z
tiểu luận triết học -
TRNG I HC NGOI THNG
KHOA Lí LUN CHNH TR
*********************
TIU LUN
MễN: NHNG NGUYấN Lí C BN CA CH NGHA
MAC - LấNIN
ti: MI QUAN H GIA Lí LUN V THC TIN V VN
DNG PHN TCH MI LIấN H GIA ễI MI T DUY V I
MI KINH T NC TA HIN NAY.
H tờn sinh viờn: Bựi Th Hoi
Lp: Anh 8 K48 TC2
lời mở đầu
Trang 1
tiểu luận triết học -
Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận
hành theo cơ chế thị trờng, có sự quản lý của Nhà nớc, theo định hớng xã hội
chủ nghĩa ở nớc ta hiện nay, lý luận nhận thức, vấn đề cải tạo thực tiễn nền kinh
tế luôn thu hút sự quan tâm của nhiều đối tợng.
Ngày nay, triết học là một bộ phận không thể tách rời với sự phát triển của
bất cứ hình thái kinh tế nào. Những vấn đề triết học về lý luận nhận thức và thực
tiễn, phơng pháp biện chứng luôn là cơ sở, là phơng hớng, là tôn chỉ cho hoạt
động thực tiễn, xây dựng và phát triển xã hội. Nếu xuất phát từ một lập trờng
triết học đúng đắn, con ngời có thể có đợc những cách giải quyết phù hợp với các
vấn dề do cuộc sống đặt ra. Việc chấp nhận hay không chấp nhận một lập trờng
triết học nào đó sẽ không chỉ đơn thuần là sự chấp nhận một thế giới quan nhất
định, một cách lý giải nhất định về thế giới, mà còn là sự chấp nhận một cơ sở
phơng pháp luận nhất định chỉ đạo cho hoạt động.
Chúng ta biết rằng, triết học là một trong ba bộ phận cấu thành của chủ
Chỉ có thực tiễn mới trực tiếp làm thay đổi thế giới hiện thực, mới thực sự
mang tính chất phê phán và cách mạng. Đây là đặc điểm quan trọng nhất của
thực tiễn, là cơ sở đề phân biệt hoạt động thực tiễn khác với hoạt động lý luận
của con ngời.
3. Tính chất lịch sử xã hội
ở những giai đoạn lịch sử khác nhau, hoạt động thực tiễn diễn ra là khác
nhau, thay đổi về phơng thức hoạt động.
Thực tiễn là sản phẩm lịch sử toàn thế giới, thể hiện những mối quan hệ
muôn vẻ và vô tận giữa con ngời với giới tự nhiên và con ngời với con ngời trong
quá trình sản xuất vật chất và tinh thần, là phơng thúc cơ bản của sự tồn tại xã
hội của con ngời.
4. Thực tiễn của con ngời đợc tiến hành dới nhiều hình thức
Trong quá trình hoạt động cải tạo thế giới, con ngời tạo ra một hiện thực
mới, một thiên nhiên thứ hai. Đó là thế giới của văn hóa tinh thần và vật chất,
những điều kiện mới cho sự tồn tại của con ngời, những điều kiện này không đợc
giới tự nhiên mang lại dới dạng có sẵn. Đồng thời với quá trình đó, con ngời
cũng phát triển và hoàn thiện bản thân mình. Chính sự cải tạo hiện thực thông
qua hoạt động thực tiễn là cơ sở của tất cả những biểu hiện khác có tính tích cực,
sáng tạo của con ngời. Con ngời không thích nghi một cách thụ động mà thông
qua hoạt động của mình, tác động một cách tích cực để biến đổi và cải tạo thế
giới bên ngoài. Hoạt động đó chính là thực tiễn.
a,Hoạt động sản xuất vật chất
Là hoạt động thực tiễn quan trọng nhất của xã hội.Thực tiễn sản xuất vật
chất là tiền đề xuất phát để hình thành những mối quan hệ đặc biệt của con ngời
đối với thế giới, giúp con ngời vợt ra khỏi khuôn khổ tồn tại của các loài vật.
b.Hoạt động chính trị xã hội
Trang 3
tiểu luận triết học -
Là hoạt dộng của con ngời trong các lĩnh vực chính trị xã hội nhằm phát
triển và hoàn thiện các thiết chế xã hội, các quan hệ xã hội làm địa bàn rộng rãi
Những tri thức khoa học chỉ có ý nghĩa thực tiễn khi nó đợc vận dụng vào thực
tiễn. Mục đích cuối cùng của nhận thức không phải là bản thân các tri thức mà là
nhằm cải tạo hiện thức khách quan, đáp ứng những nhu cầu vật chất và tinh thần
Trang 4
tiểu luận triết học -
xã hội. Sự hình thành và phát triển của nhận thức là bắt nguồn từ thực tiễn, do
yêu cầu của thực tiễn.
