QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ VẬN DỤNG VÀO SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY - Pdf 27

z
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
***************
TIỂU LUẬN
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CHỦ NGHĨA MAC-LENIN
ĐỀ TÀI
QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP
VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ
VẬN DỤNG VÀO SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Giáo viên hướng dẫn Trần Huy Quang
Sinh viên thực hiện Diêm Thùy Dung
Lớp A8-TC-Khối 2-K48
Khoa Tài Chính-Ngân Hàng
Hà Nội,ngày 15 tháng 11 năm 2014
MỤC LỤC
A. Mở đầu.
B. Nội dung.
I. Đặt vấn đề.
II. Giải quyết vấn đề.
1. Khái niệm về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
a) Khái niệm về lực lượng sản xuất.
b) Khái niệm về quan hệ sản xuất.
2. Quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất.
a) Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
b) Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất mâu thuẫn hay phù hợp.
c) Quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất.
3. Sự vận dụng quy luật quan hệ sản xuất vào sự nghiệp đổi mới của nước ta hiện
nay.

Sự vận động, phát triển cùa lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ
sản xuất cho phù hợp với nó. Ngược lại, quan hệ sản xuất cũng có tính độc lập tương và
tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất. Khi quan hệ sản xuất phù hợp với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nó là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất
phát triển. Ngược lại, khi quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu hoặc tiên tiến hơn một cách
giả tạo so với trình độ phát triển củ lực lượng sản xuất sẽ lại kìm hãm sự phát triển của
lực lượng sản xuất. Do đó, việc giải quyết mâu thẫu giữa quan hệ sản xuất và lực lượng
sản xuất có ý nghĩa hết sức to lớn. Tuy nhiên, việc nắm bắt được quy luật này không phải
là đơn giản. Nhận biết được một quan hệ sản xuất có phù hộ với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất hay không hoàn toàn phải phụ thuộc vào thực tiễn và kinh nghiệm của
bản thân.
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây, chúng ta đã không có được sự
nhận thức đúng đắn về quy luật của sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản
xuất. Cơ chế quan liêu, bao cấp đã bóp méo các yếu tố của quan hệ sản xuất, kìm hãm lực
lượng sản xuất, kết quả của sự không phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản
xuất đã làm cho mâu thẫu giữa chúng trở nên gay gắt. Điều đó khiến cho nền kinh tế Việt
Nam phải ở trong tình trạng khủng hoảng, trì trệ một thời gian dài.
Chính vì vậy, việc đưa nhận thức một cách đúng đắn mối quan hệ, tác động qua lại
lẫn nhau giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất có ý nghĩa vô cùng to lớn, đặc biệt
là trong quá trình xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay.
II. Giải quyết vấn đề:
1. Khái niệm về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất:
a) Khái niệm về lực lượng sản xuất (LLSX):
Lực lượng sản xuất là một kết cấu vật chất, bao gồm người lao động với kỹ năng lao
động của họ và tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động, thể hiện trình độ chinh
phục tự nhiên của con người.
LLSX biểu hiện trình độ chinh phục của con người và quan hệ của con người với
thiên nhiên trong từng giai đoạn lịch sử, là sự thống nhất hữu cơ giữa lao động đã tích lũy
(tư liệu sản xuất mà trước hết là công cụ lao động) với lao động sống (những người sử
dụng tư liệu sản xuất) để sản xuất của cải nhằm đáp ứng những nhu cầu sinh sống và phát

