MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong những năm vừa qua, thực hiện chủ trương xây dựng nhà nước
pháp quyền XHCN nhà nước ta đã chú trọng việc xây dựng, hoàn thiện hệ
thống pháp luật, nhiều văn bản pháp luật được ra đời nhằm điều chỉnh các
quan hệ xã hội trên mọi lĩnh vực của cuộc sống. Tuy nhiên để hệ thống pháp
luật đó phát huy được vai trò điều chỉnh của mình thì đòi hỏi nhà nước cần
phải tiến hành nhiều biện pháp tổ chức thực hiện pháp luật một cách dồng bộ.
Hiện nay ở nước ta, ý thức pháp luật và nếp sống làm việc theo Hiến
pháp và pháp luật của nhân dân, nhất là ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa
còn rất hạn chế, tình trạng vi phạm pháp luật do thiếu hiểu biết pháp luật còn
khá phổ biến.
Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là do công tác tuyên
truyền, giáo dục, phổ biến nâng cao kiến thức pháp luật còn chưa thực sự
được coi trọng, ý thức pháp luật, văn hóa pháp lý của nhân dân còn thấp, chưa
đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt
Nam - Nhà nước thực sự sủa dân, do dân, vì dân. Do vậy, đổi mới, nâng cao
chất lượng công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật đang là một
yêu cầu và nhiệm vụ đặt ra hết sức cấp bách và mang tính chiến lược ở nước
ta hiện nay.
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu để có một cơ sở lý luận vững vàng,
có kế hoạch, chương trình, nội dung, hình thức và biện pháp phổ biến, tuyên
truyền, giáo dục pháp luật cho phù hợp với từng đối tượng là mối quan tâm
của Đảng và Nhà nước ta.
Công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong thời gian qua
đã đạt được những kết quả tốt, góp phần vào yêu cầu quản lý Nhà nước bằng
pháp luật, từng bước nâng cao ý thức pháp luật cho cán bộ và nhân dân đảm
bảo mục tiêu: “Mọi người sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”.
Tuy nhiên trong thực tế công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp
luật còn bị coi nhẹ, chưa được đặt ngang tầm với yêu cầu quản lý xã hội, quản
lý Nhà nước bằng pháp luật. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay hệ thống pháp
Đề tài sử dụng phương pháp Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của
Triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ CHí Minh và quan điểm của Đảng Cộng
sản Việt nam, đề tài cũng sử dụng một số phương pháp khác như: Phân tích,
so sánh, khảo sát, xã hội học…
5. Kết cấu đề tài:
Ngoài Lời mở đầu, kết luận và Tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương;
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về phổ biến, tuyên truyền, giáo dục
pháp luật.
Chương 2: Thực trạng công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp
luật ở Hưng yên thời gian qua.
Chương 3: Một số giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng công tác phổ
biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật ở Hưng yên thời gian tới.
Chương 1
MỘT Sè VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TUYÊN TRUYỀN,
PHæ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
1.1. KHÁI NIỆM PHæ BIẾN, TUYÊN TRUYỀN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
Để quản lý xã hội một cách hiệu quả, nhà nước có thể sử dụng nhiều loại
công cụ, phương tiện khác nhau, trong đó pháp luật được coi là phương tiện
để quản lý xã hội hiệu quả nhất. Để pháp luật thực sự đi vào cuộc sống, đảm
bảo tốt vai trò là công cụ quản lý xã hội của mình thì cần phải phổ biến, tuyên
truyền, giáo dục pháp luật đến tất cả các đối tượng trong xã hội, trên cơ sở
hiểu biết pháp luật, các chủ thể mới có thể tham gia tích cực vào các quan hệ
xã hội, đảm bảo thực hiện pháp luật một cách nghiêm minh.
1.1.1. Định nghĩa.
Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật là hoạt động phức tạp bao
gồm nhiều công việc khác nhau song đều nhằm mục đích trang bị kiến thức
pháp luật cho các đối tượng quản lý của nhà nước.