Nhận thức chỉ trở về hoàn thành chức năng của mình khi nó chỉ đạo hoạt
động thực tiễn, giúp cho hoạt động thực tiễn có hiệu quả hơn. Chỉ có thông qua
hoạt động thực tiễn, thì tri thức con ngời mới thể hiện đợc sức mạnh của mình,
sự hiểu biết của con ngời mới có ý nghĩa.
3,Thực tiễn là tiêu chuẩn của nhận thức
Bằng thực tiễn mà kiểm chứng nhận thức đúng hay sai. Khi nhận thức đúng thì
nó phục vụ thực tiễn phát triển và ngợc lại.
4,Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý
a.Chân lý
Là những tri thức phản ánh đúng đắn thế giới khách quan đợc thực tiễn
khẳng định ( nội dung khách quan, có ý nghĩa giá trị đối với đời sống con ngời)
Chân lý mang tính khách quan, nó không phụ thuộc vào số đông (ví dụ:
chân lý tôn giáo).
Chân lý mang tính hai mặt ( tuyệt đối và tơng đối ) vì tính hai mặt trong
quá trình nhận thức của nhân loại.
b.Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, tiêu chuẩn để kiểm tra
chân lý không phải là ý thức t tởng, t duy mà là thực tiễn. Bởi vì chỉ có thông qua
hoạt động thực tiễn, tri thức mới trở lại tác động vào thế giới vật chất, qua đó nó
đợc hiện thực hoá, vật chất hơn thành các khách thể cảm tính. Từ đó mới có
căn cứ để đánh giá nhận thức của con ngời đúng hay sai, có đạt tới chân lý hay
không.
Thực tiễn có rất nhiều hình thức khác nhau, nên nhận thức của con ngời cũng đ-
a. Khái niệm
Là một hệ thống những tri thức đợc khái quát từ thực tiễn. Nó phản ánh
những quy luật, của từng lĩnh vực trong hiện thực khách quan.
b. Đặc điểm
Lý luận mang tính hệ thống, nó ra đời trên cơ sở đáp ứng nhu cầu của xã
hội nên bất kỳ một lý luận nào cũng mang tính mục đích và ứng dụng.
Nó mang tính hệ thống cao, tổ chức có khoa học.
2. Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn
Đợc thể hiện bằng mối quan hệ giữa nhận thức và thực tiễn. GIữa lý luận
và thực tiễn thống nhất biện chứng với nhau. Sự thống nhất đó bắt nguồn từ chỗ:
chúng đều là hoạt động của con ngời, đều nhằm mục đích cải tạo tự nhiên và cải
tạo xã hội để thoả mãn nhu cầu của con ngời.
a. Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn
Trang 6
tiểu luận triết học -
Lý luận dựa trên nhu cầu của thực tiễn và lấy đợc chất liệu của thực tiễn.
Thực tiễn là hoạt động cơ bản nhất của con ngời, quyết định sự tồn tại và phát
triển xã hội. Lý luận không có mục đích tự nó mà mục đích cuối cùng là phục vụ
thực tiễn. Sức sống của lý luận chính là luôn luôn gắn liền với thực tiễn, phục vụ
cho yêu cầu của thực tiến.
b. Lý luận mở đờng và hớng dẫn hoạt động của thực tiễn
Ví dụ: lý luận Mác - Lênin hớng dẫn con đờng đấu tranh của giai cấp vô
sản. Sự thành công hay thất bại của hoạt động thực tiễn là tuỳ thuộc vào nó đợc
hớng dẫn bởi lý luận nào, có khoa học hay không? Sự phát triển của lý luận là do
yêu cầu của thực tiễn, điều đó cũng nói lên thực tiễn không tách rời lý luận,
không thể thiếu sự hớng dẫn của lý luận.
