình Minh.
- Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung vào nghiên cứu lý luận và thực trạng kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm dịch vụ ăn uống tại Công ty cổ phần tập đoàn xây dựng
và du lịch Bình Minh dưới góc độ kế toán tài chính và kế toán quản trị. Qua đó đưa
ra các kết luận và phát hiện các vấn đề tồn tại cần khắc phục nhằm hoàn thiện hơn
kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm dịch vụ ăn uống tại Công ty.
Đề tài nghiên cứu trên cơ sở số liệu kế toán tài chính năm 2011 đến năm 2012
tại Công ty cổ phần tập đoàn xây dựng và du lịch Bình Minh.
5
5. Phương pháp nghiên cứu
Để đi sâu vào việc thực hiện nghiên cứu đề tài thì việc xác định các phương
pháp nghiên cứu sẽ là chìa khóa quan trọng để tác giả có thể hoàn thành mục tiêu
đề tài. Trong luận văn này tác giả đã sử dụng hai phương pháp nghiên cứu cơ bản
đó là phương pháp thu nhận dữ liệu và phương pháp phân tích, xử lý thông tin cụ
thể như sau:
Phương pháp thu nhận dữ liệu: Để thu thập được dữ liệu, tác giả đã sử dụng kết
hợp đồng thời một số phương pháp như: Phương pháp phỏng vấn, phương pháp
quan sát, phương pháp nghiên cứu tài liệu.
- Phương pháp phỏng vấn:
Được thực hiện thông qua việc tác giả chủ động gặp gỡ trao đổi với nhà
quản lý, đại diện các bộ phận trong Công ty nhằm mục đích thu thập những thông
tin mà phương pháp điều tra không thể có được về công tác kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành. Đối tượng được tác giả tiến hành phỏng vấn là: Giám đốc, các
điều tra thực tiễn.
Giai đoạn đầu tiên của phương pháp nghiên cứu tài liệu là giai đoạn chuẩn bị
và xác định tài liệu nghiên cứu. Đó là các tài liệu liên quan đến kế toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm dịch vụ ăn uống của Công ty, chế độ kế toán doanh
nghiệp và các chuẩn mực kế toán Việt Nam, chuẩn mực kế toán quốc tế có liên
quan; các nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về vấn đề này Quá trình
này nhằm thu thập kiến thức chuyên môn hình thành nên cơ sở lý luận vững chắc về
vấn đề nghiên cứu.
Phương pháp phân tích, xử lý thông tin:
Toàn bộ thông tin sau khi được tác giả thu nhận bằng các phương pháp khác
nhau như thông tin trên sách báo, các tạp chí webside, chế độ chính sách, luật hay
các thông tin thu nhận được qua các cuộc phỏng vấn, qua quan sát được tác giả
phân loại lại một cách khoa học, sau đó phân tích để xem xét sự phù hợp của chế độ
kế toán Việt Nam với thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành dịch vụ
ăn uống tại Công ty, diễn đạt kết quả và đưa ra kết luận. Từ đó làm cơ sở cho các
kiến nghị, đề xuất của luận văn tại Công ty cổ phần tập đoàn xây dựng và du lịch
Bình Minh.
7
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần tóm lược, lời cảm ơn, mục lục, danh mục chữ viết tắt, danh mục
sơ đồ hình vẽ, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được tác giả
chia thành ba chương như sau:
Lời mở đầu
Chương 1: Lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch.
Chương 2: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành dịch vụ ăn
uống tại Công ty cổ phần tập đoàn xây dựng và du lịch Bình Minh
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành dịch
vụ ăn uống tại Công ty cổ phần tập đoàn xây dựng và du lịch Bình Minh.
8
nước và tranh thủ sự hợp tác, hỗ trợ của quốc tế, góp phần thực hiện công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước.
9
Kinh doanh dịch vụ du lịch phát triển đã trở thành một lĩnh vực giữ vị trí ngày
càng quan trọng trong nền kinh tế của nhiều quốc gia. Với nước ta, phát triển lĩnh
vực kinh doanh dịch vụ du lịch càng trở nên cấp thiết và hiện Chính phủ cũng có
nhiều chính sách khuyến khích đầu tư phát triển lĩnh vực này. Bên cạnh đó, mức
sống của người dân ngày càng được nâng cao, nhu cầu của con người về chất lượng
dịch vụ càng khắt khe hơn. Do đó, kinh doanh dịch vụ du lịch cũng cần phải được
cải thiện để phù hợp với sự phát triển của xã hội và xác định cho mình một hướng
phát triển hiện đại, chất lượng cao, phục vụ tốt nhu cầu của du khách.
