QUAN ĐIÊM CỦA TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NGUỒN NHÂN LỰC CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ,HIỆN ĐẠI HOÁ Ở NƯỚC TA - Pdf 27

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN MÔN
NGUYÊN LÝ MÁC-LÊNIN
TÊN ĐỀ TÀI
QUAN ĐIÊM CỦA TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG
NGUỒN NHÂN LỰC CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ,HIỆN
ĐẠI HOÁ Ở NƯỚC TA
Họ tên sinh viên : Đặng Quốc Khánh
Lớp : Anh 8-Khối 2-TC-K48
Mục Lục
Lời mởđầu
Nội dung
Chương Một. Lý luận của Mác về con người
I -Nguồn gốc và bản chất con người.
II-Quan hệ giữa cá nhân và xã hội
III-Vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử.
Chương hai.VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NGUỒN NHÂN LỰC
CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ,HIỆN ĐẠI
HOÁ Ở NƯỚC TA
I-Tính tất yếu khách quan của công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
II-Mục tiêu con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại
hoá ở nước ta hiện nay.
III-Hiện trạng và giải pháp cho nguồn lực con người ở nước ta
hiện nay.
LỜI MỞ ĐẦU
Vấn đề con người luôn là chủ đề trung tâm của lịch sử triết học từ cổ đại đến
hiện đại,theo nghĩa rộng,bao gồm toàn bộ nội dung nghiên cứu các khoa hoc xa
hội và nhân văn. Chủ nghĩa Mác-lênin thực chất là học thuyết về giải phóng con
người và xã hội loài người . Vấn đề con người là nội dung cơ bản của chủ nghĩa
Mác-lênin nói chung, triết học Mác-lênin nói riêng.

Thời kì cuối xã hội nguyên thuỷ, đầu xã hội cổ đại, con người bắt đầu tìm hiểu
nguồn gốc của mình và có những ý thức ban đầu về sức mạnh của bản thân
mình.
Nói chung,các tôn giáo đều quan niệm con người do thần thánh, Thượng đế sinh
ra, cuộc sống con người do đấng tối cao an bài, sắp đặt. Giáo lý Kitô quan niệm
con người về bản chất là kẻ có tội. con người không chỉ có xác mà có linh hồn.
Thể xác sẽ mất đi nhưng linh hồn thì còn lại. Con người phải cứu lấy linh hồn
của mình.linh hồn hay tinh thần là phần cao quý của con người,thể xác là phần
thấp hèn, phần gần gũi với súc vật và đáng khinh trong cuộc sống của con
người, vì vậy người ta phải chăm lo phần linh hồn.
Có những trào lưu triết học duy tâm không trực tiếp giải thích nguồn gốc con
người từ trời, từ thần linh, hay từ con vật linh thiêng nào, nhưng đã giải thích một
cách không kém phần bí hiểm. Theo hêghen, ý niệm tuyệt đối tự tha hoá thành
tự nhiên, thành con người. Cái bí hiểm của ý niệm tuyệt đối cũng phần nào giống
như những từ thái cực,đạo,khí ở phương đông, được coi như nguồn gốc sinh ra
vũ trụ và con người .
Ở những nước chịu ảnh hưởng của Khổng giáo, Phật giáo và lãnh giáo, triết
học cũng giải thích nguồn gốc của con người hoặc từ một đấng thần linh tối cao,
hoặc từ một lực lượng thần bí đã nói ở trên.
Theo Mạnh Tử, con người sinh ra vốn là tốt(thiện), do không biết tu dưỡng,
chịu ảnh hưởng của tập quán xấu mà xa dần cái tốt, thông qua tu dưỡng mà con
người có thể hiểu được lẽ phải và giữ được cái tốt của mình.
Khác với Mạnh Tử, Tuân Tử lại cho rằng, con người sinh ra vốn ác, nhưng
có thể cải biến được; phải chống lại cái ác ấy thì con người mới tốt được.
Hai quan điểm khác nhau đó có điểm tương đồng là yêu cầu con người phải
tu dưỡng làm những điều lễ nghĩa. Điểm khác nhau là : theo quan điểm tính
thiện của Mạnh Tử thì con người phải được dẫn dắt bằng đạo đức. Còn theo
quan điểm tính ác của Tuân Tử, thì phải lấy pháp luật mà ngăn chặn cái ác.
Trong triết học duy tâm của phương đông còn có thuyết coi trời và người
cùng hoà hợp với nhau (thiên nhân hợp nhất), tư tưởng này khá phổ biến.