Phổ biến: Là hoạt động thông báo một cách rộng rãi để cho đông đảo
người biết, bằng cách truyền đạt trực tiếp hay thông qua hình thức nào đó.
Tuyên truyền: Là hoạt động giải thích để thuyết phục mọi người tán
tượng giáo dục nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp lý, tình cảm và
hành vi phù hợp với các đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành với các hình
thức, phương tiện, phương pháp đặc thù.
Tóm lại, phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật là hoạt động có định
hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể tác dụng lên đối tượng nhằm hình
thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm và hành vi phù hợp với sự đòi hỏi của
hệ thống pháp luật hiện hành một cách rộng rãi để mọi người tán thành, ủng
hộ làm theo; để đông đảo người biết, hiểu pháp luật bằng nhiều phương pháp
khác nhau có hệ thống từ đó tác động vào các chủ thể dần dần để họ hiểu, làm
theo luật.
1.1.2. Đặc điểm của phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật.
- Phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật là hoạt động nhằm hình
thành tri thức, tình cảm và thói quen xử sự phù hợp với quy định của pháp
luật, làm cho công dân tự giác tuân thủ, có ý thức pháp luật cao, góp phần
tăng cường hiệu quả của pháp luật.
- Đó là sự tác động có định hướng với nội dung cơ bản là truyền tải tri
thức về Nhà nước và pháp luật, trong đó pháp luật thực định, hiện hành của
Nhà nước là bộ phận cơ bản quan trọng nhất.
- So với các hoạt động khác, phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật
là quá trình tác động thường xuyên, liên tục, lâu dài hơn chứ không phải là sự
tác động một lần. Vì thế phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật trở thành
hoạt động thường xuyên trong các gia đình, nhà trường, các tập thể lao động,
các tổ chức Đảng, Nhà nước và các đoàn thể xã hội.
1.1.3. Mục đích của phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật.
Mục đích của phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật là một trong
những yếu tố tạo nên cấu trúc bên trong của phổ biến, tuyên truyền, giáo dục
pháp luật. Việc xác định đúng đắn các mục đích xã hội cần đạt được trong quá
trình phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật đóng vai trò quan trọng trong
lý luận và thực tiễn phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật. Bởi vì nội
dung, hình thức, phương pháp của phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật
- Phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật có ý nghĩa trực tiếp trong
việc nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước, quản lý xã hội. Bởi vì những tri
thức pháp lý, tình cảm pháp luật đúng đắn và hành vi hợp pháp chiếm vị trí
hàng dầu trong việc sử dụng quyền lực Nhà nước, tăng cường pháp chế, phát
huy dân chủ, thực hiện các quyền và tự do của mỗi con người. Phổ biến,
tuyên truyền, giáo dục pháp luật tạo ra khả năng đổi mới các quan hệ xã hội
trong môi trường quản lý nhà nước, khắc phục sự bảo thủ của tư tưởng ích kỷ,
cục bộ, kích thích hành vi tự giác và xây dựng trong môi trường quản lý nhà
nước. Phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật tạo ra khả năng hình thành
các điều kiện và nhân tố thuận lợi cho quá trình quản lý nhà nước, quản lý xã
hội. Làm xuất hiện, củng cố những phẩm chất tích cực của ý thức và hành vi
quản lý, tạo khả năng không tiếp nhận những hiện tượng tiêu cực chống đối
pháp luật. Phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật có ý nghĩa trong việc
hình thành và nâng cao trình độ văn hóa pháp lý cho mỗi công dân. Vì vậy
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã xác định: “Cần coi trọng công tác giáo
dục, truyền tải, giải thích pháp luật. Đưa việc phổ biến, tuyên truyền, giáo
dục pháp luật vào hệ thống trường học của Đảng, Nhà nước (kể cả trường
phổ thông, đại học) của các đoàn thể nhân dân, các cán bộ quản lý các cấp
từ Trung ương đến các đơn vị cơ sở phải có kiến thức quản lý hành chính,
hiểu biết pháp luật. Cần phải được sử dụng nhiều hình thức và phương pháp
phong phú để giáo dục nâng cao ý thức pháp luật làm tư vấn pháp lý cho
nhân dân”
1
. Để thấy rõ vai trò của phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật,
cần nghiên cứu các mối quan hệ giữa phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp
luật với giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục đạo đức, giáo dục nâng cao trình
độ dân trí, nâng cao ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý về quyền công dân,
về xây dựng Nhà nước pháp quyền và với quá trình dân chủ hóa ở nước ta.
Phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật là một dạng trong hệ thống
giáo dục chung có mối quan hệ với tất cả các dạng khác nhau trong cùng một
Phương pháp phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật là cách thức,
biện pháp tổ chức quá trình phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật.
Phương pháp phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật cũng rất đa dạng,
phong phú, từ thực tiễn phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho thấy
các phương pháp phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật có thể được chia
ra làm hai nhóm cơ bản sau:
- Các phương pháp áp dụng trong một hoạt động phổ biến, tuyên truyền,
giáo dục pháp luật cụ thể như phương pháp giải thích, phương pháp thuyết
phục, phương pháp thực hành trực quan, ngoại khóa, phương pháp kết luận và
thực tiễn.
- Các phương pháp tổ chức phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật
như mô hình về phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật; các phương pháp
phối hợp trong lãnh đạo, chỉ đạo triển khai công tác phổ biến, tuyên truyền,
giáo dục pháp luật ở từng cấp, từng ngành, từng địa phương nhằm thực hiện
các chương trình, kế hoạch phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật dài hạn,
ngắn hạn, tổng thể theo mang theo chuyên đề trong từng giai đoạn cụ thể. Các
biện pháp phát huy ưu thế và khắc phục những điểm hạn chế trong mỗi loại
hình thức được sử dụng khi phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật.
- Phương tiện phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật.
Phương tiện phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật là các công cụ,
kênh truyền tải nội dung phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật từ chủ thể
đến đối tượng để đạt được mục tiêu phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp
luật. Trên thực tế các phương tiện truyền tải nội dung phổ biến, tuyên truyền,
giáo dục pháp luật chủ yếu hiện nay là các phương tiện thông tin đại chúng
(đài truyền hình chiếm đến 90%, đài phát thanh, báo chí, sách, ấn phẩm văn
hoá, mạng Internet). Qua học tập chính trị và quản lý, qua thảo luận lấy ý kiến
các dự án luật, qua hệ thống các nhà trường; qua hoạt động thực tiễn của các
cơ quan thi hành pháp luật (điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự, thi
hành án dân sự) qua hoạt động của các tổ chức đoàn thể, các hoạt động trợ
giúp pháp lý, tư vấn pháp luật
Nội dung phổ biến, tuyền truyền, giáo dục chuyên ngành cho những
người hành nghề pháp luật. Đây là cấp độ cao nhất của phổ biến, tuyên
truyền, giáo dục pháp luật. Bởi vì, những người hiểu biết và thái độ, tình cảm
cũng như những kỹ năng sử dụng pháp luật của các luật gia phải là chuẩn mực
của ý thức và hành vi tuân thủ pháp luật. Sự hiểu biết (tri thức pháp luật) của
đối tượng này bao gồm cả những quan điểm, những học thuyết về Nhà nước
và pháp luật trong lịch sử và hiện tại, hiểu biết tương đối toàn diện về hệ
thống pháp luật trong nước và quốc tế trong lĩnh vực chuyên sâu, kỹ năng của
đối tượng này không chỉ dừng lại ở việc tuân thủ mà chủ yếu là vận dụng
chính xác, linh hoạt pháp luật và các quan hệ pháp lý vào việc xử lý, giải
quyết các tranh chấp, vi phạm pháp luật. Một kỹ năng quan trọng và đặc thù
của đối tượng này là kiến thức lập pháp, lập quy, khả năng tham gia vào việc
hoàn thiện pháp luật.
