Nguyễn Thị Diệu Huyền Lớp: A8_TC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LÍ LUẬN - CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN
Môn: Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mac-Lenin
TÊN ĐỀ TÀI
Quan điểm của triết học Mac-Lenin về con người và vấn đề xây dụng nguồn lực con
người trong sự nghiệp CNH-HĐH ở nước ta
Họ tên SV: Nguyễn Thị Diệu Huyền
Lớp: Anh 8-TC
Khối: 2-TC
GVHD: T/s.Trần Huy Quang
Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2014
1
Nguyễn Thị Diệu Huyền Lớp: A8_TC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LÍ LUẬN - CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN
Môn: Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mac-Lenin
TÊN ĐỀ TÀI
Quan điểm của triết học Mac-Lenin về con người và vấn đề xây dụng nguồn lực con
người trong sự nghiệp CNH-HĐH ở nước ta
Họ tên SV: Nguyễn Thị Diệu Huyền
Lớp: Anh 8-TC
Khối: 2-TC
Bời vì con người luôn là chủ thể sáng tạo nên lịch sử, làm nên mọi giá trị vật chất lẫn
tinh thần, là yếu tố quan trọng để xây dựng 1 tiềm lực vững chắc nền tảng cơ bản cho sự
nghiệp CNH-HĐH của nước ta.
4
Nguyễn Thị Diệu Huyền Lớp: A8_TC
NỘI DUNG
Chương I QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MAC-LENIN VỀ CON NGƯỜI
1. Một số quan điểm triết học về con người trong lịch sử
A) Quan điểm con người trong triết học phương Đông
Trong nền triết học Trung Hoa suốt chiều dài lịch sử trên 2000 cổ trung đại vấn
đề bản chất con người là vấn đề được quan tâm hàng đầu. Giải quyết vấn đề này các nhà
tư tưởng của Nho gia và Pháp gia đã tiếp cận từ giác độ hoạt động thực tiễn chính trị,
đạo đức của xã hội và đi đến kết luận bản tính người là thiện (nho gia) và bản tính
người là bất thiện (pháp gia). Các nhà tư tưởng của Đạo gia ngay từ Lão tử thời xuân
thu lại tiếp cận giải quyết vấn đề bản tính người từ giác độ khác và đi tới kết luận bản
tính tự nhiên của con người. Sự khác nhau về giác độ tiếp cận và với những kết luận
khác nhau về bản tính con người đã là tiền đề xuất phát cho những quan điểm khác
nhau của các trường phái triết học này trong việc giải quyết các vấn đề về quan niệm
chính trị đạo đức nhân sinh của họ .
Khác với nền triết học Trung Hoa các nhà tư tưởng của các trường phái Ấn Độ mà tiêu
biểu là trường phái đạo phật lại tiếp cận từ giác độ khác, giác độ suy tư về con người và
đời người ở tầm chiều sâu triết lí siêu hình đối với những vấn đề nhân sinh quan. Kết
luận về những bản tính vô ngã vô thường và tính hướng thiện của con người trên con
đường truy tìm sự giác ngộ là một trong những kết luận độc đáo của triết học đạo phật
B) Quan niệm về con người trong triết học phương Tây
Trong suốt chiều dài lịch sử triết học phương Tây từ cổ đại Hy Lạp trải qua giai
đoạn trung cổ, phục hưng và cận đại đến nay những vấn đề triết học về con người vẫn là
một đề tài tranh luận chưa chấm dứt nhìn chung các nhà triết học theo lập trường triết
học duy vật đã lụa chọn giác độ tự nhiên để lí giải về bản chất con người và các vấn đề
khác có liên quan. Họ xem con người cũng như vạn vật trong giời tự nhiên không có gì
của các loài.
Thứ hai, con người là một bộ phận của giới tự nhiên và đồng thời giới tự nhiên cũng là
“thân thể vô cơ của con người” . Do đó những biến đổi của giới tự nhiên và tác động
của quy luật tự nhiên trực tiếp hoặc gián tiếp thường xuyên quy định sự tồn tại của con
người và xã hội loài người, nó là môi trường trao đổi vật chất giữa con người với giới tự
nhiên. Ngược lại sự biến đổi và hoạt của con người, loài người luôn luôn tác động trở
lại môi trường tự nhiên, làm biến đổi môi trường đó. Đây chính là mối quan hệ biện
chứng giữa sự tồn tại của con người, loài người và các tồn tại khác của giới tự nhiên.