1.1.2. Đặc điểm hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch
Vốn đầu tư cho hoạt động kinh doanh du lịch thường lớn vì đặc điểm của
ngành này yêu cầu chất lượng phục vụ cao, thời gian thu hồi vốn nhanh, tỷ lệ lợi
nhuận trên vốn đầu tư lớn, là ngành kinh tế có hiệu quả cao. Đối tượng phục vụ của
ngành du lịch luôn di động và phức tạp
Kinh doanh du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, bao gồm nhiều ngành hoạt động
khác nhau như: Kinh doanh hướng dẫn du lịch, kinh doanh hàng hoá, kinh doanh
vận tải, kinh doanh ăn uống, khách sạn…Các hoạt động này có quy trình công nghệ
khác nhau, chi phí kinh doanh cũng không giống nhau.
Sản phẩm du lịch phần lớn là dịch vụ, không mang hình thái vật chất cụ thể
như hàng hóa thông dụng khác, quá trình sản xuất ra sản phẩm đồng thời là quá
trình tiêu thụ, nghĩa là các dịch vụ được thực hiện trực tiếp với khách hàng như
hướng dẫn viên du lịch, vận chuyển hành khách du lịch, kinh doanh buồng ngủ,
kinh doanh dịch vụ ăn uống.
Hoạt động kinh doanh du lịch vừa mang tính sản xuất, vừa mang đặc điểm
kinh doanh dịch vụ và mang tính chất văn hóa xã hội. Trong đó, mặt sản xuất kinh
doanh dịch vụ là cơ bản và là một ngành đặc biệt mang tính chất pha trộn đặc điểm
của nhiều ngành. Các hoạt động khác nhau đòi hỏi các doanh nghiệp phải tổ chức
các đơn vị, bộ phận thực hiện từng loại hoạt động với các yếu tố vật chất đặc điểm
1.2. Chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch
1.2.1. Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất kinh doanh dịch vụ du lịch
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thực chất là quá trình tiêu
dùng các yếu tố sản xuất kinh doanh (tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức
lao động) để tạo ra các sản phẩm, công việc, lao vụ nhất định nhằm đáp ứng nhu
cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội. Trong quá trình này, một mặt doanh nghiệp
tiêu dùng một bộ phận nguồn lực (làm phát sinh chi phí), mặt khác doanh nghiệp
tạo ra nguồn lực mới dưới dạng sản phẩm, công việc, lao vụ. Khái niệm chi phí
được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Theo nghĩa đơn giản nhất chi phí được sử
11
dụng để phản ánh giá trị của các nguồn lực đã hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản
phẩm hoặc dịch vụ nào đó.
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 “Chi phí là tổng giá trị các khoản
làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các
khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở
hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”. Như vậy, chi
phí được nhìn nhận như những khoản phí tổn đã phát sinh gắn liền với hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, được kế toán ghi nhận trên cơ sở chứng từ,
tài liệu, bằng chứng chứng minh việc phát sinh của chúng. Định nghĩa này phù hợp
khi đứng trên góc độ của đối tượng sử dụng thông tin kế toán tài chính, chủ yếu là
các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp.
Như vậy, chi phí sản xuất dịch vụ du lịch là toàn bộ các hao phí về lao động
sống và lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp chi ra trong
quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ du lịch biểu hiện bằng thước đo
tiền tệ, được tính cho một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm).
Trên góc độ của kế toán tài chính, chi phí được nhìn nhận như những khoản
phí tổn đã phát sinh gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp bao gồm các chi phí
phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh
nghiệp và các chi phí khác. Những chi phí này phát sinh dưới dạng tiền, các khoản
tương đương tiền, hàng tồn kho, khấu hao máy móc, thiết bị, được kế toán ghi nhận
- Độ lớn của chi phí phụ thuộc vào hai yếu tố cơ bản:
+ Khối lượng lao động và tư liệu sản xuất đã tiêu hao trong một thời gian nhất định
+ Giá cả các tư liệu sản xuất đã tiêu hao và tiền công của một đơn vị lao động đã
hao phí
Không ít các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh còn nhầm lẫn
giữa chi phí và chi tiêu. Vậy chi phí khác chi tiêu như thế nào?
