Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác đánh giá rủi ro dự án
vay vốn tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Cầu
Giấy
2.1. Định hướng và mục tiêu hoạt động
2.1.1. Dự báo về môi trường kinh doanh:
Năm 2010 dưới tác động của các chủ trương thắt chặt tiền tệ hơn năm 2009, tăng
trưởng dư nợ tín dụng được kiểm soát ở mức 25%, diễn biến tỷ giá còn khó dự báo…
Mặc dù các doanh nghiệp luôn muốn đưa ra chỉ tiêu năm sau cao hơn năm trước, song
cũng không thể kỳ vọng quá cao, nhất là trước tình hình thị trường còn có những khó
khăn. Chênh lệch lãi suất đầu vào, đầu ra đã rộng hơn khi NHNN cho phép thực hiện cơ
chế lãi suất thỏa thuận đối với khoản vốn vay trung - dài hạn, nhưng do kiểm soát tăng
trưởng tín dụng của toàn ngành ở mức 25% (so với mức thực hiện cả năm trước là gần
38%), nên mục tiêu tăng trưởng tín dụng của nhiều ngân hàng sẽ thấp hơn năm trước;
qua đó tác động không nhỏ khi đặc điểm chung là nguồn thu từ tín dụng là chủ đạo.
Ngoài ra năm 2010, khả năng huy động vốn của các ngân hàng vẫn sẽ bị cạnh
tranh khốc liệt với các kênh đầu tư khác với sự thiếu hấp dẫn của lãi suất huy động.
Cũng như áp lực huy động vốn trong năm 2010 sẽ khiến việc cho vay không còn dễ
dàng. Ngân hàng sẽ phải sàng lọc khách hàng nên người đi vay sẽ gặp khó và phải trả
mức lãi suất cao hơn trước. Nhiều ngân hàng tiếp tục xây dựng kế hoạch phát hành
thêm cổ phiếu tăng vốn điều lệ, nhằm nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường, đặc biệt
là với những ngân hàng quy mô vốn nằm dưới 3.000 tỷ đồng, phải nâng lên con số này
trước khi năm tài chính 2010 kết thúc để đáp ứng được quy định của NHNN. Việc tăng
vốn điều lệ sẽ nâng cao năng lực tài chính của các ngân hàng, là đệm đỡ tránh rủi ro cho
cổ đông.
Hoạt động kinh doanh của hầu hết các NHTM được dự báo vẫn sẽ tăng trưởng
trong năm 2010, nhưng lợi nhuận sẽ không có nhiều đột biến, một số ngân hàng phụ
thuộc quá mức vào hoạt động tín dụng sẽ gặp nhiều khó khăn hơn. Mục tiêu phát triển
thận trọng, ổn định và bền vững lên sẽ được đặt lên hàng đầu. Mặc dù ngành ngân hàng
không hẳn là ngành được ưu tiên trong năm 2010, nhưng vẫn là ngành có triển vọng
tăng trưởng cao và phù hợp hơn với hoạt động đầu tư dài hạn.
2.1.2. Định hướng kế hoạch kinh doanh năm 2010 tại Chi nhánh Cầu Giấy:
Tuân thủ theo các chỉ đạo điều hành của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam, Chi nhánh tiếp tục kiểm soát tăng trưởng tín dụng. theo hướng gắn liền với huy
động vốn và đảm bảo an toàn, hiệu quả. Phù hợp với định hướng phát triển tín dụng
trong năm 2010 của BIDV; Thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của BIDV đảm bảo các hệ số
an toàn trong hoạt động tín dụng, kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng, không để phát
sinh nợ xấu.
2.1.2.3. Hoạt động dịch vụ:
Chi nhánh tiếp tục khai thác triệt để các sản phẩm dịch vụ truyền thống, bên
cạnh việc đẩy mạnh các sản phẩm dịch vụ mới, các sản phẩm dịch vụ bán lẻ nhằm mục
tiêu chiếm lĩnh thị trường ngân hàng bán lẻ đang rất tiềm năng trên địa bàn.
2.2. Giải pháp nâng cao chất lượng công tác đánh giá rủi ro dự án vay vốn tại
Chi nhánh Cầu Giấy:
2.2.1. Hoàn thiện nội dung và quy trình đánh giá rủi ro:
2.2.1.1. Hoàn thiện nội dung phân tích đánh giá rủi ro:
Để đưa ra được quyết định xem có nên tài trợ cho dự án hay không, ngân hàng
sử dụng các kết quả của việc phân tích các nội dung đánh giá rủi ro. Chính vì vậy, để
đưa ra sự đánh giá một cách chính xác đối với một dự án đầu tư, ngân hàng phải xử lý
tốt các nội dung đánh giá, từ đó giúp lựa chọn được cho mình nhà đầu tư thích hợp
nhằm đem lại hiệu quả cho vốn đầu tư mà Ngân hàng bỏ ra.
Thứ nhất, chúng ta đi xem xét công tác đánh giá nhu cầu vốn đầu tư của dự án.