Tuy nhiên, con người không đồng nhất với các tồn tại khác của giới tự nhiên, nó mang
đặc tính xã hội bởi vì mỗi con người với tư cách là “người” chính là xét trong mối quan
hệ của các cộng đồng xã hội, đó là các cộng đồng: gia đình, giai cấp, quốc gia, dân tộc,
nhân loại… Vì vậy bản tính xã hội nhất định phải là một phương diện khác của bản tính
con người, hơn nữa đây là bản tính đặc thù của con người.
-Bản tính xã hội của con người được phân tích từ các giác độ sau đây:
Một là, xét từ giác độ nguồn gốc hình thành con người, loài người thì không phải chỉ
có ngưồn gốc từ sự tiến hoá, phát triển của vật chất tự nhiên mà còn có nguồn gốc xã
hội của nó, mà trước hết và cơ bản nhất là nhân tố lao động. Chính nhờ lao động mà con
người có khả năng vượt qua loài động vật để tiến hoá và phát triển thành người. Đó là
6
Nguyễn Thị Diệu Huyền Lớp: A8_TC
một trong những phát hiện mới của chũ nghĩa Mac-Lenin, nhờ đó mà có thể hoàn chỉnh
học thuyết về nguồn gốc loài người mà tất các học thuyết trong lịch sử đều chưa có lời
giải đáp đầy đủ và đúng đắn
Hai là, xét từ giác độ tồn tại và phát triển của con người, loài người thì sự tồn tại của nó
luôn luôn bị chi phối bởi các nhân tố xã hội và các quy luật xã hội. Xã hội biến đổi thì
mỗi con người cũng do đó mà có sự thay đổi tương ứng. Ngược lại, sự phát triển của
mỗi cá nhân lại là tiền đề cho sự phát triển của xã hội. ngoài mối quan hệ xã hội thì mỗi
con người chỉ tồn tại với tư cách là một thực thể sinh vật thuần tuý mà không thể là con
người với đầy đủ ý nghĩa của nó.
Hai phương diện tự nhiên và xã hội của con người tồn tại trong tính thống nhất của nó,
Nguyễn Thị Diệu Huyền Lớp: A8_TC
quan hệ xã hội của nó trong lịch sử .Xét từ giác độ nhân chủng học ,tức phương diện
bản tính tự nhiên, “người da đen”vẫn chỉ là người da đen,nhưng chỉ trong quan hệ kinh
tế -chính trị -xãhội xã hội chủ nghĩa,anh ta là “người tự do”,làm chủ và sáng tạo lịch
sử.Như thế,không có một bản chất nô lệ cố hữu và bất biến của người da đen hay da
trắng nó là sản phẩm tất yếu của những quan hệ kinh tế ,chính trị-xã hội trong những
điều kiện lịch sử xác định ,khi những quan hệ này thay đổi thì do đó cũng có sự thay đổi
bản chất của con người.Cũng do vậy ,sự giải phóng bản chất con người cần phải là
hướng vào sự giải phóng những quan hệ kinh tế ,chính trị ,văn hoá,xãhội của nó ,thông
qua đó có thể phát huy khả năng sáng tạo lịch sử của con người .
