Tiểu luận Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái ở Việt Nam - Pdf 27

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU

1
Chương 1 Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến
1.1
Sự ra đời của phép biện chứng 3
1.2
Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến 4
1.2.1Nội dung nguyên lí về mối liên hệ phổ biến 4
1.2.2Ý nghĩa phương pháp luận về mối liên hệ phổ biến 6
Chương 2 Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở Việt Nam
2.1 Mối liên hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường 8
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay hội nhập kinh tế quốc tế là vấn đề bức xúc của thời đại, mọi
quốc gia dù lớn hay nhỏ, dù giàu hay nghèo, dù muốn hay không cũng đều
bị cuốn hút hoặc chủ động tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Nhận biết được xu thế đó của thời đại Đảng và Nhà nước ta đã đề ra
phương hướng chủ động tham gia hội nhập vào kinh tế quốc tế và đang
chuẩn bị gia nhập vào tổ chức thương mại WTO. Tuy nhiên bên cạnh đó
Đảng và Nhà nước ta cũng nhận rõ được mặt tích cực và mặt tiêu cực của
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và đưa ra biện pháp khắc phục mặt tiêu
cực đó là phải kết hợp giữa hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng nền kinh tế
độc lập tự chủ.
Sự tăng trưởng kinh tế ngày càng nhanh, một mặt nó nâng cao đời
sống của người dân nhưng mặt khác nó đang gây một sức ép mạnh mẽ lên
môi trường tự nhiên. Cũng như các nước đang phát triển khác, để có những
kết quả về kinh tế trong giai đoạn trước mắt, chúng ta phải trả giá là mất đi
sự bền vững của các nguồn tài nguyên về lâu dài. Một thập kỷ phát triển
nhanh chóng ở Việt Nam đó dẫn đến sự gia tăng ô nhiễm đất, không khí,
2.2

đại. Đến khoảng thế kỷ 17 nửa đầu thế kỷ 18, phương pháp siêu hình thống
trị trong tư duy triết học mà đại diện là Đêcactơ – ông được coi là linh hồn
của phương pháp siêu hình. Trong khoảng nửa sau thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19
đây là thời kỳ tổng kết các lịch sử triết học nhân loại và hình thành hệ thống
lớn đó là phương pháp biện chứng duy tâm mà đại diện là Hêgen ông được
coi là tiền đề của phương pháp biện chứng duy vật sau này. Ngày nay phép
biện chứng đó đạt đến trình độ cao nhất đó là phép biện chứng duy vât. Phép
biện chứng duy vật được tạo thành từ một loạt những phạm trù, những
nguyên lý, những quy luật được khái quát từ hiện thực phù hợp với hiện
thực. Cho nên nó phản ánh đúng sự liên hệ, sự vận động và sự phát triển của
tự nhiên, xã hội và tư duy. Nhờ vậy nó đã khắc phục được những hạn chế
vốn có của phép biện chứng tự phát cổ đại cho rằng thế giới là một chỉnh thể
thống nhất, giữa các bộ phận của nó có mối liên hệ qua lại, thâm nhập vào
nhau, tác động và chịu ảnh hưởng lẫn nhau, thế giới và các bộ phận cấu
thành thế giới ấy không ngừng vận động và phát triển. Tuy nhiên sự hạn chế
của phương pháp biện chứng này là tuy nó cho chúng ta thấy một bức tranh
về sự tác động qua lại, sự vận động và phát triển nhưng chưa làm rõ được cái
gì đang liên hệ cũng như những quy luật nội tại của sự vận động và phát
triển. Hơn nữa phép biện chứng duy vật cũng sửa được sai lầm của phép
4
biện chứng duy tâm khách quan thời cổ đại mà đại biểu là Hêgen - đại diện
lỗi lạc của phép biện chứng. Hêgen cho rằng sự phát triển biện chứng của
thế giới bên ngoài chỉ là sự sao chép lại sự tự vận động của “ý niệm tuyệt
đối ”mà thôi. Phép biện chứng duy vật đó chứng minh rằng : những ý niệm
trong đầu óc của chúng ta chẳng qua là sự phản ánh của các sự vật hiện thực
khách quan, do đó bản thân biện chứng của ý niệm chỉ đơn thuần là sự phản
ánh có ý thức của sự vận động biện chứng của thế giới hiện thực khách
quan.Như vậy phép biện chứng duy vật đã khái quát một cách đúng đắn
những quy luật vận động và sự phát triển chung nhất của thế giới. Vì vậy
P.Ăngen đó định nghĩa: “phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về