Chi tiêu của doanh nghiệp là sự chi ra, sự giảm đi đơn thuần của tài sản bằng
tiền trong doanh nghiệp, không kể các khoản chi tiêu đó dùng vào việc gì, dùng như
thế nào. Chi tiêu trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm: Chi cho quá trình mua hàng
(chi mua sắm vật tư, hàng hóa…), chi cho quá trình sản xuất kinh doanh (chi cho
sản xuất chế tạo sản phẩm), chi cho quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa (chi vận
chuyển, bốc dỡ, quảng cáo…), chi cho hoạt động quản lý và cho các hoạt động khác
của doanh nghiệp.
Còn chi phí chỉ bao gồm những hao phí về tài sản và lao động có liên quan
đến việc tạo ra doanh thu và thu nhập để hình thành lợi nhuận của kỳ hạch toán chứ
không phải mọi khoản chi trong kỳ
13
Giữa chi tiêu và chi phí có mối liên hệ mật thiết với nhau. Chi tiêu là cơ sở
phát sinh chi phí, không có chi tiêu thì không có phát sinh chi phí. Nhưng chi tiêu
và chi phí là hai khái niệm khác nhau. Giữa chi tiêu và chi phí của doanh nghiệp
trong cùng một thời kỳ có sự khác nhau về lượng và về thời gian
*) Sự khác nhau về lượng: Chi phí của doanh nghiệp không bao gồm các khoản chi
tiêu có đặc điểm sau:
- Các khoản chi tiêu làm giảm tài sản bằng tiền nhưng làm tăng tài sản khác trong
doanh nghiệp (Ví dụ: Dùng tiền mặt, TGNH mua hàng hóa, công cụ dụng cụ…)
- Các khoản chi tiêu làm giảm tài sản nhưng đồng thời cũng làm giảm một khoản nợ
phải trả của doanh nghiệp (ví dụ: Dùng tiền để nộp thuế, trả nợ người bán, trả lương
cho nhân viên…)
Sự khác biệt này sẽ làm tổng chi tiêu và tổng chi phí của doanh nghiệp trong
một kỳ không bằng nhau.
trong quá trình sản xuất. Theo Chế độ kế toán hiện hành thì chi phí theo yếu tố được
chia ra làm năm yếu tố sau đây:
+ Chi phí nguyên liệu, vật liệu: Bao gồm toàn bộ chi phí về các loại nguyên
liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế dùng cho sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Chi phí nhân công: Bao gồm toàn bộ số tiền công phải trả nhân viên, tiền
trích BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN trên tiền lương và các khoản khác phải trả cho
người lao động.
+ Chi phí khấu hao tài sản cố định: Bao gồm toàn bộ số trích khấu hao của
những tài sản cố định dùng cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm toàn bộ số tiền trả cho các dịch vụ mua
ngoài phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như chi phí
điện, nước, điện thoại…
+ Chi phí khác bằng tiền: Bao gồm toàn bộ các chi phí khác phát sinh dùng
cho hoạt động sản xuất kinh doanh ngoài bốn chi phí nói trên.
Phân loại chi phí theo tiêu thức này cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng loại chi
phí sản xuất mà doanh nghiệp đã chi ra để lập bản thuyết minh báo cáo tài chính,
phân tích tình hình thực hiện dự toán chi phí cho kỳ sau.
b. Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích, công dụng của chi phí.
Chi phí sản xuất là toàn bộ các khoản chi phí phát sinh tại các phân xưởng, tổ đội,
bộ phận sản xuất gắn liền với hoạt động sản xuất chế tạo sản phẩm của doanh nghiệp.
Theo cách phân loại này thì chi phí sản xuất bao gồm các loại chi phí sau đây:
15
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là toàn bộ chi phí nguyên liệu phát sinh
liên quan trực tiếp đến kinh doanh dịch vụ du lịch. Trong từng hoạt động kinh
doanh, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp không giống nhau.