1.1.6. Chủ thể, đối tượng của, phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật.
- Chủ thể của phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật.
Chủ thể của phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật được hiểu là tất
cả những người đã tham gia thực hiện các mục tiêu phổ biến, tuyên truyền,
giáo dục pháp luật. Căn cứ vào mức độ liên quan giữa mục tiêu phổ biến,
tuyên truyền, giáo dục pháp luật và chức năng, nhiệm vụ do luật định của chủ
thể phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật được phân ra làm hai loại: Chủ
thể chuyên nghiệp và chủ thể không chuyên nghiệp.
- Chủ thể chuyên nghiệp là những người mà nhiệm vụ chủ yếu trực tiếp là
thực hiện các mục tiêu phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật (bao gồm:
Các báo cáo viên, tuyên truyền viên về pháp luật ở các hệ thống trường Đảng,
cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội ở các cấp; các phóng viên, Biên tập viên
các Báo, Đài Phát thanh, Đài Truyền hình phụ trách chuyên mục pháp luật và
các nội dung liên quan đến pháp luật; các giảng viên dạy pháp luật ở các
trường; các cán bộ, chuyên gia làm công tác nghiên cứu và chỉ đạo phổ biến,
tuyên truyền, giáo dục pháp luật tại các cơ quan nhà nước, tổ chức nghề
nghiệp pháp luật, các tổ chức xã hội) là lực lượng nòng cốt của các chủ thể
quan trọng trong đời sống xã hội. Trong quá trình phát triển của từng giai
đoạn cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn coi công tác này là một nhiệm vụ
trọng yếu, là một bộ phận quan trọng của công tác giáo dục chính trị tư tưởng,
là biện pháp chủ yếu để xây dựng ý thức pháp luật và tăng cường pháp chế xã
hội chủ nghĩa.
Đất nước ta đang trong quá trình đổi mới, mục tiêu “dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” là ý nguyện của Đảng, Nhà nước
và của toàn dân. Một trong những biện pháp để thực hiện mục tiêu chiến lược
này là chúng ta phải xây dựng cho được một nhà nước mà mọi công dân,
trước hết là cán bộ, công chức nhà nước phải sống và làm việc theo Hiến pháp
và Pháp luật. Để đạt được điều đó Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến phổ
biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật, đặc biệt là khi đất nước bước sang thời
kỳ đổi mới. Công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật luôn được coi
là một trong những nhiệm vụ quan trọng, một khâu không thể thiếu trong quá
trình xây dựng và thực hiện pháp luật.
Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng có Chỉ thị 300/CT ngày 22/10/1987 về một
số công tác trước mắt nhằm tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật,
trong đó nhấn mạnh “phải làm cho khẩu hiệu sống và làm việc theo pháp luật
biến thành hành động, thành nếp sống hàng ngày của mọi người, mọi cơ
quan, mọi tổ chức”.
Nghị quyết Đại hội VII của Đảng ta cũng chỉ ra rằng: “thực chất của
việc đổi mới là thực hiện dân chủ XHCN mà điều kiện quan trọng để phát huy
dân chủ là xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật”
1
. Đến Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định “Triển khai mạnh mẽ
công tác tuyên truyền và phổ biến, giáo dục pháp luật, huy động lực lượng
của các đoàn thể chính trị, xã hội, nghề nghiệp, các phương tiện thông tin đại
chúng tham gia vào các cuộc vận động, thiết lập trật tự, kỷ cương và các hoạt
động thường xuyên, xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật trong cơ
nhân dân.
Thực hiện tinh thần chỉ đạo của Ban bí thư, ngày 16/12/2004 Thủ tướng
tiếp tục ban hành Quyết định số 212/2004/QĐ-TTg phê duyệt chương trình
hành động Quốc gia về phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật và nâng
cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ nhân dân ở xã, phường, thị trấn từ
năm 2005 đến năm 2010. Sau đó, ngày 28/01/2006 Thủ tướng chính phủ ban
hành quyết định số 28/2006/QĐ-TTg phê duyệt các đề án chi tiết thuộc
chương trình hành động quốc gia phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật
và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường,
thị trấn từ năm 2005 - 2010.
