Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục mầm non ở thị xã lai châu, tỉnh lai châu - Pdf 27

MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống hiếu học từ lâu đời. Trải qua
hàng ngàn năm lịch sử, truyền thống đó đã góp phần tạo nên nét đẹp của
nền văn hiến Việt Nam và được phát huy hơn bao giờ hết trong thời đại mới.
Hơn nửa thế kỷ qua, kể từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra
đời. Trong sự nghiệp đấu tranh, bảo vệ và xây dựng đất nước, nền giáo dục
nước nhà thực sự giữ một vai trò quan trọng, gánh vác sứ mệnh quang vinh
của dân tộc.
Ngµy nay trong thập niên đầu thế kỷ XXI, bối cảnh quốc tế cho thấy
cuộc cách mạng khoa học công nghệ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, làm nền
tảng cho sự phát triển kinh tế tri thức. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
vừa là quá trình hợp tác để phát triển vừa là quá trình đấu tranh của các
nước đang phát triển để bảo vệ quyền lợi quốc gia. Cạnh tranh kinh tế giữa
các quốc gia ngày càng trở nên quyết liệt, đòi hỏi các nước phải đổi mới
công nghệ, tăng năng suất lao động, đặt ra vị trí mới cho giáo dục. Trước
sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, sự phát triển năng động
của các nền kinh tế, cùng với quá trình hội nhập và toàn cầu hóa vừa là thời
cơ vừa là thách thức đối với các nước đang phát triển trong việc rút ngắn
khoảng cách về trình độ phát triển giữa các quốc gia. Khoa học công nghệ
trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội; giáo dục - đào tạo là nền tảng
của khoa học công nghệ. Do vậy đổi mới và phát triển giáo dục - đào tạo là
yêu cầu tất yếu.
Thấy rõ vai trò và tầm quan trọng đó của giáo dục - đào tạo, trong
nhiều kỳ đại hội gần đây, Đảng ta đã xây dựng định hướng phát triển giáo
dục - đào tạo, coi đây là lĩnh vực then chốt, tạo điều kiện cho giáo dục - đào
tạo thực hiện sứ mệnh đi trước, đón đầu. Những Quan điểm của Đảng về
đường lối phát triển giáo dục và đào tạo được thể hiện rõ trong Nghị quyết
Trung ương 2 Khóa VIII; Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6, lần thứ 9 Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX; Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
1

2
cấu; chương trình chăm sóc, giáo dục mầm non còn lạc hậu cả về mục tiêu,
nội dung và phương pháp; chất lượng, hiệu quả giáo dục còn thấp; cơ chế hỗ
trợ, phối hợp thực hện mục tiêu giáo dục mầm non chưa được thể chế hóa, ….
Trước thực tiễn trên, với tư cách là động lực phát triển kinh tế - xã
hội, giáo dục - đào tạo cần phải tiếp tục đổi mới, phát triển và đặc biệt
không ngừng nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục toàn diện, ngay từ cấp
học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân, đó là nâng cao chất lượng
giáo dục mầm non. Bởi giáo dục mầm non là khâu đầu tiên của quá trình
giáo dục thường xuyên cho mọi người, là giai đoạn đầu tiên đặt nền móng
cho sự hình thành và phát triển nhân cách của con người; là cấp học có ý
nghĩa quan trọng tạo tiền đề nền tảng vững chắc cho giáo dục phổ thông và
toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân.
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển giáo dục - đào tạo của
cả nước, giáo dục - đào tạo ở tỉnh Lai Châu nói chung và thị xã Lai Châu
nói riêng đã từng bước phát triển cả về quy mô, số lượng và chất lượng cơ
bản đã đáp ứng nhu cầu học tập của con em các dân tộc trên địa bàn. Mạng
lưới trường lớp phát triển khá đồng bộ giữa các cấp học, bậc học; mỗi xã,
phường đều có ít nhất 01 trường: mầm non, tiểu học và THCS; và toàn thị
xã có 3 trường THPT. Tổng số học sinh các cấp đến trường tăng đáng kể,
cơ sở vật chất phục vụ cho dạy và học được cải thiện, chất lượng giáo dục,
tỷ lệ chuyển lớp, chuyển cấp đạt khá cao, công tác phổ cập giáo dục được
đẩy mạnh. Riêng đối với giáo dục mầm non đã thực hiện được việc xóa bản
trắng về giáo dục mầm non; tỷ lệ trẻ mầm non ra lớp ngày một tăng; chất
lượng chăm sóc, giáo dục trẻ cũng có nhiều tiến bộ, cơ sở vật chất, thiết bị
đồ chơi được tăng cường; đội ngũ cán bộ, giáo viên cơ bản đủ, đảm bảo
trình độ, nhiệt tình, tâm huyết với ngành.
Tuy nhiên sự nghiệp giáo dục của Thị xã cũng còn nhiều mặt hạn
chế: điều kiện phục vụ cho giảng dạy và học tập còn nhiều khó khăn, chất
lượng đội ngũ còn nhiều mặt hạn chế, công tác quản lý còn bất cập so với