các sự vật, các hiện tượng khác nhau, nói chung nó không có nghĩa quyết
định, hơn nữa nó thường phải thông qua các mối liên hệ bên trong mà phát
huy. Tuy nhiên mối liên hệ bên ngoài cũng hết sức quan trọng, đôi khi cũng
giữ vai trò quyết định. Ngoài ra cũng có mối liên hệ chủ yếu, có mối liên hệ
thứ yếu, có mối liên hệ chung bao quát toàn bộ thế giới, có mối liên hệ bao
quát một số lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực riêng biệt của thế giới. Có mối
liên hệ trực tiếp, có mối liên hệ gián tiếp mà trong đó sự tác động qua lại
được thực hiện thông qua một hay một số khâu trung gian. Có mối liên hệ
bản chất và mối liên hệ không bản chất, có mối liên hệ tất yếu và mối liên hệ
ngẫu nhiên. Có mối liên hệ giữa các sự sự vật khác nhau, có mối liên hệ
khác nhau của cùng một sự vật. Sự vật, hiện tượng nào cũng vận động và
phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau, giữa các giai đoạn đó cũng có mối
liên hệ với nhau tạo thành lịch sử phát triển hiện thực của các sự vật và các
quá trình tương ứng. Quan điểm duy vật biện chứng về sự liên hệ đòi hỏi
6
phải thừa nhận tính tương đối trong sự phân loại đó. Các loại liên hệ khác
nhau có thể chuyển hoá cho nhau. Sự chuyển hoá đó có thể diễn ra hoặc do
thay đổi phạm vi bao quát khi xem xét hoặc do kết quả vận động khách quan
của chính sự vật hiện tượng ấy.
1.2.2 Ý nghĩa phương pháp luận về mối liên hệ phổ biến
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến xét dưới góc độ thế giới quan thì nó
phản ánh tính thống nhất của vật chất và thế giới. Các sinh vật, hiện tượng
trên thế giới dù có đa dạng, có khác nhau như thế nào chăng nữa thì chúng
cũng chỉ là những dạng khác nhau của một thế giới duy nhất đó là thế giới
vật chất. Xét dưới góc độ nhận thức lí luận, nó là cơ sơ lí luận của quan điểm
toàn diện. Với tư cách là một nguyên tắc phương pháp luận trong việc nhận
thức các sự vật, hiện tượng, quan điểm toàn diện đòi hỏi để có nhận thức
đúng về sự vật chúng ta cần xem xét nó: một là : trong mối liên hệ qua lại
giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của chính sự vật
đó, hai là : trong mối liên hệ qua lại giữa các sự vật đó với các sự vật khác,

giữa môi trường sinh thái và tăng trưởng kinh tế có mối liên hệ biện chứng
chặt chẽ. Như chúng ta đó biết môi trường sống được sinh ra và tồn tại trong
tự nhiên, vì vậy cụ thể nói nó tồn tại một cách khách quan độc lập với ý thức
con người. Tuy nhiên sự phát triển của môi trường lại hoàn toàn phụ thuộc
vào ý thức của con người, con người có thể tác động làm cho môi trường tốt
lên hoặc xấu đi. Tăng trưởng kinh tế lại được sinh ra, tồn tại và phát triển
hoàn toàn phụ thuộc vào con người nên nó tồn tại chủ quan. Môi trường chịu
tác động trực tiếp của con người, tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào con
người từ đó ta có thể thấy môi trường cũng chịu tác động của tăng trưởng
kinh tế và ngược lại, mối quan hệ giữa chúng được thông qua một thực thể
đó là con người. Môi trường là địa bàn để tăng trưởng kinh tế hoạt động vì
tăng trưởng kinh tế diễn ra trên diện rộng và cần khai thác tài nguyên thiên
nhiên nhằm phục vụ cho lợi ích của con người. Nhưng tài nguyên của môi
trường không phải là vô hạn. Nếu chỉ tăng trưởng kinh tế mà không nghĩ đến
việc cải tạo môi trường thì một ngày nào đó tăng trưởng kinh tế phải dừng
lại do môi trường bị suy thoái. Lúc đó con người phải gánh chịu hậu quả do
9
chính con người gây ra. Một sản phẩm do con người tạo ra lại phá huỷ cái
mà con người chịu tác động trực tiếp vì con người không thể sống mà không
chịu sự tác động của môi trường. Ngược lại, nếu tăng trưởng kinh tế gắn với
việc bảo vệ môi trường thì không những nó làm cho đời sống của con người
ngày càng được cải thiện mà nó cũng làm cải thiện cả môi trường do kinh tế
phát triển nhà nước có ngân sách cho những dự án bảo vệ môi trường, nguồn
tài nguyên bị khai thác được thay thế dần bởi các nguồn tài nguyên tự tạo
2.2 Môi trường đang bị huỷ hoại do các chính sách tăng trưởng kinh
tế ở Việt Nam
2.2.1 Trong công nghiệp
Thực hiện nghị quyết Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ 6, kể từ năm 1986
Việt Nam bước vào công cuộc đổi mới. Công cuộc đổi mới này được tiến
hành trên toàn diện, trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội như đổi