Như vậy với việc ban hành chỉ thị 32/CT-TW; Quyết định 212/2004/QĐ-
TTg một lần nữa khẳng định rõ quan điểm, quyết tâm của Đảng, Nhà nước ta
về tăng cường công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong thời
kỳ đổi mới của đất nước.
1.3.2 . Xuất phát từ yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam
Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ IX xác định: “Nhà nước ta là công
cụ chủ yếu để thực hiện quyền dân chủ của nhân dân, là nhà nước pháp
quyền của dân, do dân, vì dân. Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự
phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các
quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp
luật, mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ
chấp hành Hiến pháp và pháp luật”.
Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới trong giai đoạn đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, để đảm bảo xây dựng nhà nước ta là nhà
nước của dân, do dân và vì dân hoạt động có hiệu lực, hiệu quả thì một trong
những yêu cầu cần thiết là phải tiếp tục cải cách, kiện toàn bộ máy nhà nước,
trong đó chú trọng các cơ quan tư pháp.
Xây dựng nhà nước pháp quyền, thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật,
bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xử lý nghiêm minh, kịp
luật và trình độ dân trí pháp lý, văn hoá pháp lý của công dân.
Văn hoá pháp lý trong mỗi người được thể hiện bởi kiến thức pháp luật
và sự tự đánh giá về hành vi xử sự của bản thân đối với pháp luật. Cũng như
các hình thức văn hoá khác, văn hoá pháp lý chịu sự tác động và tác động lên
quan hệ xã hội thông qua ba chức năng cơ bản: thông tin, tâm lý, tổ chức. Do
vậy yêu cầu cần đặt ra trong giai đoạn hiện nay là đề cao dân trí pháp lý và
văn hoá pháp lý cần phải có sự giáo dục định hướng, có tổ chức trong hệ
thống Đảng và nhà nước cũng như các tổ chức xã hội .
1.2.4. Xuất phát từ yêu cầu mở rộng nền dân chủ ở nước ta hiện nay.
Dân chủ là khát vọng của loài người. Một nhà nước dân chủ thực sự là
Nhà nước thông qua những quy phạm pháp luật chứa đựng những đòi hỏi dân
chủ, cơ chế thực hiện dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động, đáp ứng ngày
càng tốt hơn yêu cầu dân chủ của con người. Nói dân chủ là nói tới mối quan
hệ qua lại giữa quyền và nghĩa vụ, quyền gắn với lợi ích và nghĩa vụ đồng
thời là trách nhiệm giữa công dân với nhà nước, giữa các công dân với nhau,
giữa các nhóm với cộng đồng và xã hội, những mối quan hệ đó được thông
qua hệ thống pháp luật. Để đảm bảo cho những quan hệ đó thật sự dân chủ thì
phải có vai trò của pháp luật để hướng dẫn nhận thức, điều chỉnh và kiểm soát
hành vi. Pháp luật là công cụ, là phương tiện chủ yếu và quan trọng nhất của
nhà nước để thực hiện chức năng quản lý nhà nước. Dân chủ phải đi đôi với
pháp luật, pháp luật là yếu tố cấu thành dân chủ, là cấu trúc nội tại, bên trong
của dân chủ. Không có pháp luật thì không thể có dân chủ, không thể có sự
đảm bảo dân chủ trong thực tế. Mặt khác, pháp luật nếu được xây dựng và
thực hiện phù hợp với những chuẩn mực dân chủ thì pháp luật đó phải là nền
pháp luật công khai, tiến bộ, hướng vào việc thực hiện và bảo vệ các quyền cơ
bản của công dân.