mầm non ở thị xã Lai Châu, tỉnh Lai Châu" làm luận văn tốt nghiệp
Cao cấp lý luận Chính trị - Hành chính.
4
II. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở lí luận khoa học của chủ nghĩa Mác- lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về giáo dục - đào tạo cùng
với thực tiễn học tập và công tác, phân tích đánh giá đúng thực trạng tình
hình giáo dục mầm non ở thị xã Lai Châu - tỉnh Lai Châu. Từ đó đề xuất
một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
mầm non trong thời gian tới, đề xuất kiến nghị nhằm thực hiện tốt những
nội dung đã nêu ra.
2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:
- Làm rõ cơ sở lý luận về giáo dục và nâng cao chất lượng giáo dục.
- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng giáo dục mầm non ở thị xã Lai Châu
trong 5 năm trở lại đây (từ năm học 2005- 2006 đến năm học 2009 - 2010).
- Nêu mục tiêu, phương hướng, đề xuất một số giải pháp và kiến nghị
góp phần nâng cao chất lượng giáo dục mầm non ở thị xã Lai Châu trong
thời gian tới.
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là chất lượng giáo dục mầm non ở thị xã Lai
Châu - tỉnh Lai Châu.
2. Phạm vị nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu chủ yếu thực trạng và giải pháp nâng
cao chất lượng giáo dục mầm non ở thị xã Lai Châu - tỉnh Lai Châu.
Thời gian nghiên cứu khảo sát chất lượng giáo dục trong 5 năm trở
lại đây, từ năm học 2005 - 2006 đến năm học 2009 - 2010.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

kinh tế, văn hóa, xã hội, ngay từ khi nghiên cứu về Chủ nghĩa xã hội
khoa học, Mác - Ănghen đã có những nghiên cứu cụ thể về mẫu hình
con người trong xã hội. Đó là những con người lao động, được phát
triển tối đa về thể chất và tinh thần (trí tuệ). Các ông đã nhìn nhận thấy
trước ở xã hội xã hội chủ nghĩa việc đào tạo những người cộng sản phát
triển toàn diện có ý nghĩa đặc biệt. Từ đó Mác - Ănghen đã có quan
niệm hết sức rõ ràng về giáo dục:
"Chúng tôi hiểu giáo dục gồm 3 điểm:
- Thứ nhất: Giáo dục trí lực.
- Thứ hai: Giáo dục thể lực như đang được thực hành trong các
trường thể dục thể thao và bằng luyện tập quân sự.
- Thứ ba: Huấn luyện bách khoa (giáo dục kỹ thuật) giới thiệu
những nguyên tắc cơ bản của tất cả các quá trình sản xuất, đồng thời
tập cho trẻ em và thiếu niên quen sử dụng những công cụ đơn giản nhất
cho tất cả các ngành sản xuất"
(1)
.
Về phương pháp giáo dục, C.Mác chỉ ra rằng: "Nền giáo dục sẽ kết
hợp lao động sản xuất với trí lực và thể lực, đối với hết thảy các trẻ em
trên một lứa tuổi nhất định nào đó và làm như vậy không những chỉ là
phương pháp tăng thêm sản xuất xã hội mà còn là phương pháp tốt nhất và
duy nhất tạo ra những con người toàn diện".
(2)
1
C.Mác - Ănghen: Tuyển tập, Nxb Sự thật, HN, 1980, tập 3, tr. 185-186.
22
C.Mác