trường sống.
Ngoài ra, trong quá trình sản xuất, kinh doanh, các cơ sở doanh nghiệp
thường thải ra một lượng nươc thải khá lớn. Đặc biệt là khoảng hơn 90% cơ
sở sản xuất cũng chưa có thiết bị xử lí nước thải. Phần lớn các nhà máy xí
nghiệp nếu có tiến hành xử lí thì chỉ xử lí sơ bộ rồi thải thẳng ra nguồn nước
mặt, gây ô nhiễm trầm trọng đối với nhiều dòng sông. Trong nhiều trường
hợp, nuớc thải ứ đọng lâu ngày cũng gây ô nhiễm không khí, mất mỹ quan,
lan truyền bệnh dịch và nhiều tác động tiêu cưc khác. Nước thải công nghiệp
chính là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm cho môi trường đô thị
Khí thải của các cơ sở doanh nghiệp sản xuất cũng là vấn đề cần bàn tới. Ô
11
nhiễm môi trường không khí chủ yếu do các ngành nhiệt điện, công ngiệp
hoá chất gây nên. Ví dụ nhà máy nhiệt điện Phả Lại, nồng độ bụi trung bình
tại các điểm đo đều vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1 đến 6 lần. Tại nhà máy
nhiệt điện Uông Bí, nồng độ bụi đo trong 1 giờ từ 4 đến 4,7 mg/m
3
, gấp 13
đến 16 lần trị số cho phép. Nồng độ các chất khí độc hại khác như CO
2,
NO
2,
SO
2
… trong không khí xung quanh nhiều nhà máy và khu công nghiệp đều
vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 đến 2,5 lần. Điều này đó gây tác động xấu
đối với mùa màng và sức khoẻ của nhân dân của cả một vùng rộng lớn xung
quanh các khu vực nhà máy. Tuy trong thời gian qua, phần lớn các nhà máy
đó trang bị thiết bị xử lí bụi nhưng số lượng các nhà máy có thiết bị xử lí khí
độc hại cón rất ít mà chủ yếu được thải thẳng ra ngoài không khí, ảnh hưởng
trực tiếp đến sưc khoẻ con người.

loại vỏ, bao đựng trên ruộng trước tiên gây ô nhiễm nguồn nước sau là gây
nguy hiểm cho những người sử dụng các loại rau, củ, quả đó. Thực tế là
trong năm 2002, ở miền Bắc, giá nhãn và vải đã mất giá nghiêm trọng do
Trung Quốc không nhập khẩu vì hàng chưa đảm bảo tiêu chuẩn chất
lượng… Sử dụng hoá chất không được phép trước tiên là gây ô nhiễm nguồn
nước, không tiêu thụ được hàng hoá, sau cùng là gây ra thoái hoá đất- một
sự mất mát lớn. Môi trường nông thôn cũng đang kêu cứu.
2.2.3 Trong du lịch biển
Trước tình hình tăng trưởng kinh tế, các phương tiện thông tin, giao thông
vận tải ngày càng dễ dàng và thuận tiện. Đây là điều kiện để hoạt động du
lịch phát triển trở nên nhanh chóng. Ngành du lịch nước ta hãy còn rất non
trẻ so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên trong 10 năm
qua, cùng với quá trình đổi mới và chuẩn bị hội nhập nền kinh tế thế giới du
13
lịch nước ta cũng đã có những bước phát triển ban đầu. Năm 2001 toàn
ngành đón 2,33 triệu lượt khách quốc tế, tăng gần 9%so với năm 2000, vượt
kế hoạch 6% so với năm 2000. Du lịch phát triển tạo nhiều công ăn việc làm
cho dân cư và thu được một lượng ngoại tệ lớn cho ngân sách quốc gia. Tuy
nhiên cũng như sự phát triển trong công nghiệp và nông nghiệp, hoạt động
du lịch cũng đang tác động đến môi trường về nhiều mặt.
Do nhu cầu phát triển du lịch, nhiều diện tích đất đai bị khai phá để xây
dựng cơ sở hạ tầng như làm đường giao thông khách sạn, các khu thể thao,
các khu vui chơi giải trí. Điều đó gây phá hoại hoặc tổn thất tới cảnh quan
thiên nhiên, các hệ sinh thái.
Hoạt động du lịch có thể gây tác động khác tới tài nguyên nước, đặc biệt là
các chất thải, các chất gây ô nhiễm do các khách sạn, nhà hàng, các hoạt
động vận tải thuỷ và khách du lịch tạo nên. Hiện nay ở nước ta, tình trạng
rác thải bừa bãi tại các điểm du lịch, vui chơi giải trí còn phổ biến, điều đó
không những ảnh hưởng tới vệ sinh công cộng và môi trường mà còn gây
cảm giác khó chịu cho du khách.