người. Đó là những con người cá biệt, đa dạng, phong phú, không ai giống ai.
Quan điểm này dựa trên nền tảng duy vật, đề cao yếu tố tự nhiên, cảm tính,
nhằm giải phóng cá nhân con người. Tuy nhiên, Phoiơbắc không thấy được bản
chất xã hội trong đời sống con người, tách con người khỏi những điều kiện lịch
sử cụ thể. Con người của Phoiơbắc là phi lịch sử, phi giai cấp và trừu tượng.
Có thể khái quát rằng, các quan niệm về con người trong triết học trước Mác, dù
là đứng trên nền tảng thế giới quan duy tâm, nhị nguyên luận hoặc duy vật siêu
hình, đều không phản ánh đúng bản chất con người. Nhìn chung, các quan niệm
trên đều xem xét con người một cách trừu tượng, tuyệt đối hoá mặt tinh thần
hoặc thể xác con người, tuyệt đối hoá mặt tự nhiên - sinh học mà không thấy
mặt xã hội trong đời sống con người. Tuy vậy, một số trường phái triết học vẫn
đạt được một số thành tựu trong việc phân tích, quan sát con người, đề cao lý
tính, xác lập các giá trị về nhân bản học để hướng con người tới tự do. Đó là
những tiền đề có ý nghĩa cho việc hình thành tư tương về con người của triết
học macxit. Khi phê phán quan điểm của Phoiơbắc, Mác đã khái quát bản chất
con người qua câu nói nổi tiếng sau đây :
“phoiơbắc hoà tan bản chất tôn giáo vào bản chất con người. Nhưng bản chất
con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt.
Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã
hội:”.
Với quan điểm duy vật triệt để và phương pháp biện chứng, Mác đã đưa ra một
quan niệm hoàn chỉnh về khái niệm con người , cũng như về bản chất của con
người. Chủ nghĩa Mác phân biệt rõ hai mặt trong khái niệm con người : mặt sinh
vật và mặt xã hội.
C.Mác không hề phủ nhận mặt tự nhiên, mặt sinh học khi xem xét con người với
tư cách là những cá nhân sống. Mác viết: “vì vậy,điều cụ thể đầu tiên cần phải
xác định là tổ chức cơ thể của những cá nhân ấy và mối quan hệ ấy mà tổ chức
cơ thể ấy tạo ra giữa họ với phần còn lại của giới tự nhiên”. Theo Mác, “mọi
khoa ghi chép lích sử đều phải xuất phát từ những cơ sở tự nhiên ấy”.
Trước hết Mác thừa nhận con người là một động vật cao cấp nhất, sản phẩm

quần,nhà ỏ ,v.v. về mặt thực tiễn, tính phổ biến của con người biểu hiện ra
chính ở cái tính phổ biến nó biến toàn bộ giới tự nhiên thành thân thể vô cơ
của con người “
Ông kết luận:” Con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái
sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên”.
Câu nói sâu sắc này nêu nên tính tất yếu của sự hòa hợp giữa con người và
tự nhiên. Nhờ hoạt động thực tiễn, con người quan hệ quan hệ với tự nhiên
cũng có nghĩa là con người quan hệ với bản thân mình, bởi tự nhiên là “ thân
thể vô cơ của con người “.
Tính loài của con người không phải tính loài trừu tượng. Nó cũng có nghĩa là
tính xã hội, và loài người chính là “xã hội người”.
Con người có tính xã hội trước hết bởi bản thân hoạt động sản xuất của
con người là hoạt động mang tính chất xã hội. Trong hoạt động sản xuất, con
người không thể tách khỏi xã hội. Tính xã hội là đặc điểm cơ bản làm cho
con người khác con vật. Hoạt động của con vật chỉ phục vụ nhu cầu trực tiếp
của nó, còn hoạt động của con người gắn liền với xã hội và phục vụ cho cả
xã hội. Xã hội cùng với tự nhiên là điều kiện tồn tại của con người. Tính xã
hội của con người thể hiện ở hoạt động và giao tiếp xã hội. Hoạt động của
con người không phải tuân theo bản năng như động vật mà là hoạt động có ý
thức. Tư duy con người phát triển trong hoạt động và giao tiếp xã hội, trước
hết là hoạt động lao động sản xuất. Với ý nghĩa trên đây, có thể nói con
người phân biệt với động vật ở tư duy mà ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư
duy. Bởi cơ sở của tư duy là hoạt động thực tiễn của xã hội. “những miền sâu
thẳm của tâm linh” cũng không thể có được nếu như không có hoạt động
mang tính xã hội và những quan hệ xã hội của loài người.
Nói tóm lại, con người khác con vật về bản chất ở cả ba mặt: quan hệ với
thiên nhiên, quan hệ với xã hội, quan hệ với bản thân. Cả ba mối quan hệ đó
ddeuf mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội là quan hệ bản chất nhất,
bao quát nhất trong mọi hoạt động của con người, cả trong lao động, sinh
con đẻ cái và trong tư duy.