con người, quan hệ sản xuất là những quan hệ mang tính vật chất của đời sống xã hội.
QHSX là hình thức xã hội của lực lượng sản xuất và là cơ sở của đời sống xã hội.
QHSX gồm 3 mặt:
- Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, tức là quan hệ giữa người với tư liệu sản xuất.
Tính chất của QHSX trước hết được quy định bởi quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất
– Biểu hiện thành chế độ sở hữu. Trong hệ thống các QHSX thì quan hệ sở hữu về tư liệu
sản xuất có vai trò quyết định đối với các quan hệ xã hội khác.
Trong các hình thái kinh tế xã hội mà loài người đã từng trải qua, lịch sử đã được
chứng kiến sự tồn tại của 2 loại hình sở hữu cơ bản đối với tư liệu sản xuất: sở hữu tư
nhân và sở hữu công cộng. Sở hữu công cộng là loại hình mà trong đó tư liệu sản xuất
thuộc về mọi thành viên của cộng đồng. Do tư liệu sản xuất là tài sản chung của cả cộng
đồng nên các quan hệ xã hội trong sản xuất và trong đời sống xã hội nói chung trở thành
quan hệ hợp tác giúp đỡ nhau. Ngược lại, trong các chế độ tư hữu, do tư liệu sản xuất chỉ
nằm trong tay một số người nên của cải xã hội không thuộc về số đông mà thuộc về một
số ít người, do vậy gây nên sự bất bình đẳng.
- Quan hệ tổ chức và quản lý kinh doanh sản xuất: Tức là quan hệ giữa người với
người trong sản xuất và trong trao đổi vật chất của cải. Trong hệ thống các quan hệ sản
xuất, các quan hệ về mặt tổ chức quản lý sản xuất là các quan hệ có khả năng quyết định
một cách quy mô tốc độ hiệu quả và xu hướng mỗi nền sản xuất cụ thể, đi ngược lại các
quan hệ quản lý và tổ chức có thể làm biến dạng quan hệ sở hữu, ảnh hưởng tiêu cực đến
kinh tế xã hội.
- Quan hệ phân phối sản xuất sản phẩm: tức là quan hệ chặt trẽ với nhau, cùng mục
tiêu chung là sử dụng hợp lý và có hiệu quả tư liệu sản xuất để làm cho chúng không
ngừng được tăng trưởng, thúc đẩy tái sản xuất mở rộng, nâng cao phúc lợi cho người lao
động. Bên cạnh các quan hệ về mặt tổ chức quản lý, trong hệ thống quan hệ sản xuất, các
quan hệ về mặt phân phối sản phẩm lao động cũng là những nhân tố có ý nghĩa hết sức to
lớn đối với sự vận động của toàn bộ nền kinh tế. Quan hệ phân phối có thể thúc đẩy tốc
độ và nhịp điệu của sản xuất nhưng ngược lại nó cũng có khả năng kìm hãm sản xuất,
kìm hãm sự phát triển của xã hội.
Nếu xét riêng trong phạm vi một quan hệ sản xuất nhất đình thì tính chất sở hữu

kỹ thuật vào sản xuất, kinh nghiệm và kỹ năng của con người và trình độ phân công lao
động.
b) Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất mâu thuẫn hay phù hợp.
Như Mac đã nói: “Trong sự sản xuất xã hội, con người ta có những quan hệ nhất
định, tất yếu, không phụ thuộc vào ý muốn của họ, tức những quan hệ sản xuất, những
quy luật này phù hợp với trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vật chất của
họ…” Người ta thường coi tư tưởng này của Mac là tư tưởng về “quy luật quan hệ sản
xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất”.
Các mối quan hệ trong sản xuất bao gồm nhiều dạng khác nhau mà nhìn một cách
tổng quát thì đó là những dạng QHSX và dạng những LLSX, từ đó hình thành những mối
quan hệ chủ yếu, cơ bản là mối liên hệ giữa tính chất và trình độ của LLSX. Nhưng mối
liên hệ giữa hai yếu tố cơ bản này là gì? Phù hợp hay không phù hợp? Trước hết cần xác
định khái niệm phù hợp với các ý nghĩa sau:
- Phù hợp là sự cân bằng, sự thống nhất giữa các mặt đối lập.
- Phù hợp còn là một xu hướng mà những dao động không cân bằng sẽ đạt tới.
Trong phép biên chứng, sự cân bằng chỉ là tạm thời và sự không cân bằng là tuyệt
đối. Chính đây là nguồn gốc tạo nên sự vận động và phát triển. Vì thế, có thể nói, thực
chất của quy luật về mối quan hệ giữa LLSX và QHSX là quy luật mâu thuẫn, sự phù hợp
giữa chúng chỉ là yên tĩnh tạm thời, còn sự vận động, dao động, sự mâu thuẫn mới đủ khả
năng vạch ra động lực của sự phát triển, mới có thể cho ta hiểu được sự vận động của quy
luật kinh tế.
c) Quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất:
QHSX và LLSX là hai mặt của phương thức sản xuất, chúng tồn tại tách rời nhau mà
tác động biện chứng lẫn nhau. Chính sự thống nhất và tác động giữa QHSX và LLSX đã
hình thành nên quy luật về sự phù hợp giữa QHSX với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất.
LLSX là nhân tố thường xuyên biến đổi và phát triển. Ngược lại QHSX thường có
tính ổn định trong một thời gian dài.
Sự vận động, phát triển của LLSX quyết định và làm thay đổi QHSX cho phù hợp với