chủng trước tình trạng săn bắt tràn lan để làm vật chưng bày hoặc làm thịt
cho các thực khách… Hệ sinh thái đang mất đi sự cân bằng trước sự phá
hoại như vũ bão của con người.
2.3 Hậu quả của ô nhiễm môi trường
“Nếu chúng ta bắn vào thiên nhiên một phát đạn, thì thiên nhiên sẽ bắn trả
lại ta bằng đại bác ”. Thực tế cho thấy, đi kèm với quá trình công nghiệp
15
hoá, hiện đại hoá, chúng ta đang phải gánh chịu những hậu quả do chính
chúng ta gây ra. Trong vòng 7 năm trở lại đây, các thảm hoạ tự nhiên như
bão xoắy, lụt lội, hạn hán…ngày càng tăng nhanh cả về tần suất lẫn cường
độ như hạn hán ở miền Trung, bão lụt ở đồng bằng sông Cửu Long, cháy
rừng ở U Minh… đã cướp đi sinh mạng của nhiều người, thâm hụt vào ngân
sách quốc gia hàng trăm tỷ đồng - một con số không nhỏ đối với một quốc
gia còn nghèo như Việt Nam. Ngoài ra, đi đôi với sự suy giảm môi trường,
các bệnh về thời tiết cũng gia tăng, thiệt hại người do các bệnh về đường
nước tăng như sốt rét, tiêu chảy Các bệnh liên quan đến đường ruột bệnh
giun, bệnh sán máng, giun trong máu… các bệnh về hô hấp như viêm phổi,
ung thư phổi… Cuộc sống của con người đang bị đe doạ
2.4 Giải pháp giải quyết vấn đề
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đang tăng cường quan
hệ thương mại song phương với các nước trên thế giới và tiến hành thủ tục
đàm phán để gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới(WTO), tham gia tích
cực vào các định chế kinh tế khu vực như ASEAN, APEC, ASEM… và đặc
biệt là hiệp định thương mại Việt -Mỹ. Để hàng Việt Nam có chỗ đứng và
khả năng cạnh tranh với các nước khác chúng ta cần:
Tăng cường kiểm tra, giám sát sự tuân thủ về pháp luật của các cơ sở
công nghiệp
Khuyến khích sử dụng công nghệ và dây chuyền sản xuất tiết kiệm
năng lượng, nguyên liệu, phát triển nguồn năng lượng sạch, ít khí thải.
Bắt buộc các nhà máy mối đầu tư áp dụng công nghệ tiên tiến, xây

Bảo vệ nguồn sinh vật biển, đặc biệt là những loại quý hiếm
Nâng cao ý thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường
LỜI KẾT
“Chúng tôi không chỉ muốn cho bạn thấy những con số. Đã đến lúc tất
cả mọi người trên toàn thế giới phải chung tay hành động nhằm xoay chuyển
sang một cục diện tích cực cho hành tinh xanh của chúng ta”- Ông Philippe
Cousteau, Giám đốc điều hành tổ chức phi chính phủ quốc tế Earth Echo
(Tiếng Vọng Trái đất) nhận định.Việt Nam đang trên con đường công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước với nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa. Chúng ta phải đi từ mục tiêu cơ bản nhất của mọi sự phát
triển xã hội đó là phát triển để cải thiện nâng cao chất lượng cuộc sống và vì
sự sống trường tồn bền vững. Đây là vấn đề quan trọng trong công cuộc
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay cũng như về lâu dài. Tất cả
các bài học kinh nghiệm đó rút ra trong quá trình quy hoạch phát triển trước
đây cần phải được vận dụng triệt để cho quá trình phát triển của tương lai
sao cho tránh được những hậu quả có thể xảy ra và đảm bảo hiệu quả cao
nhất cho quá trình phát triển kinh tế. Chúng ta bảo vệ môi trường không phải
nhằm mục đích hạn chế quá trình phát triển kinh tế mà nhằm mục đích đảm
bảo hiệu quả kinh tế cao hơn cho quá trình phát triển tất yếu này, đồng thời
nhằm bảo vệ chất lượng cuộc sống của mỗi con người chúng ta
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status