Chi nhánh Cầu Giấy nói riêng và hệ thống ngân hàng BIDV nói chung cần phải xây
dựng cho mình một bảng giá định mức trong từng lĩnh vực cụ thể để làm căn cứ cho
việc tiến hành thẩm định đánh giá rủi ro. Mặt khác, ngân hàng cũng phải thành lập một
tổ định giá độc lập để từ đó có thể định giá một cách chính xác nhất những nhu cầu vốn
đầu tư trong từng trường hợp của dự án, cũng như những dự án đầu tư đặc thù.
Thứ hai, xác định lại những yếu tố doanh thu hoặc chi phí một cách chính xác
và đầy đủ hơn nữa. Điều này đòi hỏi cán bộ thẩm định phải có kiến thức về chuyên
môn cũng như cần phải có kiến thức về thị trường liên quan với những vấn đề của dự
án. Đối với chi phí của dự án, việc xác định thường có nhiều khó khăn. Bởi lẽ, giá cả
của các yếu tố đầu vào của khối lượng tính toán thường được xác định theo định mức.
gia của các chuyên gia giàu kinh nghiệm để đáp ứng đầy đủ yêu cầu quản trị trong tình
hình mới và tiếp cận tối đa với các chuẩn mực quốc tế. Việc đo lường và định dạng các
loại rủi ro tín dụng tại Chi nhánh sẽ ngày càng được thực hiện thống nhất và tập trung
hơn trong suốt quá trình cho vay, quản lý khoản vay từ Hội sở đến tất cả các điểm giao
dịch. Từ đó, giúp cho Chi nhánh nói riêng và Hội sở chính nói riêng có thể hoạch định
được các chính sách tín dụng và chính sách quản trị rủi ro phù hợp, thực hiện phân loại
nợ và trích lập dự phòng đúng theo quy định của NHNN.
Về phần các khách hàng, việc áp dụng thành công chương trình này cũng sẽ
mang nhiều lợi ích hơn cho họ. Bở lẽ, thông qua phương thức chấm điểm tự động thời
gian xử lý các giao dịch của ngân hàng sẽ nhanh chóng hơn. Đồng thời, các khách hàng
được xếp loại tốt sẽ nhận được nhiều chính sách ưu đãi về giá, phí, chương trình khách
hàng thân thiết hay có nhiều cơ hội hợp tác cùng ngân hàng. Ngoài ra các khách hàng sẽ
có cơ hội thường xuyên được bảo đảm hoạt động tài chính, kinh doanh lành mạnh. Bởi
lẽ, họ sẽ được tư vấn chu đáo hơn từ các cán bộ của ngân hàng.
Tuy vậy, trong công tác đánh giá rủi ro dự án vay vốn thì kinh nghiệm đánh giá
và chuyên môn của chính các cán bộ tác nghiệp vẫn là yếu tố chủ quan và quan trọng
hơn cả mà không có phương pháp phân tích hay một hệ thống phức tạp nào có thể thay
thế được. Do đó bên cạnh việc hoàn thiện quy trình đánh giá thì Chi nhánh cũng cần
quan tâm đúng mức tới việc nâng cao trình độ chuyên môn cho nhân viên.
2.2.2. Nâng cao nâng cao trình độ của cán bộ, nhân viên Chi nhánh cả về phẩm chất
lẫn nghiệp vụ chuyên môn:
2.2.2.1. Nâng cao năng lực điều hành của Ban lãnh đạo chi nhánh
Ban lãnh đạo Chi nhánh cần đảm bảo thực hiện tốt, đồng bộ các nguyên tắc cơ
bản về kiểm soát và quản lý rủi ro. Nội dung nguyên tắc bao gồm:
Thứ nhất, tạo ra môi trường có mức độ rủi ro hợp lý. Ban lãnh đạo Chi nhánh có
trách nhiệm kiểm tra, xem xét các chiến lược, chính sách quản lý rủi ro của mình.
Những chiến lược này phải phản ánh mức độ chịu rủi ro của Chi nhánh cho vay khi xảy
ra các tình huống rủi ro khác nhau. Để thực hiện các chính sách trên Chi nhánh cần phải
xây dựng một chương trình đo lường, giám sát và kiểm soát rủi ro tín dụng. Đồng thời
Chi nhánh khi cho vay phải xác định và quản lý rủi ro hiện hữu trong tất cả cỏc sản
phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của
đội ngũ cán bộ, nhân viên trong ngân hàng, trong toàn bộ các chi nhánh. Có chính sách
thu hút người giỏi, người có tài, người có năng lực về hoạt động dịch vụ ngân hàng từ
các ngân hàng khác, các ngành khác và các trường đại học trong và ngoài nước về.