phát triển của lịch sử xã hội. Thế giới loài vật dựa vào những điều kiện có
sẵn của tự nhiên. Con người thì trái lại, thông qua hoạt động thực tiễn của
mình để làm phong phú thêm thế giới tự nhiên, tái tạo lại một tự nhiên thứ hai
.
Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử của mình.
Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch sử
của chính bản thân con người. Hoạt động lao động sản xuất vừa là điều kiện
cho sự tồn tại của con người, vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống
và bộ mặt xã hội. Trên cơ sở nắm bắt quy luật của lịch sử xã hội, con người
thông qua hoạt động vật chất và tinh thần, thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp
đến cao, phù hợp với mục tiêu và nhu cầu do con người đặt ra . Không có
hoạt động của con người thì cũng không tồn tại quy luật xã hội, và do đó,
không có sự tồn tại của toàn bộ lịch sử xã hội loài người .
Không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ thể trong mỗi giai đoạn
phát triển nhất định của xã hội. Do vậy, bản chất con người trong mối quan
hệ với điều kiện lịch sử xã hội luôn luôn vận động, biến đổi cũng không phải
thay đổi cho phù hợp. Bản chất con người không phải là một hệ thống đóng
kín, mà là hệ thống mở, tương ứng với điều kiện tồn tại của con người. Mặc
dù là “tổng hoà các quan hệ xã hội”, con người có vai trò tích cực trong tiến
trình lịch sử với tư cách là chủ thể sáng tạo. Thông qua đó, bản chất con
người cũng vận động biến đổi cho phù hợp. Có thể nói rằng, mỗi sự vận
động và tiến lên của lịch sử sẽ quy định tương ứng ( mặc dù không trùng
khắp) với sự vận động và biến đổi của bản chất con người.Vì vậy, để phát
triển bản chất con người theo hướng tích cực, cần phải làm cho hoàn cảnh
ngày càng mang tính người nhiều hơn. Hoàn cảnh đó chính là toàn bộ môi
trường tự nhiên và xã hội tác động đến con người theo khuynh hướng phát
triển nhằm đạt tới các giá trị có tính mục đích, tự giác, có ý nghĩa định hướng
giáo dục. Thông qua đó, con người tiếp nhận hoàn cảnh một cách tích cực và
tác động trở lại hoàn cảnh trên nhiều phương diện khác nhau: hoạt động
thực tiễn, quan hệ ứng xử, hành vi con người, sự phát triển của phẩm chất trí

nào, cá nhân cũng không tách rời khỏi xã hội, mỗi thời đại sản sinh ra một
kiểu cá nhân có tính đặc thù, thậm chí đối lập nhau, trong những quan hệ xã
hội nhất định.
II.2. Khái niệm nhân cách
Nhân cách là khái niệm chỉ bản sắc độc đáo, riêng biệt của mỗi cá nhân, là
nội dung và tính chất bên trong của mỗi cá nhân. Bởi vậy, nếu cá nhân là
khái niệm chỉ sự khác biệt giữa cá thể với giống loài thì nhân cách là khái
niệm chỉ sự khác biệt giữa các cá nhân. Cá nhân là phương thức biểu hiện
của giống loài, còn nhân cách vừa là nội dung, vừa là cách thức biểu hiện
của mỗi cá nhân riêng biệt.
Nhân cách biểu hiện thế giới cái tôi của mỗi cá nhân, là sự tổng hợp của các
yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội, tạo nên đặc trưng riêng về di truyền, về sinh lý
thần kinh, về hoàn cảnh sống của cá nhân theo cách riêng của mình. Mỗi cá
nhân tiếp thu những giá trị phổ biến của văn hoá xã hội, từ đó, thông qua sự
lọc bỏ, tự tiếp nhận của bản thân để hình thành các giá trị định hướng của
nhân cách. Các giá trị như lý tưởng, niềm tin, quan hệ lợi ích, nhận thức và
hành động được mỗi cá nhân lựa chọn để xác lập hành vi cụ thể, hình thành
nhân cách trong quan hệ xã hội.
Vì vậy, nhân cách là toàn bộ những năng lực và phẩm chất xã hội - sinh lý -
tâm lý của cá nhân tạo thành chỉnh thể đóng vai trò chủ thể tự ý thức, tự
đánh giá, tự khẳng định và tự điều chỉnh mọi hoạt động của mình.
Nhân cách không phải là bẩm sinh, sẵn có mà được hình thành và phát triển
phụ thuộc vào ba yếu tố sau đây:
Thứ nhất, nhân cách phải dựa trên tiền đề sinh học và tư chất di truyền học,
một cá thể sống phát triển cao nhất của giới hữu sinh.
Thứ hai, môi trường xã hội là yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển
của nhân cách thông qua sự tác động biện chứng của gia đình, nhà trường
và xã hội đối với mỗi cá nhân.
Thứ ba, hạt nhân của nhân cách là thế giới quan cá nhân, bao gồm toàn bộ
các yếu tố như quan điểm, lý luận, niềm tin, định hướng giá trị