Vai trò của lý luận khoa học là ở chỗ: nó đa lại cho thực tiễn các tri thức
đúng đắn về các quy luật vận động, phát triển của hiện thực khách quan, từ đó
mới có cơ sở để định ra mục tiêu và phơng pháp đúng đắn cho hoạt động thực
tiễn.
tế tập trung quan liêu sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc là
một vấn đề hết sức mới mẻ cha có lời giải đáp sẵn. Và chúng ta cũng không bao
giờ có thể có một lời giải sẵn sau đó mới đi vào tiến hành đổi mới. Quá trình đổi
mới nói chung, đổi mới kinh tế nói riêng và việc nhận thức quá trình đổi mới đó
không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau cùng phát triển.
Vậy trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, phải xuất phát từ thực tế
khách quan, phải lấy hiện thực khách quan làm cơ sở cho hoạt động của mình.
Gắn lý luận vào thực tiễn để hoạt động trở nên khoa học, có cơ sở vững chắc.
Tinh thần ấy chính là vấn đề cần nghiên cứu trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ
VI.
e. Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của
chủ nghĩa Mác- Lênin.
Thực tiễn không có lý luận hớng đẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý
luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông. Vì vậy cho nên trong khi
nhấn mạnh sự quan trọng của lý luận, đã nhiều lần Lênin nhắc đi nhắc lại rằng lý
luận cách mạng không phải là giáo điều, nó là kim chỉ nang cho hành động cách
mạng, và lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính sáng tạo. Lý
luận luôn luôn cần đợc bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn
sinh động. Những ngời cộng sản các nớc phải cụ thể hoá chủ nghĩa Mác _ Lênin
cho thích hợp với điều kiện, hoàn cảnh từng lúc và từng nơi (Hồ Chí Minh: toàn
tập-1996)
*Con đ ờng biện chứng của sự nhận thức:
Nhận thức của con ngời diễn ra trên cơ sở thực tiễn và không ngừng vận
động, phát triển. Sự vận động và phát triển của nhận thức diễn ra một cách biện
chứng:
Trang 8
tiểu luận triết học -
- Từ trực quan sinh động đến t duy trìu tợng và từ t duy trìu tợng đến thực
tiễn - đó là con đờng biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực
tại khách quan.
Trên thực tế, đổi mới do Đảng ta khởi xớng và lãnh đạo có một sự tơng
đồng về hoàn cảnh, nội dung và ý nghĩa nhChính sách kinh tế mới của Lênin
(NEP). Với đổi mới, quan niệm về chủ nghĩa xã hội và con đờng đi lên chủ nghĩa
xã hội của Đảng ta đã ngày đợc xác định rõ hơn. Nó thấm nhuần quan điểm lịch
sử cụ thể, quan điểm thực tiễn và quan điểm phát triển.
I. Lý luận về thực tiễn trong sự nghiệp phát triển
kinh tế và đổi mới kinh tế hiện nay.
Công cuộc đổi mới chính thức bắt đầu từ việc Đảng ta thừa nhận và cho
phép phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị tr-
ờng. Đó là một tất yếu khách quan khi ở vào thời kỳ quá độ nh ở nớc ta hiện nay.
Phải dung hoà và tồn tại nhiều thành phần kinh tế là một tất yếu do lịch sử để lại
song đa chúng cùng tồn tại và phát triển mới là một vấn đề nan giải, khó khăn.
Bên cạnh việc thừa nhận sự tồn tại của kinh tế t bản t nhân, đơng nhiên phải th-
ờng xuyên đấu tranh với xu hớng tự phát t bản chủ nghĩa và những mặt tiêu cực
trong các thành phần kinh tế, giải quyết mâu thuẫn tồn tại trong sản xuất giữa
chúng để cùng phát triển.