Vai trò, tác dụng của pháp luật là ở chỗ, nó là giới hạn của dân chủ, là
hành lang vận động của dân chủ. Pháp luật là nhân tố đảm bảo cho dân chủ
vận động trong quỹ đạo đúng đắn, lành mạnh, không chệch hướng. Bình đẳng
của mọi công dân trước pháp luật, đó là nguyên tắc của dân chủ, không có bất
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Đại hội X của Đảng
khẳng định “dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của
công cuộc đổi mới”.
Điều cốt lõi trong xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là xây dựng
chế độ xã hội mà trong đó nhân dân là người chủ thực sự tham gia vào quản
lý nhà nước, quản lý xã hội. Tất cả mọi quyền lực thuộc về nhân dân, những
quyền lực này phải được thể chế hoá bằng Hiến pháp và pháp luật. Muốn phát
huy dân chủ phải bảo đảm thực hiện dân chủ từ cơ sở. Trung thành và vận
dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước dân chủ, ngày
18/12/1998 Bộ Chính trị Đảng cộng sản Việt Nam đã ra chỉ thị số 30/CT-TW
về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Bộ Chính trị khẳng định dân chủ vừa là
mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng. Do vậy vấn đề phổ biến,
tuyên truyền, giáo dục pháp luật gắn với quá trình dân chủ hoá đóng vai trò
hết sức quan trọng trong đời sống hiện nay. Xây dựng Nhà nước dân chủ của
dân, do dân, vì dân là nền tảng, kim chỉ nam cho việc xây dựng nhà nước
pháp quyền Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là một tất yếu khách
quan trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ta hiện nay.
Chương 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, TUYÊN TRUYỀN,
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT Ở HƯNG YÊN THỜI GIAN QUA
2.1. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH TỈNH HƯNG YÊN
2.1.1. Điều kiện tự nhiên:
Tỉnh Hưng Yên nằm ở trung tâm khu vực Đồng bằng Sông Hồng,
với vị trí thuận lợi để phát triển kinh tế, phía tây bắc tiếp giáp với thành phố
Hà Nội, phía Đông Bắc giáp với tỉnh Hải Dương, Bắc Ninh, phía Đông Nam
tiếp giáp với tỉnh Thái Bình và Hà Nam. Toàn tỉnh có diện tích 923,09 km
2
,
dân số 1.134.294 người, trong đó 60% dân số sống ở vùng nông thôn.
Do điều kiện địa lý tự nhiên Hưng Yên là tỉnh đồng bằng thuần
điểm 20 xã phường, thị trấn giai đoạn 2010-2013, từ đó nhân rộng ra toàn tỉnh.
- Tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW 5 (khoá IX), tỉnh Hưng Yên đã ban
hành và hướng dẫn đồng bộ hệ thống cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư
phát triển kinh tế của tỉnh, đảm bảo khả năng giải quyết vướng mắc về mặt
bằng, về vốn sản xuất và sự hỗ trợ trong đầu tư phát triển.
- Thương mại dịch vụ, tài chính tín dụng đã phát triển khá nhanh với
nhiều thành phần kinh tế tham gia. Hệ thống cơ sở vật chất của tư nhân, của
nhà nước đã được quan tâm đầu tư nâng cấp (hoàn thành và đưa vào sử dụng
nhiều công trình công cộng), phục vụ nhân dân.
- Về sản xuất nông nghiệp đã tập trung chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh
tế trong nông nghiệp theo hướng nâng cao chất lượng và hiệu quả trên một
đơn vị canh tác. Giá trị sản xuất ngành nông lâm nghiệp theo hướng nâng cao
chất lượng và hiệu quả trên một đơn vị canh tác, hình thành được khu sản
xuất hàng hóa công nghệ cao
- Công tác quản lý đô thị có nhiều cố gắng, hoàn thành mục tiêu việc
điều chỉnh quy hoạch chung tỉnh, thành phố đến năm 2020, quy hoạch chi tiết
xong 3/4 xã, phường, thị trấn. Công tác quản lý trật tự, chỉnh trang đô thị,
khai thông hệ thống thoát nước, vệ sinh môi trường được duy trì và thực hiện
tốt. Đường phố theo tiêu chí “sáng - xanh - sạch - đẹp” được duy trì và ngày
nâng cao chất lượng sử dụng và mỹ quan đô thị. Công tác xây dựng và quản
lý đô thị đạt được kết quả khá tích cực, tỉnh thành phố ngày càng phát triển
theo hướng tăng dần chất lượng phục vụ công cộng theo tiêu chuẩn đô thị.