chung, QHSX cũ sẽ được thay thế bằng QHSX mới phù hợp với trình độ phát triển của
LLSX để thúc đẩy LLSX phát triển. Tuy nhiên, việc giải quyết mâu thuẫn giữa LLSX với
QHSX không phải giản đơn. Nó phải thông qua nhận thức và hoạt động cải tạo xã hội của
con người trong xã hội có giai cấp, phải thông qua đấu tranh giai cấp, thông qua cách
mạng xã hội.
Chủ nghĩ duy vật lịch sử đã chứng minh vai trò quyết định của LLSX đối với QHSX,
song nó cũng chỉ rõ rằng QHSX bao giờ cũng thể hiện tính độc lập tương đối với LLSX.
QHSX tác động trở lại LLSX, nó là yếu tố quyết định, là tiền đề cho LLSX phát triển khi
nó phù hợp với trình độ phát triển của LLSX. Nó làm nhiệm vụ chỉ ra mục tiêu, bước đi
và tạo quy mô thích hợp cho LLSX hoạt động, cũng như đảm bảo lợi ích chính đáng cho
người lao động phát huy tính tích cực sáng tạo cho con người, là nhân tố quan trọng và
quyết định trong LLSX.
Sở dĩ QHSX có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối với LLSX vì nó quyết định mục
đích sản xuất, quy định hệ thống quản lý sản xuất và quản lý xã hội, quy định phân phối
và phần của cải ít hay nhiều mà người lao động được hưởng. Do đó tạo ra những điều
kiện hoặc kích thích hoặc hạn chế sự phát triển của công cụ sản xuất áp dụng thành tựu
khoa học và sản xuất hợp tác phân công lao động.
Quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX là quy luật phổ biến tác
động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại. Sự thay thế, phát triển của lịch sử nhân
loại từ chế độ công xã nguyên thủy, qua chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế
độ tư bản chủ nghĩa và đến xã hội cộng sản tương lai là do sự tác động của hệ thống các
quy luật xã hội, trong đó quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX là quy
luật cơ bản nhất.
3. Sự vận dụng quy luật quan hệ sản xuất vào sự nghiệp đổi mới của nước ta hiện
nay:
Sự nghiệp đổi mới của Việt Nam được bắt đầu ngay từ giữa những năm 80 và được
triển khai mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực từ đó đến nay. Quá trình đổi mới đã đưa lại
nhiều thành tựu to lớn, nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều lý luận quan trọng mà việc áp
dụng quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX vào việc giải quyết chúng
một cách đúng đắn sẽ là cơ sở hết sức cần thiết cho việc tiếp tục hoạch định và đẩy nhanh