Sự nghiệp đổi mới ở nớc ta cung cấp một bài học to lớn về nhận thức. Đó
là bài học về quán triệt quan điểm thực tiễn - nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa
Mác - Lênin, quan điểm cơ bản và hàng đầu của triết học Mác xít. Sự nghiệp đổi
mới với tính chất mới mẻ và khó khăn của nó đòi hỏi phải có lý luận khoa học
soi sáng. Sự khám phá về lý luận phải trở thành tiền đề và điều kiện cơ bản làm
cơ sở cho sự đổi mới trong hoạt động thức tiễn. Tuy nhiên, lý luận không bỗng
nhiên mà có và cũng không thể chờ chuẩn bị xong xuôi về lý luận rồi mới tiến
hành đổi mới. Hơn nữa, thực tiễn lại là cơ sở để nhận thức, của lý luận. Phải qua
thực tiễn rồi mới có kinh nghiệm, mới có cơ sở đề khái quát thành lý luận.
Vì vậy, quá trình đổi mới ở nớc ta chính là quá trình vừa học vừa làm, vừa
làm vừa tổng kết lý luận, đúc rút thành quan điểm, thành đờng lối để rồi quay trở
Trang 10
tiểu luận triết học -
lại quá trình đổi mới. Có những điều chúng ta phải mò mẫm trong thực tiễn, phải
thích ứng với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị tr-
ờng, có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng Xã hội Chủ nghĩa
3. Bớc chuyển thứ ba:
Trang 11
tiểu luận triết học -
Đó là tiến hành đổi mới hệ thống chính trị, từ chế độ tập trung quan liêu
với phơng thức quản lý hành chính mệnh lệnh sang dân chủ hoá các lĩnh vực của
đời sống xã hội, thực hiện dân chủ toàn diện.
4. Bớc chuyển thứ t:
Đổi mới quan niệm về sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa xã hội ở
một nớc phải xuất phát từ chủ nghĩa Mác - Lê nin trong điều kiện hoàn cảnh lịch
sử cụ thể của nớc đó. Và đây cũng chính là tính khách quan, là cơ sở khách quan
quy định nhận thức và những tìm tòi sáng tạo của chủ thể lãnh đạo sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Nó cũng đồng thời một lần nữa làm sáng tỏ quan điểm
thực tiễn chi phối sự hoạch định đờng lối chính sách.
5. Bớc chuyển thứ năm:
Đó là sự hình thành quan niệm mới của Đảng ta về Chủ nghĩa Xã hội
những nhận thức mới về nhân tố con ngời.
Sức mạnh của chủ nghĩa Mác - Lê nin là ở chỗ trong khi khái quát thực
tiễn cách mạng, lịch sử xã hội, nó vạch rõ quy luật khách quan của sự phát triển,
dự kiến những khuynh hớng cơ bản của sự tiến hoá xã hội. Trong giai đoạn hiện
nay của sự nghiệp xây dựng kinh tế xã hội đòi hỏi phải nắm vững và vận dụng
sáng tạo và góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin. Để khắc phục những
quan niệm lạc hậu trớc đây cần chúng ta phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý
luận, tổng kết có hệ thống sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đẩy mạnh sự
nghiệp đổi mới. Có nh vậy, lý luận mới thực hiện vai trò tích cực của mình đối
với thực tiễn.
Đổi mới nhận thức lý luận và công tác lý luận là một quá trình phức tạp,
đòi hỏi phải đấu tranh với tính bảo thủ và sức ỳ của những quan niệm lý luận cũ.
đồng thời, đấu tranh với những t tởng, quan niệm cực đoan từ bỏ những nguyên
những đem lại hiệu quả cao trong sự phát triển nhận thức mà còn giúp cho lý
luận không bao giờ xa rời thực tiễn cuộc sống.
Nắm bắt và vận dụng đợc có hiệu quả các quy luật tất yếu khách quan để
hoạt động và đem nó vào thực tiễn để kiểm nghiệm là một phơng tâm chủ đạo
trong công cuộc đổi mới hiện nay. Chỉ có dám nghĩ, dám làm kết hợp với tri thức
khoa học đợc trang bị, chúng ta mới thành công đợc. Đặc biệt là trong lĩnh vực
kinh tế, nắm bắt quy luật kinh tế, quy luật sản xuất lại càng cần thiết để cải tạo
thực tiễn, tạo ra phơng hớng`và mục tiêu đúng đắn phát triển đi lên. Chỉ có thế n-
ớc ta mới theo kịp đợc trình độ phát triển kinh tế chung của khu vực và trên thế
giới. Trong xu thế hội nhập toàn cầu hoá hiện nay, những chính sách đổi mới của
Đảng và Nhà nớc xuất phát từ thực tiễn tình hình đất nớc đáng phát huy mạnh
mẽ tính u việt của nó.