+ Quan hệ sản xuất mới tiếp tục được củng cố và phát triển. Tỉnh có 56
HTX chuyển đổi và thành lập mới theo luật HTX, một số hợp tác xã sau khi
chuyển đổi phát huy tác dụng tốt.
- Trên địa bàn tỉnh hiện nay có 2 346 công ty, doanh nghiệp và 12 786
hộ kinh doanh cá thể. Đây là khu vực kinh tế hoạt động khá năng động, sản
xuất kinh doanh đều hiệu quả, thích ứng với cơ chế kinh tế hội nhập quốc tế,
tham gia giải quyết tốt vấn đề xã hội, lao động việc làm, xoá đói giảm nghèo
và đóng góp nguồn thu ngân sách lớn cho tỉnh.
- Lao động việc làm: Hàng năm các cơ quan chức năng đã giải quyết
việc làm cho trên 10 000 lao động (chỉ tiêu đại hội đề ra hàng năm tỉnh giải
quyết việc làm cho 10 000 đến 13 000 lao động). Từ năm 2005 đến nay xuất
khẩu lao động dược 3 676 trường hợp. Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2008
đạt 64,8% trong đó công nhân kỹ thuật có bằng nghề đạt 21%.
- Không còn hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí cũ năm 2010 giảm
xuống còn 2,25% (đạt chỉ tiêu mỗi năm giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 0,5-1%).
- Thu nhập bình quân của dân cư tỉnh đến năm 2010 (theo giá hiện
hành) đạt 20 triệu đồng/người /năm (chỉ tiêu đề ra phấn đấu đến năm 2016 là
25 triệu đồng).
- Công tác từ thiện nhân đạo, thực hiện chính sách xã hội đối với người
có công, các gia đình chính sách và những gia đình gặp rủi ro được quan tâm
kịp thời. Hàng năm ngân sách tỉnh, huyện và các xã phường, thị trấn và nhân
dân đóng góp được trên 1 tỷ đồng số tiền trên để thăm hỏi, động viên, tặng
quà, xây nhà tình nghĩa cho các đối tượng chính sách.
- Công tác tư tưởng đã triển khai quán triệt và tổng kết các chỉ thị, nghị
quyết của Đảng nghiêm túc và bảo đảm chất lượng. Trong học tập và quán
triệt chỉ thị, nghị quyết của Đảng đạt 100%, số lượng đảng viên và 90% quần
chúng và các hội viên, đoàn viên tham gia học tập đóng trên địa bàn tỉnh. Qua
học tập quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng đã nâng cao nhận thức cho
cán bộ, đảng viên và nhân dân, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng.
- Thường xuyên chỉ đạo, kiện toàn cơ cấu và cấp uỷ đảng yếu kém, các
cấp uỷ đảng đã xây dựng và thực hiện tốt quy chế làm việc. Hoàn thành
phương án A2 quy hoạch cán bộ lãnh đạo, đào tạo, bố trí cán bộ, luân chuyển
cán bộ trẻ trong quy hoạch từ các sở, ban nghành của tỉnh làm cán bộ chủ
chốt quy hoạch đề bạt cán bộ trưởng, phó phòng để tạo nguồn cán bộ cho lâu
dài. Tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW 5 (khóa IX) về củng cố hệ thống chính
trị ở cơ sở, từng bước có kết quả tốt theo hướng nâng cao chất lượng và năng
lực của đội ngũ cán bộ công chức cấp xã phường thị trấn.
- Việc đánh giá, phân loại, xếp loại tổ chức cơ sở Đảng và đội ngũ đảng