+ Chi phí nhân công trực tiếp: Là các khoản chi phí phải trả cho công nhân
trực tiếp thực hiện quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm, thực hiện các dịch vụ, bao
gồm lương chính, lương phụ, các khoản phụ cấp, tiền công và các khoản trích theo
tiền lương (BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN) được tính vào chi phí sản xuất trong kỳ
chế tạo sản phẩm hay quá trình mua hàng hóa để bán. Đối với doanh nghiệp sản
xuất thì chi phí sản phẩm là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công
trực tiếp và chi phí sản xuất chung, còn đối với doanh nghiệp thương mại chi phí
sản phẩm chính là giá mua hàng hóa và chi phí mua hàng hóa
Đặc điểm của chi phí sản phẩm là khi sản phẩm, hàng hóa chưa được bán
ra thì chi phí sản phẩm được phản ánh trong giá thành hàng tồn kho trên Bảng
cân đối kế toán. Khi sản phẩm, hàng hóa được bán ra thì chi phí sản phẩm sẽ
được chuyển vào chỉ tiêu giá vốn hàng bán trên báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh. Như vậy, một vòng luân chuyển của chi phí sản phẩm có thể ảnh hưởng
đến kết quả hoạt động kinh doanh của nhiều kỳ, gắn liền với nhiều rủi ro tiềm
tàng từ sự biến động của thị trường.
+ Chi phí thời kỳ: Là những chi phí để hoạt động kinh doanh trong kỳ
không tạo nên giá trị hàng tồn kho mà trực tiếp làm giảm lợi nhuận của kỳ mà
chúng phát sinh. Chi phí thời kỳ bao gồm: Chi phí bán hàng và chi phí quản lý
doanh nghiệp
Chi phí thời kỳ phát sinh ở thời kỳ nào được tính ngay ở thời kỳ đó, ảnh
hưởng đến lợi tức của thời kỳ mà chúng phát sinh. Còn chi phí sản phẩm chỉ phải
tính ở thời kỳ mà sản phẩm được tiêu thụ không phải tính ở thời kỳ mà chúng
phát sinh.
b. Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí với mức độ hoạt
động (hay theo cách ứng xử của chi phí)
Theo tiêu thức này, chi phí được phân thành 3 loại: Biến phí (chi phí khả
biến), định phí (chi phí bất biến) và chi phí hỗn hợp
- Biến phí: Là những chi phí thay đổi về tổng số, tỷ lệ với sự thay đổi của
mức độ hoạt động. Về phương diện lý thuyết, biến phí có hai dạng sau:
17
+ Biến phí tỷ lệ: Là những khoản biến phí thay đổi về tổng số, tỷ lệ thuận
với sự thay đổi của mức độ hoạt động như: Chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân
công trực tiếp trả theo sản phẩm, hoa hồng bán hàng.
Về mặt toán học, biến phí tỷ lệ có thể được biểu diễn bằng phương trình:
thức sau:
+ Định phí bắt buộc: Là định phí không dễ dàng thay đổi bằng hành động
quản trị. Định phí bắt buộc thường liên quan đến TSCĐ và cấu trúc tổ chức cơ bản
của một doanh nghiệp. Thuộc loại định phí này có các chi phí như chi phí khấu hao
nhà xưởng, bảo hiểm, lương của ban quản lý…
Về phương diện toán học, định phí bắt buộc thể hiện bằng phương trình
Y = A (A là hằng số)
Sơ đồ 1.3: Đồ thị định phí bắt buộc
+ Định phí tuỳ ý (Định phí không bắt buộc): Là những định phí có thể thay đổi
một cách nhanh chóng bằng hành động quản trị. Định phí tuỳ ý có thể được thay đổi
trong quyết định hàng năm của nhà quản trị như chi phí quảng cáo, chi phí nghiên
cứu, chi phí đào tạo nhân viên. Về mặt toán học, định phí tuỳ ý được biểu diễn bằng
phương trình sau:
Y = A
i
với A thay đổi theo bậc i
Sơ đồ 1.4: Đồ thị định phí tùy ý
Việc phân chia định phí thành định phí bắt buộc và định phí không bắt buộc
tuỳ thuộc vào quan điểm cả nhà quản trị, không có ranh giới vững chắc, chỉ mang
tính tương đối.