III, Đề xuất nhiệm vụ và giải pháp cho t ơng lai:
Tơng lai đất nớc nằm trong tay mỗi sinh viên chúng ta, việc cải tạo nó,
biến đổi nó làm cho nó ngày càng đẹp đẽ hơn là nhiệm vụ của bất cứ ngời dân
nào. Hiện nay, Việt Nam còn là một nớc đứng vào hàng những nớc nghèo trên
thế giới, việc đa nớc ta thoát khỏi tình trạng này đòi hỏi sự nỗ lực hết mình của
Trang 13
tiểu luận triết học -
mỗi ngời đặc biệt là phát triển kinh tế . Mục tiêu của chúng ta là phát triển kinh
tế đi kèm với công bằng và tiến bộ xã hội. Vì vậy, cần đẩy mạnh hơn nữa công
cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đổi mới một cách toàn diện mọi lĩnh vực. Sự
đổi mới này phải đồng bộ, tuân theo quá trình nhận thức và tình hình thực tiễn
đất nớc. Phát triển một nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị tr-
ờng nhng phải dới sự quản lý của Nhà nớc là theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
Vì những mục tiêu trên đây, cần thiết phải có một số giải pháp cho phát triển
kinh tế tơng lai.
- Tập trung phát triển kinh tế về chất và lợng. Đầu t có trọng điểm cho
nông nghiệp, phát triển hình thức nông trại sản xuất của t nhân hoặc tổ chức nhỏ.
Tạo nguồn vốn cho công nghiệp nhẹ, hiện đại hoá dây chuyền thiết bị. Phát triển
Kết luận
Những bớc phát triển gì nữa sẽ đặt ra cho nền kinh tế Việt Nam trớc thềm
thiên niên kỷ mới? Đổi mới kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải chăng
vẫn cha đáp ứng đợc nhu cầu thời đại ? Tất nhiên, những câu trả lời cho vấn đề
ấy còn đang nằm ở phía trớc. Song chắc chắn, với con đờng đi đúng đắn và sự
lựa chọn quyết đoán của Đảng và Nhà nớc, chúng ta sẽ gặt hái đợc rất nhiều
thành tựu mới. Nhà nớc sử dụng các đòn bẩy kinh tế trong kế hoạch hoá trực tiếp
và kế hoach hóa gián tiếp để đảm bảo thực hiện những phơng hớng, mục tiêu của
kế hoạch kinh tế quốc dân. Trớc thực tế của quá trình phát triển kinh tế Việt Nam
từ sau cách mạng Tháng Tám, một lần nữa ta lại càng cần khẳng định vai trò
không thể thiếu đợc của quá trình lý luận nhận thức và các chính sách, chủ trơng
xuất phát từ thực tiễn chi phối nền kinh tế. Khi đi đúng vào tiến trình lịch sử của
nhân loại, tất yếu chúng ta sẽ không bị lạc hậu, tụt lùi mà ngày càng có vị thế,
phát triển mạnh mẽ hơn. Hy vọng chỉ một thời gian không lâu nữa nền kinh tế
Việt Nam sẽ phát triển vợt bậc, phát triển có cơ sở vững chắc, đứng vào vị trí
những nớc có nền kinh tế tăng trởng mạnh trên thế giới.
Tài liệu tham khảo
1.Giáo trình triết học Mác - Lênin (I,II)
2.Triết học Mác - Lênin - Chơng trình cao cấp (I,II,III)
3. Kinh tế chính trị Mác - Lênin ( Phần kinh tế xã hội chủ nghĩa )
4. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thức VI của Đảng cộng sản Việt Nam.
Trang 16
tiểu luận triết học -
5. Tạp chí: nghiên cứu lý luận
6. Tạp chí triết học
7. Địa lý Việt Nam
8. C.Mác - F.Engghen - tuyển tập - 1981
9. Hồ Chí Minh - tuyển tập - 1996
10. V.I.Lênin-toàn tập 1980