thành tính tập thể, tính cộng đồng. Tuy nhiên, tính tập thể sẽ trở nên trừu
tượng nếu không dựa trên cơ sở lợi ích. Thông qua lợi ích, hình thành nên
sự liên kết giữa cá nhân và tập thể, quy định phương hướng hoạt động của
tập thể, nhằm làm cho tập thể vừa đảm bảo lợi ích cá nhân, vừa là điều kiện
cho sự phát triển cá nhân. Từ đó, mỗi cá nhân lại tác động thúc đẩy tập thể
phát .
Sự liên kết giữa cá nhân và tập thể được quy định bởi các mối quan hệ
khách quan và chủ quan. Tính khách quan bắt nguồn từ bản chất xã hội của
mọi thành viên, những quy định, quy tắc của tập thể bắt buộc mọi thành viên
phải thực hiện. Tính chủ quan là năng lực tự tiếp nhận điều chỉnh mọi suy
nghĩ và hành vi của cá nhân. Sự thống nhất giữa tính khách quan và chủ
quan trong quan hệ cá nhân và tập thể là điều kiện cần thiết để tập thể phát
triển lành mạnh.
Mặt khác, dựa trên cơ sở lợi ích, tính phong phú đa dạng của lợi ích cá nhân
trong một tập thể biểu hiện thành nhu cầu phong phú, đa dạng của mỗi con
người. Trong điều kiện hiện thực của tập thể, không thể đáp ứng mọi yêu cầu
của cá nhân. Vì vậy, dẫn đến mâu thuẫn giữa cá nhân với cá nhân và cá
nhân với tập thể. Tuy nhiên, đây là mâu thuẫn tất yếu nảy sinh trong quá trình
vận động và phát triển của cá nhân và tập thể. Bởi vậy, cần phải phát hiện
mâu thuẫn một cách kịp thời và phân biệt vị trí các loại mâu thuẫn để giải
quyết, trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc định hướng về sự phát triển hài hoà và
toàn diện nhu cầu và lợi ích của cá nhân và tập thể. Sự kết hợp hài hoà và
toàn diện của các quan hệ lợi ích và nhu cầu; sự bình đẳng và tôn trọng lẫn
nhau trên cơ sở nguyên tắc; ý thức trách nhhiệm về nghĩa vụ và hành vi của
mỗi cá nhân trước tập thể là những điều kiện chủ yếu cho sự phát triển của
tập thể và cá nhân phù hợp với sự phát triển của xã hội.
Mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân và tập thể đòi hỏi phải chống hai
khuynh hướng cực đoan có hại cho sự phát triển của tập thể và cá nhân:
tuyệt đối hoá tập thể, bắt cá nhân phải hy sinh một chiều; hoặc ngược lại,
tuyệt đối hoá lợi ích cá nhân để “cái tôi” của chủ nghĩa cá nhân phát triển.

với cá nhân. Bởi vậy, thực chất của việc tổ chức xã hội là giải quyết quan hệ
lợi ích nhằm tạo khả năng cao nhất cho mỗi cá nhân tác động vào mọi quá
trình kinh tế, xã hội, cho sự phát triển được thực hiện. Xã hội càng phát triển
thì cá nhân càng có điều kiện để tiếp nhận ngày càng nhiều những giá trị vật
chất và tinh thần. Vì vậy, thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu và lợi ích
chính đáng của cá nhân là mục tiêu và động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội.
Bất cứ vấn đề gì, dù là phạm vi nhân loại hay cá nhân, dù trực tiếp hay gián
tiếp, nếu lợi ích cá nhân và xã hội là thống nhất thì chính ở đó bắt gặp mục
đích và động lực của sự nỗ lực chung vì một tương lai tốt đẹp.
Vấn đề chăm sóc và phát triển những nhu cầu và năng lực phong phú, đa
dạng của mỗi cá nhân hoàn toàn không mâu thuẫn với sự phát triển của xã
hội, đồng thời, nhân cách mỗi cá nhân trong xã hội càng phát triển thì càng
có điều kiện để thúc đẩy xã hội tiến lên. Do đó, cá nhân tác động đến xã hội
tuỳ thuộc ở trình độ phát triển của nhân cách. Những cá nhân có đạo đức và
tài năng thường đóng góp tích cực và xứng đáng vào sự phát triển của xã
hội. Những cá nhân kém cỏi về nhân cách thì tác động xấu tới xã hội, kìm
hãm sự phát triển.
Mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội do sự quy định của mặt
khách quan và mặt chủ quan. Mặt khách quan biểu hiện ở trình độ phát triển
và năng suất lao động xã hội. Mặt chủ quan biểu hiện ở khả năng nhận thức
và vận dụng quy luật xã hội phù hợp với mục đích của con người.
Trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội và ngay cả dưới chế độ xã hội chủ
nghĩa, những mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội vẫn còn tồn tại. Do đó, để
giải quyết đúng đắn quan hệ cá nhân - xã hội, cần phải tránh hai thái độ cực
đoan.
Một là, chỉ thấy cá nhân mà không thấy xã hội, đem cá nhân đối lập với xã
hội, nhu cầu cá nhân chưa phù hợp với điều kiện phát triển của xã hội.
Khuynh hướng này có thể dẫn đến chủ nghĩa cá nhân.
Hai là, chỉ thấy xã hội mà không thấy cá nhân, quan niệm sai lầm về lợi ích
xã hội, về chủ nghĩa tập thể, thực chất là chủ nghĩa bình quân, coi nhẹ vai trò

nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội của một thời đại nhất
định.
Khái niệm quần chúng nhân dân được xác định bởi nội dung sau:
Thứ nhất, những người lao động sản xuất ra của cải vật chất và các giá trị
tinh thần, đóng vai trò là hạt nhân cơ bản của quần chúng nhân dân.
Thứ hai, những bộ phận dân cư chống lại giai cấp thống trị áp bức, bóc lột,
đối kháng với nhân dân.
Thứ ba, những giai cấp, những tầng xã hội thúc đẩy sự tiến bộ xã hội thông
qua hoạt động của mình, trực tiếp hoặc gián tiép trên các lĩnh vực của đời
sống xã hội.
Do đó, quần chúng nhân dân là một phạm trù lịch sử, vận động biến đổi theo
sự phát triển của lịch sử xã hội.
b. Vai trò của quần chúng nhân dân.
Các trường phái triết học trước Mác đều chưa nhận thức được vai trò của
quần chúng nhân dân. Tư tưởng tôn giáo cho rằng mọi sự thay đổi trong lịch
sử xã hội là do ý chí của đấng tối cao, do mệnh trời tạo nên, và trao quyền
cho các cá nhân thực hiện. Chủ nghĩa duy tâm trong triết học đề cao vai trò
của các vĩ nhân, còn quần chúng nhân dân chỉ là công cụ, phương tiện để sai
khiến. Chủ nghĩa duy vật trước Mác vẫn chưa thoát khỏi quan điểm duy tâm
của xã hội khi cho rằng, nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội là tư
tưởng, đạo đức, là các vĩ nhân và chỉ có họ mới sớm nhận thức được chân lý
vĩnh cửu. Có nhà tư tưởng lại đề cao vai trò của quần chúng nhân dân, phủ
nhận vai trò của các vĩ nhân hoặc không lý giải được một cách khoa học vai
trò quần chúng nhân dân.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định quần chúng nhân dân là chủ thể sáng
tạo chân chính ra lịch sử. Bởi vì, mọi lý tưởng giải phóng xã hội, giải phóng
con người chỉ được chứng minh thông qua sự tiếp thu và hoạt động của
quần cúng nhân dân. Hơn nữa, tư tưởng tự nó không làm biến đổi xã hội mà
phải thông qua hành động cách mạng, hoạt động thực tiễn của quần chúng
nhân dân, để biến lý tưởng ước mơ thành hiện thực trong đời sống xã hội.

động thực tiễn. Những sáng tạo về văn học, nghệ thuật, khoa học, y học,
quân sự, kinh tế, chính trị, đạo đức của nhân dân vừa là cội nguồn, vừa là
điều kiện để thúc đẩy sự phát triển nền văn hoá tinh thần của các dân tộc
trong mọi thời đại. Hoạt động của quần chúng nhân dân từ trong thực tiễn là
nguồn cảm hứng vô tận cho mọi sáng tạo tinh thần trong đời sống xã hội. Mặt
khác, các giá trị văn hoá tinh thần chỉ có thể trường tồn khi được đông đảo
quần chúng nhân dân chấp nhận và truyền bá sâu rộng, trở thành giá trị phổ
biến.
Tóm lại, xét từ kinh tế đến chính trị, từ hoạt động vật chất đến hoạt động tinh
thần, quần chúng nhân dân luôn đóng vai trò quyết định trong lịch sử. Tuy
nhiên, tuỳ vào điều kiện lịch sử mà vai trò chủ thể của quần chúng nhân dân
cũng biểu hiện khác nhau. Chỉ có trong chủ nghĩa xã hộ, quần chúng nhân
dân mới có đủ điều kiện để phát huy tài năng và trí sáng tạo của mình.
Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh vai trò, sức mạnh của quần chúng
nhân dân, như Nguyễn Trãi đã nói: “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng
là dân, thuận lòng dân thì sống, nghịch lòng dân thì chết”. Đảng Cộng sản
Việt Nam cũng khẳng định rằng cách mạng là sự nghiệp của quần chúng
nhân dân và quan điểm “lấy dân làm gốc” trở thành tư tưởng thường trực nói
lên vai trò sáng tạo ra lịch sử của nhân dân Việt Nam.
III.2. Khái niệm lãnh tụ và vai trò của lãnh tụ
a. Khái niệm.
Trong mối quan hệ với quần chúng nhân dân, lãnh tụ là những cá nhân kiệt
xuất do phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân tạo nên.
Vĩ nhân là những cá nhân kiệt xuất, trưởng thành từ trong phong trào của
quần chúng, nắm bắt được những vấn đề căn bản nhất trong một lĩnh vực
nhất định của hoạt động thực tiễn và lý luận. Đó là những cá nhân kiệt xuất
trong các lĩnh vực chính trị, khoa học, kinh tế, nghệ thuật
Để trở thành lãnh tụ, ngoài những phẩm chất trên, cá nhân kiệt xuất còn phải
gắn bó với quần chúng, được quần chúng tín nhiệm và nguyện hy sinh quên
mình cho lợi ích của quần chúng nhân dân.