sản xuất, phụ thuộc vào lãnh đạo hợp tác xã, họ cũng không phải là chủ thể sở hữu thực
sự dấn đến TLSX trở thành vô chủ, gây thiệt hại cho tập thể.
- Thư hai: Kinh tế quốc doanh thiết lập tràn lan trong tất cả các ngành. Về pháp lý
TLSX cũng thuộc sở hữu toàn dân, người lao động là chủ sở hữu có quyền sở hữu chi
phối, định đoạt TLSX & sản phẩm làm ra nhưng thực tế thì người lao động chỉ là người
làm công ăn lương, chế độ lương lại không hợp lý không phản ánh đúng số lượng & chất
lượng lao động của từng cá nhân đã đóng góp. Do đó chế độ công hữu về TLSX cùng với
ông chủ của nó trở thành hình thức, vô chủ, chính quyền (bộ, ngành chủ quản) là đại diện
của chủ sở hữu là người có quyền chi phối, đơn vị kinh tế mất dần tính chủ động, sáng
tạo, mất động lực lợi ích, sản xuất kinh doanh kém hiệu quả nhưng lại không ai chịu trách
nhiệm, không có cơ chế giàng buộc trách nhiệm, nên người lao động thờ ơ với kết quả
hoạt động của mình.
Đây là căn nguyên nảy sinh tiêu cực trong phân phối, chỉ có một số người có quyền
định đoạt phân phối vật tư, vật phẩm, đặc quyền đặc lợi.
Ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, phát triển kinh tế tập trung ở hai lực lượng chính:
LLSX của doanh nghiệp nhà nước (thường gọi là quốc doanh, thuộc thành phần kinh tế
nhà nước); LLSX ngoài quốc doanh (thường gọi là dân doanh, thuộc kinh tế tư nhân).
Trong tác phẩm “Chính sách kinh tế mới và những nhiệm vụ của các Ban giáo dục chính
trị”, Lênin đã viết: “Hoặc là tất cả những thành tựu về mặt chính trị của chính quyền Xô
viết sẽ tiêu tan, hoặc là phải làm cho những thành tựu ấy đứng vững trên một cơ sở kinh
tế. Cơ sở này hiện nay chưa có. Đấy chính là công việc mà chúng ta cần bắt tay vào làm”
đúng theo quy luật QHSX phải phù hợp với trình độ phát triển của LLSX.
Con người không thể tự ý lựa chọn QHSX nói chung và quan hệ sở hữu nói riêng một
cách chủ quan duy ý chí. Sở hữu vừa là kết quả vừa là điều kiện cho sự phát triển của
LLSX, là hình thức xã hội có tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm LLSX. Chính vì vậy, mỗi
loại hình, hình thức sở hữu chưa thể mất đi khi chúng còn phù hợp với trình độ phát triển
của LLSX, và cũng không thể tùy tiện dựng lên, hay thủ tiêu chúng khi LLSX không đòi
hỏi. Do vậy, khi quá độ lên chủ nghĩa xã hội phải tính đến sự biến đổi phức tạp từ QHSX,
trong đó trực tiếp là chế độ sở hữu.
Chúng ta đều biết, khi nghiên cứu xã hội tư bản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát hiện

- Phải đạt được trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt công nghệ thông tin và công nghệ
sinh học.
- Từng bước phát triển nền kinh tế tri thức.
- Coi giáo dục đào tạo là nhiệm vụ hàng đầu.
. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với chính trị và các mặt khác của đời sống xã
hội (củng cố đổi mới kiến trúc thượng tầng):
- Đổi mới hệ thống chính trị.
- Nâng cao sức chiến đấu của Đảng.
- Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Trước khi đi vào công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và muốn đat được thành
công thì nhất thiết phải có tiềm lực kinh tế và con người, trong đó lực lượng lao động là
một yếu tố quan trọng. Ngoài ra còn phải có sự phù hợp giữa QHSX với trình độ phát
triển của LLSX, đây chính là nhân tố cơ bản nhất.
Đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa với tiềm năng lao
động lớn, cần cù, thông minh, sáng tạo và có kinh nghiệm lao động nhưng công cụ lao
động của chúng ta còn thô sơ. Nguy cơ tụt hậu của đất nước ngày càng được khắc phục.
Đảng ta đang triển khai mạnh mẽ một số vấn đề của đất nước về công nghiệp hóa – hiện
đại hóa đất nước trước hết trên cơ sở một cơ cấu sở hữu hợp quy luật, gắn liền với một cơ
cấu các thành phần kinh tế hợp quy luật, cũng như cơ cấu một xã hội hợp giai cấp cùng
với thời cơ lớn thì cũng có rất nhiều thách thức phải vượt qua để hoàn thành sự nghiệp
công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, vì dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn
minh. Nhưng điều đó còn ở phía trước mà nội dung cơ bản trong việc thực hiện là phải
nhận thức đúng đắn về quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX trong
giai đoạn hiện nay của nước ta.
C. KẾT LUẬN
Quy luật của QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX là quy luật hết sức phổ
biến. Tuy nhiên không phải bất cứ lúc nào cũng có sự phù hợp đó. Do vậy phải nắm bắt
tốt quy luật này để chúng ta có thể áp dụng vào từng trường hợp cụ thể. Quy luật QHSX
phù hợp với trình độ phát triển của LLSX còn là quy luật phổ biến trong toàn bộ tiến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status