Như vậy ,không có con người phi lịch sử mà trái lại luôn gắn với những điều kiện
hoàn cảnh lịch sử nhất định .Cần phải từ quan niệm như vậy mới có thể lý giải đúng đắn
về khả năng sáng tạo lịch sử của con người .Sự hạn chế về năng lực sáng tạo lịch sử của
những con người tiểu nông không thể lý giải từ bản tính tự nhiên của họ mà trái lại càn
phải được lý giải từ giác độ tính hạn chế về trình độ phát triển của các quan hệ kinh tế
,chính trị ,văn hoá của xã hội tiểu nông.Như thế ,con người ,xét từ bản chất của nó ,là
sản phẩm của lịch sử,lịch sử sáng tạo ra con người trong một chừng mực nào thì con
người cũng sáng tạo ra lịch sử trong một chừng mực đó.Đây là biện chứng của mối
quan hệ giữa con người –chủ thể của lịch sử với chính lịch sử do nó tạo ra và đồng thời
lại bị quy định bởi chính lịch sử đó.Từ đó có thể thấy hạn chế cơ bản của quan niệm
duy vật siêu hình về bản chất con người chính là ở chỗ chỉ nhận thấy tính quyết định
của hoàn cảnh lịch sử đối với con người mà không nhận thấy mối quan hệ sáng tạo của
con người trong quá trình cải tạo hoàn cảnh và do đó cũng chính là cải tạo chính bản
thân nó .CMác đã khẳng định : “Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con người là
sản phẩm của những hoàn cảnh và của giáo dục …cái học thuyết ấy quên rằng chính
những con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được
giáo dục”.Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên,Ph.Ăngghen cũng cho rằng : “Thú
vật cũng có một lịch sử ,chính là lịch sử nguồn gốc của chúng và lịch sử phát triển dần
dần của chúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng.Nhưng lịch sử ấy không phải do
chúng làm ra và trong chừng mực mà chúng tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều
Chương II VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG SỰ
NGHỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ HIỆN ĐẠI HOÁ Ở NƯỚC TA
1. Khái niệm nguồn lực con người
Những nhận thức chung về nguồn nhân lực. Một quốc gia muốn phát triển thì cần
phải có các nguồn lực của sự phát triển linh tế như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa
học - công nghệ, con người … Trong các nguồn lực đó thì nguồn lực con người là quan
trọng nhất, có tính chất quyết định trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi
quốc gia từ trước đến nay. Một nước cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy
móc kỹ thuật hiện đại nhưng không có những con người có trình độ, có đủ khả năng
khai thác các nguồn lực đó thì khó có khả năng có thể đạt được sự phát triển như mong
muốn.
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và ngày nay trong công cuộc
hội nhập và phát triển nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh”, Đảng ta luôn xác định: Nguồn lao động dồi dào, con người Việt Nam
có truyền thông yêu nước, cần cù, sáng tạo, có nền tảng văn hoá, giáo dục, có khả năng
nắm bắt nhanh khoa học và công nghệ là nguồn lực quan trọng nhất - nguồn năng lực
nội sinh. Vậy nguồn nhân lực là gì?
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Theo Liên Hợp Quốc
thì.“Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính
sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”.
Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực,
trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân. Như vậy, ở đây nguồn lực con người
9
Nguyễn Thị Diệu Huyền Lớp: A8_TC
được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công
nghệ, tài nguyên thiên nhiên.
Theo tổ chức lao động quốc tế thì. Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ
những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động . Nguồn nhân lực được hiểu
theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho
sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Do đó, nguồn nhân lực
người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống.
nguồn nhân lực.
10
Nguyễn Thị Diệu Huyền Lớp: A8_TC
2. Vấn đề xây dựng nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại
hoá.
Có quan điểm cho rằng: Phát triển nguồn nhân lực: là gia tăng giá trị cho con
người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề
nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất
mới, cao hơn, đáp ứng được những yêu cầu to lớn và ngày càng tăng của sự phát triển
kinh tế - xã hội.
Một số tác giả khác lại quan niệm: Phát triển là quá trình nâng cao năng lực của
con người về mọi mặt: Thể lực, trí lực, tâm lực, đồng thời phân bổ, sử dụng, khai thác
và phát huy hiệu quả nhất nguồn nhân lực thông qua hệ thống phân công lao động và
giải quyết việc làm để phát triển kinh tế- xã hội.
Từ những luận điểm trình bày trên, phát triển nguồn nhân lực của một quốc gia:
chính là sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực trên các mặt thể lực, trí
lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về
cơ cấu nguồn nhân lực . Nói một cách khái quát nhất, phát triển nguồn nhân lực chính là
quá trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn diện con người vì sự tiến bộ kinh tế- xã hội
và sự hoàn thiện bản thân mỗi con người.