Hai là, lãnh tụ là người sáng lập ra các tổ chức chính trị, xã hội, là linh hồn
của các tổ chức đó. Vì vậy, lãnh tụ là người tổ chức điều khiển và quản lý các
tổ chức chính trị, xã hội, có vai trò và ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại phát triển
và hoạt động của các tổ chức ấy.
Ba là, lãnh tụ của mỗi thời đại chỉ có thể hoàn thành những nhiệm vụ đặt ra
của thời đại đó. Không có lãnh tụ cho mọi thời đại, mà chỉ có lãnh tụ gắn với
một thời đại nhất định. Sau khi hoàn thành vai trò của mình, lãnh tụ trở thành
biểu tượng tinh thần mãi mãi trong tình cảm và niềm tin của quần chúng nhân
dân.
III.3. Quan hệ giữa quần chúng nhân dân với lãnh tụ
Cần phải khẳng định rằng, mối quan hệ giữa quần chúng nhân dân với lãnh
tụ là quan hệ biện chứng. Tính biện chứng của mối quan hệ trên biểu hiện:
Thứ nhất, tính thống nhất giữa quần chúng nhân dân và lãnh tụ. Không có
phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân, không có các quá trình
kinh tế, chính trị, xã hội của đông đảo quần chúng nhân dân, thì cũng không
thể xuất hiện lãnh tụ. Những cá nhân ưu tú, những lãnh tụ kiệt xuất là sản
phẩm của thời đại, vì vậy, họ sẽ là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển
của phong trào quần chúng.
Thứ hai, quần chúng nhân dân và lãnh tụ thống nhất trong mục đích và lợi
ích của mình. Sự thống nhất về các mục tiêu của cách mạng, của hành động
cách mạng giữa quần chúng nhân dân và lãnh tụ do chính quan hệ lợi ích
quy định. Lợi ích biểu hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau: lợi ích kinh tế, lợi
ích chính trị, lợi ích văn hoá Quan hệ lợi ích là cầu nối liền, là nội lực để liên
kết các cá nhân cũng như quần chúng nhân dân và lãnh tụ với nhau thành
một khối thống nhất về ý trí và hành động. Lợi ích đó vận động và phát triển
tuỳ thuộc vào thời đại, vào địa vị lịch sử của giai cấp cầm quyền mà lãnh tụ là
đại biểu, phụ thuộc vào khả năng nhận thức và vận dụng để giải quyết mối
quan hệ giữa các cá nhân, các giai cấp và tầng lớp xã hội. Từ đó, có thể thấy
rằng, mức độ thống nhất về lợi ích là cơ sở quy định sự thống nhất về nhận
thức và hành động giữa quần chúng nhân dân và lãnh tụ trong lịch sử.

I. Tính tất yếu khách quan của công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xu hướng phát triển của các nước trên thế
giới. Đó cũng là con đường phát triển tất yếu của nước ta để đi lên mục tiêu
"Xã hội công bằng văn minh, dân giàu nước mạnh" công nghiệp hoá, hiện đại
hoá không chỉ là công cuộc xây dựng kinh tế mà chính là quá trình biến đổi
cách mạng sâu sắc với lĩnh vực đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, khoa học
của con người…) làm cho xã hội phát triển lên một trạng thái mới về chất. Sự
thành công của quá tình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi ngoài mới
trường chính trị ổn định, phải có nguồn lực cần thiết như nguồn lực con
người, vốn tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật. Các nguồn lực
này quan hệ chặt chẽ với nhau. Cùng tham gia vào quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nhưng mức độ tác động vào vai trò của chúng đối với toàn
bộ quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá không giống nhau, tỏng đó nguồn
nhân lực phải đủ về số lượng mạnh về chất lượng. Nói cách khác,
Theo các nhà kinh điều của chủ nghĩa Mác - Lênin, con người vừa là điểm
khởi đầu vừa là sự kết thúc, đồng thời lại vừa là trung tâm của sự biến đổi
lịch sử, nói cách khác con người là chủ thể chân chính của các quá trình xã
hội.Ở đây tính tích cực của con người với tư cách là chủ thể được tập trung
chú ý khai thác và bồi dưỡng chủ yếu ở những phẩm chất cần cù, trung
thành, nhiệt tình, quyết tâm với cách mạng. Một quan niệm và một cách làm
như vậy đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và khôi
phục
kinh tế sau chiến tranh. Tuy nhiên quan niệm và cách làm này cũng bộc lộ
những hạn chế nhất định trong điều kiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.
Trong xã hội con người không chỉ tạo ra các hệ thống và các quá trình khác
nhau của xã hội (giai cấp, đảng phía, nhà nước, sản xuất, văn hoá), mà họ
còn làm người, chính họ đã in đậm dấu ấn của tiến trình lịch sử. Lịch sử (suy
đến cùng) cũng chính là lịch sử phát triển cá nhân của con người, dù họ có
nhận thức được điều đó hay không. Từ đây cho phép tách ra một bình diện