Y = A
Mức độ hoạt động
Tổng định phí
bắt buộc
Mức độ hoạt động
Tổng định phí tuỳ ý
19
- Chi phí hỗn hợp: Là những khoản chi phí bao gồm cả yếu tố biến phí và
rất quan trọng cần phải được xem xét cân nhắc mỗi khi lựa chọn quyết định
kinh doanh.
Cách phân loại này là căn cứ cho việc lựa chọn phương án kinh doanh phù
hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.2. Giá thành và phân loại giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch
Giá thành sản phẩm là toàn bộ chi phí sản xuất dùng để sản xuất hoàn thành
một khối lượng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ nhất định. Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu
mang tính giới hạn và xác định, vừa có tính khách quan, vừa có tính chủ quan và là
chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản trong quá trình
SXKD cũng như hiệu quả công tác quản lý chi phí của doanh nghiệp.
Giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí về lao
động sống cần thiết, lao động vật hóa và một số khoản chi phí khác mà doanh nghiệp
đã bỏ ra có liên quan đến khối lượng sản phẩm lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành.
Giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, có chức
năng đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Giá
thành phản ánh kết quả của việc sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn trong quá trình
sản xuất, đánh giá hiệu quả của các giải pháp, phương án kinh doanh, đánh giá tính
đúng đắn của các biện pháp tổ chức, kinh tế, kỹ thuật, quản lý tác động đến hoạt
động sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp đã thực hiện nhằm nâng cao năng suất
lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm sản xuất, cung ứng dịch vụ, hạ thấp chi
phí, tăng lợi nhuận. Chính vì vậy, kế toán phải tính toán đầy đủ, chính xác các
khoản chi phí sản xuất kinh doanh và những khoản chi tuy không phải là chi phí sản
xuất kinh doanh nhưng phát sinh và liên quan đến quá trình sản xuất ra sản phẩm
dịch vụ du lịch và phục vụ cho yêu cầu quản trị doanh nghiệp.
Nội dung kinh tế của giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch bao gồm các yếu tố:
(1)Yếu tố chi phí liên quan đến hao phí lao động vật hóa. Đây là các khoản chi phí
liên quan tới đối tượng lao động và tư liệu lao động mà doanh nghiệp thực sự bỏ ra
trong quá trình sản xuất sản phẩm. Yếu tố chi phí này của sản phẩm bao gồm: Chi
phí nguyên vật liệu, chi phí khấu hao TSCĐ và một số chi phí khác.
21
+ Giá thành sản xuất theo biến phí (Z
sxbp
): Là loại giá thành mà trong đó chỉ
bao gồm biến phí thuộc chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực
22
tiếp, chí phí sản xuất chung (biến phí sản xuất) tính cho sản phẩm dịch vụ du lịch
hoàn thành.
Với phương pháp này thì toàn bộ định phí sản xuất được tính toàn bộ vào
báo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ chúng phát sinh, để tham gia xác định kết quả
kinh doanh, mà không nằm trong giá thành sản xuất sản phẩm dịch vụ du lịch.
Chỉ tiêu này được tính toán nhanh chóng, đơn giản nhưng có vai trò quan
trọng trong việc phục vụ cho việc đưa ra các quyết định ngắn hạn
+ Giá thành sản xuất có phân bổ hợp lý định phí sản xuất (Z
sxhl
): Là loại giá
thành trong đó bao gồm toàn bộ biến phí sản xuất tính cho sản phẩm dịch vụ du lịch
hoàn thành và một phần định phí sản xuất được phân bổ trên cơ sở mức hoạt động
thực tế so với mức hoạt động theo công suất thiết kế (mức hoạt động chuẩn). Phần
định phí còn lại là chi phí hoạt động dưới công suất được coi là chi phí thời kỳ. Chỉ
tiêu này được sử dụng trong kiểm soát quản lý
Công thức:
Z
sxhl
= Bpsx + Đpsx * n
N
Trong đó:
Z
sxhl
là giá thành sản xuất có phân bổ hợp lý định phí sản xuất
Bpsx là biến phí sản xuất trong giá thành sản xuất dịch vụ du lịch
nghiệp để đánh giá các giải pháp kinh tế, kỹ thuật mà doanh nghiệp đang áp dụng.