Chính sách thu hút chủ yếu là chính sách đãi ngộ, bố trí và sử dụng, việc tạo điều kiện
phát huy tốt chuyên môn và không khí làm việc trong chi nhánh. Mạnh dạn áp dụng mô
hình thuê chuyên gia nước ngoài trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng làm việc tại ngân
hàng. Có chính sách hợp lý và xây dựng môi trường văn hoá làm việc phù hợp để ổn
định và khai thác được các ưu thế tối đa của nguồn nhân lực. Xây dựng chiến lược phát
triển nguồn nhân lực có tính dài hạn thông qua hình thức đào tạo tại nước ngoài. Tham
gia các chương trình đào tạo do các tổ chức quốc tế tổ chức tại Việt Nam, học tập kinh
nghiệm quản lý điều hành thông qua các cổ đông nước ngoài
Bên cạnh công tác tuyển chọn, đào tạo và đào tạo lại trình độ chuyên môn cho
cán bộ, nhân viên thì việc nâng cao tư cách, phẩm chất đạo đức của cán bộ tín dụng
cũng cần được chi nhánh đặc biệt quan tâm và mang tính thường xuyên hơn. Các hoạt
động khác như công tác kiểm soát nội bộ cần được chú trọng nhằm phát hiện sớm các
dấu hiệu rủi ro cũng như các sai xót trong quá trình cho vay để có biện pháp xử lý kịp
thời, tránh việc gây những hậu quả đáng tiếc xảy ra.
Ngoài ra Chi nhánh cũng cần có những cơ chế, chính sách đãi ngộ hợp lý. Để
kích thích tinh thần làm việc hết mình và kích thích sự sáng tạo trong công việc của các
nhân viên thì Chi nhánh cần có những chính sách đãi ngộ, ưu tiên, khuyến khích phù
hợp bằng các chính sách như: khen thưởng kịp thời cho các thành tích mà các cán bộ
đạt được, xây dựng các chương trình phúc lợi cho các cán bộ công nhân viên chức trong
ngân hàng, động viên giúp đỡ những gia đình cán bộ gặp điều kiện khó khăn, tạo điều
kiện thuận lợi cho nhân viên học tập nâng cao thêm trình độ…
2.2.3. Tích cực thực hiện các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro cho vay dự án
của Chi nhánh
2.2.3.1.Tư vấn giải pháp hạn chế rủi ro cho khách hàng
Dự án là một tập hợp các yếu tố dự kiến trong tương lai, từ khi thực hiện dự án
đến khi đi vào khai thác, sử dụng thường rất dài, do đó có nhiều rủi ro phát sinh ngoài ý
dụng tiền vay sau khi đã phát hành tiền vay.
b. Sử dụng các đảm bảo tín dụng cho dự án vay vốn
Bảo đảm tín dụng là thiết lập các cơ sở kinh tế và pháp lý tạo điều kiện cho ngân
hàng thỏa mãn nhu cầu thu hồi tín dụng đã cấp trong trường hợp người vay không thực
hiện trả nợ theo quy định.
Đảm bảo tín dụng là cơ sở giúp các NHTM có khả năng thu hồi nợ vay một khi
khách hàng không còn khả năng trả nợ.
Đảm bảo tín dụng có thể là lời cam kết trả nợ thay của người bảo lãnh hoặc cam
kết của người vay dùng tài sản đảm bảo để thế chấp hay cầm cố các khoản vay. Tuy
nhiên bản thân đảm bảo tín dụng cũng tiềm ẩn những yếu tố rủi ro.
Cần thực hiện nghiêm túc quy định về điều kiện bảo đảm tín dụng:
- Tài sản phải thuộc quyền sở hữu của bên đi vay, riêng với đất thì phải có quyền sử dụng
đất
- Tài sản được phép giao dịch theo luật, không phải đối tượng cấm
- Tài sản không có tranh chấp
- Tài sản được mua bảo hiểm theo quy định
- Tài sản được định giá chính sác
c. Tham gia bảo hiểm tín dụng
Đây là một giải pháp nhằm đảm bảo sẽ bồi thường cho các ngân hàng trong
trường hợp khách hàng gặp rủi ro, không có khả năng hoàn trả số tiền vay. Trên thực tế,
ngân hàng có thể tham gia bảo hiểm tín dụng dưới 3 hình thức:
Một là, ngân hàng khuyến khích người gửi tiền tham gia bảo hiểm cho ngành
nghề mà họ kinh doanh. Như vậy, khoản tín dụng trong trường hợp này được coi như là
đã tham gia bảo hiểm.
Hai là, ngân hàng trực tiếp mua bảo hiểm từ các tổ chức bảo hiểm chuyên
nghiệp và sẽ được bồi thường thiệt hại khi gặp rủi ro mất vốn tín dụng.
Ba là, ngân hàng tự bảo hiểm cho chính mình bằng cách thành lập quỹ dự phòng
rủi ro để bù đắp những thiệt hại do rủi ro gây ra, tạo sự chủ động đối với những rủi ro
có thể xảy ra trong qúa trình kinh doanh. Việc trích lập quỹ dự phòng rủi ro vẫn phải
thực hiện nghiêm túc theo quy định nhưng cách trích lập có thể thay đổi, điều chỉnh cho