phải là tập hợp giản đơn số lượng người mà nó là sức mạnh tổng hợp của
chỉnh thể người trong hành động. Sức mạnh này bắt nguồn trước hết là
những phẩm chất vốn có bên trong của mỗi chủ thể và nó được nhân lên gấp
đôi trong hoạt động thực tiễn. Động lực công nghiệp hoá, hiện đại hoá là
những gì thúc đẩy quá trình vận động và phát triển. Vì vậy khi nói "nguồn lực
với tính cách là động lực của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá" là chủ
yếu nói đến những phẩm chất tích cực của tổng hợp những chủ thể được
bộc lộ trong quá trinfh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và thúc đẩy quá trình
này vận động phát triển và thể hiện mặt tích cực mang lại những hiệu quả.
Mặt khác để xem xét vai trò nguồn lực của con người, cần đặt nó trong quan
hệ so sánh với các nguồn lực khác và ở mức độ chi phối của nó đến sự
thành bại của công cuộc đổi mới đất nước. Khi cuộc cách mạng khoa học kỹ
thuật và công nghiệp hiện đại phát triển mạnh mẽ, lao động trí tuệ ngày càng
gia tăng và trở thành xu thế phổ biến của nhân loại. Khi công nghiệp hoá gắn
liền với hiện đại hoá mà thực chất là hiện đại hoá lực lượng sản xuất với
cách tiếp cận như vậy vai trò quyết định nguồn lực của con người được biểu
hiện:
Trước hết các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý…
tự nó chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng chúng chỉ có tác dụng và có ý thức của
con người. Bởi lẽ con người là ngùn lực duy nhất biết tư duy, có trí tuệ và ý
chí biết lợi dụng, các nguồn lực khác gắn kết chúng lại với nhau tạo thành
sức mạnh tổng hợp cũng tác động vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá. các nguồn lực khác là những khách thể, chịu sự cải tạo, khai thác của
con người và nói đúng thì chúng đều phục vụ nhu cầu, lợi ích của con người
nên con người biết cách tác động và chi phối trong mọi hoàn cảnh.
Thứ hai: Các nguồn lực khác là có hạn, có thể bị cạn kiệt khi khai thác. Trong
khi đó nguồn lực con người mà cốt lõi là trí tuệ lại là nguồn lực vô tận. Tính
vô tận, trí tuệ con người biểu hiện ở chỗ nó có khả năng không chỉ tái sinh
mà còn tự sản sinh về mặt sinh học mà còn đổi mới không ngừng phát triển
về chất trong con người xã hội, nếu biết chăm lo, bồi dưỡng và khai thác hợp

vật chất và văn hoá của mọi thành viên trong cộng đồng xã hội.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá phát triển mối quan hệ kinh tế giữa các
ngành, các vùng trong phạm vi mỗi nước và các nước với nhau, nâng cao
trình độ quản lý kinh tế của nhà nước nâng cao khả năng tích luỹ mở rộng.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá không ngừng nâng cao vai trò của nhân tố
con người trong nền sản xuất và đặc biệt trong nền sản xuất lớn hiện đại, kỹ
thuật cao. Chỉ trên cơ sở thực hiện tốt công nghiệp hoá, hiện đại hoá mới có
khả năng thực hiện và quan tâm đầy đủ đến sự phát triển tự do và toàn diện.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá tạo điều kiện vật chất cho việc củng cố và
tăng cường tiềm lực quốc phòng khả năng đảm bảo an ninh và quốc phòng,
các yếu tố vật chất, kỹ thuật đáp ứng yêu cầu đó, công nghiệp hoá, hiện đại
hoá có tác dụng trực tiếp và chủ yếu trong việc tạo ra tiềm lực to lớn.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá còn tạo nhiều khả năng cho việc thực hiện tốt
sự phân công và hợp tác quốc tế về kinh tế, khoa học, công nghệ văn hoá xã
hội.
II. Mục tiêu con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước
ta hiện nay
Mục tiêu "Xây dựng nước ta thành thành một nước công nghiệp có cơ sở vật
chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý quan hệ sản xuất tiến bộ, phù
hợp với trình độ của lực lượng sản xuất đời sống vật chất và tinh thần cao,
quốc phòng an ninh giữ vững, dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn
minh". Đó trước hết là cuộc cách mạng con người vì con người và do con
người. Bởi khi chúng ta nói về những ưu việt của chủ nghĩa xã hội thì những
ưu việt đó không do ai đưa đến. Đó phải là kết quả những nỗ lực vượt bậc và
bền bỉ của toàn dân ta với những con người phát triển cả về trí lực về cả khả
năng lao động và tính tích cực chính trị - xã hội và đạo đức tình cảm trong
sáng.
Nhìn lại toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng từ ngày thành lập (3-2-1930)
đến nay. Đảng ta đã nhiều lần khẳng định "con người là vốn quý nhất chăm
lo cho hạnh phúc của con người mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta".