+ Giá thành thực tế: Là loại giá thành dịch vụ du lịch được xác định trên cơ sở
số liệu chi phí sản xuất thực tế đã phát sinh và tập hợp được trong kỳ. Giá thành
thực tế chỉ có thể xác định được sau khi kết thúc quá trình sản xuất, chế tạo sản
phẩm dịch vụ du lịch. Nó là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả phấn đấu của
doanh nghiệp trong việc tổ chức, áp dụng các giải pháp kinh tế, kỹ thuật, là cơ sở để
xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ đó xác định
nghĩa vụ của doanh nghiệp với Nhà nước cũng như với các bên liên quan.
1.2.2.3. Quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch là hai khái niệm khác
nhau nhưng chúng có mối quan hệ mật thiết. Cả chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm đều biển hiện bằng tiền của những hao phí về lao động sống và lao động vật
hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra, là các chỉ tiêu quan trọng trong hệ thống các chỉ tiêu
kinh tế, phục vụ cho công tác quản lý doanh nghiệp và có mối quan hệ mật thiết với
doanh thu, kết quả lãi, lỗ, hoạt động sản xuất kinh doanh do vậy được chủ doanh
nghiệp rất quan tâm.
Việc sử dụng tiết kiệm chi phí sản xuất dịch vụ du lịch có ảnh hưởng trực tiếp
đến giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch. Tuy nhiên, giữa chúng có sự khác nhau:
24
- Chi phí sản xuất dịch vụ du lịch gắn liền với kỳ hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp
- Chi phí sản xuất dịch vụ du lịch gắn liền với khối lượng sản phẩm dịch vụ
chưa hoàn thành, trong khi đó giá thành lại liên quan đến khối lượng sản phẩm dịch
vụ đã hoàn thành.
- Chi phí sản xuất dịch vụ du lịch chỉ tính những chi phí phát sinh trong một
kỳ nhất định (tháng, quý, năm), còn giá thành liên quan đến cả chi phí của thời kỳ
trước chuyển sang (chi phí dở dang đầu kỳ) và chi phí của kỳ này chuyển sang kỳ
sau (chi phí dở dang cuối kỳ). Giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch thường không có
sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ, do đó giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch
trùng khớp với chi phí sản xuất dịch vụ du lịch.
là từng hoạt động kinh doanh cụ thể. Trong từng hoạt động kinh doanh cụ thể mà có
nhiều chủng loại sản phẩm dịch vụ ví dụ như đối với dịch vụ ăn uống có sản phẩm
ăn theo suất, theo bàn hoặc đặt tiệc buffett theo yêu cầu của khách. Đối với dịch vụ
buồng ngủ có các sản phẩm dịch vụ cụ thể như: Buồng đơn, buồng đôi, buồng tập
thể thì đối tượng tập hợp chi phí chi tiết cho từng loại sản phẩm dịch vụ cụ thể đó.
Theo yêu cầu và trình độ quản lý, nếu tiến hành hạch toán kinh tế nội bộ trong
doanh nghiệp thì chi phí có thể được tập hợp theo từng cơ sở, từng địa điểm kinh
doanh tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra, phân tích và xác định kết quả hạch
toán kinh tế của từng cơ sở.
Như vậy, việc xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất dịch vụ du lịch
theo đúng đối tượng quy định là khâu đầu tiên quan trọng của công tác kế toán tập
hợp chi phí, có tác dụng tích cực cho việc tăng cường quản lý kinh doanh và chi phí
kinh doanh, cho công tác hạch toán kinh tế (nội bộ và toàn đơn vị), phục vụ kịp thời
cho công tác tính giá thành sản phẩm dịch vụ. Xác định đúng đối tượng tập hợp chi
phí sản xuất dịch vụ du lịch là một trong những điều kiện chủ chốt để tính giá thành
sản phẩm dịch vụ được chính xác.
1.3.1.2. Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất kinh doanh
Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất là cách thức mà kế toán sử dụng để tập
hợp, phân loại các khoản chi phí sản xuất phát sinh trong một kỳ theo các đối tượng
tập hợp chi phí đã xác định. Nội dung cơ bản của phương pháp kế toán tập hợp chi
phí sản xuất là căn cứ vào các đối tượng tập hợp chi phí sản xuất đã xác định để mở