Như vậy, phát triển nguồn nhân lực với nội hàm trên đây thực chất là đề cập đến
vấn đề chất lượng nguồn nhân lực và khía cạnh xã hội của nguồn nhân lực của một
quốc gia
Nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một con người, một người lao
động cụ thể có trình độ lành nghề ( về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngành nghề
cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định (Đại học,
trên đại học, cao đẳng, lao động kỹ thuật lành nghề.
Giữa chất lượng NNL và NNL CLC có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong mối
quan hệ giữa cái chung và cái riêng. Nói đến chất lượng NNL là muốn nói đến tổng thể
Theo nhà kinh tế người Anh , William Petty cho rằng lao động là cha, đất đai
là mẹ của mọi của cải vật chất; C.Mác cho rằng con người là yếu tố số một của LSX.
Trong truyền thống VN xác định ''Hiền tài là nguyên khí của quốc gia ". Nhà tương lai
Mỹ Avill Toffer nhấn mạnh vai trò của lao động tri thức, theo ông ta "Tiền bạc tiêu mãi
cũng hết, quyền lực rồi sẽ mất; Chỉ có trí tuệ của con người thì khi sử dụng không
những không mất đi mà còn lớn lên" ( Power Shift-Thăng trầm quyền lực- Avill Toffer)
Thứ nhất là, nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn lực chính quyết định quá trình
tăng trưởng và phát triển kinh tế- xã hội. Nguồn nhân lực, nguồn lao động là nhân tố
quyết định việc khai thác, sử dụng, bảo vệ và tái tạo các nguồn lực khác.
Giữa nguồn lực con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, khoa
học công nghệ… có mối quan hệ nhân quả với nhau, nhưng trong đó NNL được xem là
năng lực nội sinh chi phối quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. So với
các nguồn lực khác, NNL với yếu tố hàng đầu là trí tuệ, chất xám có ưu thế nổi bật ở
chỗ nó không bị cạn kiệt nếu biết bồi dưỡng, khai thác và sử dụng hợp lý, còn các
nguồn lực khác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu tố có hạn và chỉ phát huy được tác
dụng khi kết hợp với NNL một cách có hiệu quả. Vì vậy, con người với tư cách là
NNL, là chủ thể sáng tạo, là yếu tố bản thân của quá trình sản xuất, là trung tâm của nội
lực, là nguồn lực chính quyết định quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Ngày nay một quốc gia có thể không giàu về tài nguyên, điều kiện thiên nhiên không
mấy thuận lợi nhưng nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững nếu
hội đủ bốn điều kiện :
+ Một là, quốc gia đó biết đề ra đường lối kinh tế đúng đắn.
+ Hai là, quốc gia đó biết tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối đó.
+ Ba là, quốc gia đó có đội ngũ công nhân kỹ thuật tay nghề cao và đông đảo.
+ Bốn là, quốc gia đó có các nhà doanh nghiệp tài ba.
12
Nguyễn Thị Diệu Huyền Lớp: A8_TC
Thứ hai là, nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định
sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH; là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các
hoạt động sản xuất, kinh doanh, xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là phổ biến sang
I.Sách sách giáo trình
1. Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mac – Lênin ( Nhà xuất bản
Chính Trị Quốc Gia -2009)
2. Giáo trình triết học (Nhà xuất bản Hành Chính –Chính Trị Quốc Gia-2009)
3. Trần Đình Hượu ,Đến hiện đại từ truyền thống (Nhà xuât bản Văn Hoá –Hà Nội
-1996)
4. PGS.Viện sĩ Trần Ngọc Thêm.Cơ sở Văn hoá Việt Nam (Nhà xuất bản Giáo dục
-1999)
II Bài báo
1. Tạp chí khoa học và công nghệ ,DHDN-Số 29(31)-2009
III Trang web
1 www.cdtm.edu.vn
2 www.socbay.com
3 www.tin247.com
4 www .hcmush.edu.vn
5www_kinhtenongthon.com.vn
6 www .diendat.vn
7www.vietthuphap.com15
Nguyễn Thị Diệu Huyền Lớp: A8_TC
16