tinh tất yếu khách quan của sự nghiệp xây dựng đất nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và cách mạng con
người phải được nhận thức là hai mặt thống nhất, không thể tách rời của sự
nghiệp.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
không thể không xuất phát từ tinh thần nhân văn sâu sắc, không thể không
phát triển con người Việt Nam toàn diện để lấy đó làm động lực xây dựng xã
hội ta thành một xã hội "công bằng, nhân ái", "tốt đẹp và toàn diện" để bồi
dưỡng và phát huy nhân tố con người, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ, nhất thiết
phải từng bước hiện đại hoá đất nước và đời sống xã hội và chúng ta "tăng
trưởng nguồn lực con người khi quá hiện đại hoá các ngành giáo dục, văn
hoá, văn nghệ, bảo vệ sức khoẻ, dân số và kế hoạch hoá gia đình gắn liền
với việc kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống và bản sắc dân tộc"
chỉ có trên cơ sở đó khi phát triển nền kinh tế hàng hoá theo cơ chế thị
trường chúng ta mới có thể tránh được nguy cơ tha hoá, không xa rời những
giá trị truyền thống, không đánh mất bản sắc dân tộc, đánh mất bản thân
mình trở thành cái bóng của người khác,của các dân tộc khác.
Nền công nghiệp hoá, hiện đại hoá là vì mục tiêu phát triển con người toàn
diện thì con người ở đây không chỉ hiểu với tư cách là người lao động sản
xuất mà còn với tư cách là công dân của xã hội, một cá nhân trong tập thể,
một thành viên trong cộng đồng dân tộc, một con người trí tuệ trước vận
mệnh quốc gia. Đó không chỉ là đội ngũ những người lao động có năng suất
cao những nhà khoa học giỏi, các chuyên gia kỹ thuật, các nhà doanh nghiệp
biết làm ăn, những nhà quản lý, lãnh đạo có tài, mà đó còn là hàng triệu
những công dân yêu nước, ý thức được cuộc sống đói nghèo và nguy cơ tụt
hậu.
Qua sự phân tích trên có thể khẳng định rằng bước sang thời kỳ phát triển
mới - đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã
hội chủ nghĩa, chúng ta phải lấy việc phát huy nguồn lực con người Việt Nam
hiện đại làm yếu tố cơ bản cho việc phát triển nhanh, bền vững phải gắn tăng

quyết, sự già hoá của đội ngũ trí thức, trong các ngành khoa học trọng yếu
tuổi bình quân của tiến sỹ là 52,8, phó tiến sỹ 48,1, giáo sư 59,5, phó giáo sư
56,4. Cấp viện trưởng là 55 (số liệu này cho tới nay đã thay đổi). Như vậy
đến năm 2001 hơn 80% số người có học hàm, học vị hiện nay đã đến tuổi về
hưu.
Trong khi số người có học vấn cao giảm thì số sinh viên tốt nghiệp đại học và
cao đẳng không tìm được việc làm lại tăng lên phải chăng chúng ta đã quá
thừa những người có học vấn chắc chắn là không. Sự thừa đó chính là tác
động của mặt trái của kinh tế thị trường. Rõ ràng sự chậm cải tạo giáo dục và
nội dung đào tạo không theo kịp những đòi hỏi của người sử dụng đã dẫn
đến sự lãng phí trong đầu tư cho giáo dục, lực lượng lao động ở nước ta hiện
nay rất hạn chế về chất lượng nhất là trình độ chuyên môn, nghề nghiệp, kỹ
năng lao động, thể lực và văn hoá lao động công nghiệp. Thêm vào đó việc
sử dụng và khai thác số lao động, đã được đào tạo, có trình độ lại không hợp
lý và kém hiệu quả. Nếu chúng ta không có một nỗ lực phi thường bằng hành
động thực tế trong việc xây dựng và sử dụng nguồn lực lao động thì sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá khó có thể thực hiện được thành công;
và đó cũng là lý do vì sao nhiều nhà khoa học kêu gọi phải tiến hành một
cuộc cách mạng về con người mà thực chất là cách mạng về chất lượng lao
động mỗi bước tiến của "cách mạng con người" sẽ đem lại những thành tựu
to lớn cho quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá, như chúng ta đã biết
"cách mạng con người" với công nghiệp hoá, hiện đại hoá là hai mặt của một
quá trình phát triển thống nhất, giữa chúng có một quan hệ.
Để tạo ra sự thay đổi căn bản về chất lượng trong nguồn lực con người cần
có hàng loạt những giải pháp thích ứng nhằm phát triển tốt yếu tố của con
người.
Chăm sóc đào tạo phát huy nguồn lực con người phục vụ cho xã hội.
Vấn đề con người trong công cuộc đổi mới vì công nghiệp hoá, hiện đại hoá
tập trung thành vấn đề quan trọng bậc nhất trong "kết cấu hạ tầng xã hội,
kinh tế" tức là một trong những tiền đề cơ bản để phát triển xã hội.

tạo nên những con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất,
phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực của sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.
Vậy mọi chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước cần phải quán triệt
việc chăm sóc, bồi dưỡng và phát triển nhân tố con người.___Hết____
___Hết____


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status