- Ănghen: Tuyển tập, Nxb Sự thật, HN, 1980, tập I, Tr460.
7

8
Trong dự thảo cương lĩnh của Đảng cộng sản (Bôn sê vích) Nga
tháng 02 năm 1919 Lênin đã nêu những ý tưởng về giáo dục và đào tạo
mà ngày nay vẫn còn mang tính thời sự và giá trị vận dụng. Đó là:
"Thực hiện chế độ giáo dục không mất tiền, bắt buộc phổ thông và
bách khoa (dạy lý thuyết và thực hành về tất cả các ngành sản xuất chủ
yếu) cho tất cả các trẻ em trai và gái dưới 16 tuổi. Kết hợp chặt chẽ
công tác giáo dục với lao động sản xuất xã hội. Lôi cuốn nhân dân lao
động tích cực tham gia sự nghiệp giáo dục phát triển hội đồng giáo dục
quốc dân, huy động những người biết chữ dạy người chưa biết chữ"
(3)
Khẩu hiệu nổi tiếng của Lênin: “Học, học nữa, học mãi” đã trở
thành triết lý cuộc sống của hàng triệu con người trong các thế hệ. Học tập
vừa là quyền lợi, vừa là nghĩa vụ của mỗi công dân, chỉ có học tập không
ngừng mới vươn lên chiếm lĩnh đỉnh cao của trí tuệ loài người. Chính vì
thế, Ủy ban quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI đã đưa giáo dục suốt đời trở
thành một nguyên lý của nền giáo dục mở đầu thiên niên kỷ mới.
Những luận điểm nổi tiếng của C.Mác - Ph.Ăngghen và V.I. Lênin về
giáo dục, đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Nó là nền tảng cho định hướng
chiến lược, mục tiêu giáo dục nhằm hướng tới sự phát triển bền vững của
xã hội vì con người, vì công bằng và tiến bộ xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh người học trò xuất sắc của Mác - Lênin, vị
lãnh tụ thiên tài của nhân dân Việt Nam, người anh hùng giải phóng dân
tộc, danh nhân văn hoá thế giới. Bên cạnh việc tiếp thu đầy đủ những tư
tưởng của Mác - Lênin về giáo dục và đào tạo, Người còn tiếp thu có chọn
lọc những tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại. Từ đó làm sáng tỏ, phát triển
sáng tạo và nâng những giá trị tư tưởng của Mác - Lênin lên một tầm cao mới.
Trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng về giáo
dục luôn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp cách
mạng Việt Nam. Tư tưởng của Người không bó hẹp ở việc giáo dục tri

dục trẻ em. Người khẳng định: Con trẻ là cái mầm cái búp của dân tộc.
Con trẻ có được nuôi dưỡng giáo dục hẳn hoi, thì dân tộc mới có thể tự
cường, tự lập. Có thể nói, Giáo dục mầm non là giai đoạn ban đầu rất quan
trọng để hình thành và phát triển nhân cách của con người.
Ngay sau khi đất nước vừa giành được độc lập (1945), Nhà nước non
trẻ đầu tiên của Việt Nam ra đời đã phải đối phó với hàng loạt nguy cơ,
thách thức. Đó là nguy cơ của "giặc đói", "giặc dốt" và đặc biệt là "giặc
ngoại xâm". Trước tình thế "ngàn cân treo sợi tóc", Chủ tịch Hồ Chí Minh
4
Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, HN.2002, tập 9 Tr 222.
5
Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, HN.2002, tập 10 Tr 310.
10
đã ký sắc lệnh thành lập Nha bình dân học vụ, toàn dân học chữ quốc ngữ
và đề ra khẩu hệu : Chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Người nói:
Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu; dân tộc ta có biết đọc, biết viết, biết
chính nghĩa và phi nghĩa thì quan điểm đường lối, chính sách của Đảng
và Chính phủ mới đi vào cuộc sống, mới trở thành động lực của cách mạng,
thúc đẩy công cuộc kháng chiến cứu quốc thắng lợi.
Từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, hơn 90% dân số mù chữ,
thực hiện lời dạy của Bác, chỉ sau một năm "Diệt giặc dốt" nhân dân ta đã
cơ bản thoát khỏi nạn mù chữ, đời sống văn hóa mới từng bước được xác
lập trong cuộc sống. Đó là một kỳ tích về phát triển giáo dục trong lịch sử
giáo dục Việt Nam.
Nhân ngày khai trường đầu tiên khi nước nhà mới giành được độc
lập, Bác Hồ đã gửi thư cho học sinh cả nước với những lời thân ái, đầy tâm
huyết vừa động viên, căn dặn, khuyên dạy thế hệ trẻ, vừa khẳng định vai
trò to lớn của giáo dục trong sự nghiệp kiến quốc: "Non sông Việt Nam có
trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang
để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ

nhà được độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm
ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Chính vì vậy, Người đã đặt ra động cơ,
mục tiêu mà các nhà trường cần phải thực hiện trong hoạt động dạy và học
là: "Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể,
giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại "
(9)
, "Học để tu dưỡng đạo dức
cách mạng", "Học để tin tưởng", "Học để hành"
(10)
.
Tuy Bác đã đi xa song những quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ
Chí Minh về giáo dục và đào tạo luôn soi sáng sự nghiệp trồng người ở
Việt Nam. Tư tưởng đó không chỉ là cơ sở lý luận cho việc xác định chủ
trương, đường lối chỉ đạo phát triển nền giáo dục Việt Nam của Đảng ta
qua các thời kỳ cách mạng, xác định chiến lược đào tạo con người, mà còn
góp phần tích cực vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, chống
Mỹ và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng thời đó cũng
là những bài học, kinh nghiệm thực tiễn giáo dục hết sức sinh động, thiết
thực và hiệu quả đối với những người làm công tác giáo dục nói riêng và
ngành giáo dục - đào tạo nói chung. Ngày nay trong công cuộc đổi mới đất
nước, những giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí minh về giáo
dục luôn là định hướng quan trọng để toàn Đảng, toàn quân và dân ta vững
bước đi lên CNXH - con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn.
8
Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, HN.2002, Tr 396.
9
Hồ Chí Minh về giáo dục, Nxb Giáo dục, tái bản 1990.
10
Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Sự thật, HN.1976, tập 4, Tr 425.
12

đầu, là động lực thúc đẩy, là điều kiện cơ bản bảo đảm thực hiện các mục
13
tiêu kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước; phải coi giáo dục là một
hướng chính của đầu tư phát triển.
Hội nghị lần thứ hai ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII ra
Nghị quyết về: "Định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong
thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2020". Đây là
sự kế thừa, hoàn thiện và nâng cao những tư tưởng chỉ đạo phát triển giáo
dục của Đảng trong hoàn cảnh mới; khẳng định "Giáo dục - đào tạo là sự
nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân"
(11)
, nền giáo dục của
nước ta thực sự là của dân, do dân, vì dân. Mọi người đều có quyền và
nghĩa vụ học tập; mọi người phải chăm lo cho giáo dục; thực hiện công
bằng trong giáo dục - đào tạo. Nghị quyết cũng xác định rõ các mục tiêu
đến năm 2020 mà giáo dục - đào tạo cần phải thực hiện. Trong đó có mục
tiêu: "Xây dựng hoàn chỉnh và phát triển bậc học mầm non cho hầu hết trẻ
em trong độ tuổi. Phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ cho các gia đình"
(12)
.
Bước sang thế kỷ XXI với mốc lịch sử cực kỳ quan trọng - thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Để đảm bảo thành công
sự nghiệp này phải lấy việc phát huy yếu tố con người làm yếu tố cơ bản
cho sự phát triển nhanh và bền vững. Kế thừa, hoàn thiện và nâng cao
những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục - đào tạo trong giai
đoạn mới, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (4/2001) khẳng
định: "phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan
trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH, là điều kiện để phát huy nguồn lực
con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh
và bền vững"

môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia
đình và xã hội, xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi
công dân được học tập suốt đời"
(15)
.
Những quan điểm định hướng phát triển giáo dục thể hiện trong văn
kiện Đại hội Đảng lần thứ XI đã chứng tỏ tầm nhìn cho một giai đoạn mới,
đặt hoạt động giáo dục - đào tạo gắn liền với xu thế phát triển chung của
nhân loại và của quốc gia. Đó là nền tảng tư tưởng vững chắc để giáo dục -
đào tạo Việt Nam có thể “sánh vai với các cường quốc năm châu” như
mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội năm 2011-2020, Đảng ta
đã xác định 5 quan điểm phát triển, xây dựng mục tiêu tổng quát: "Phấn
đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng
hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ
quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam
trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát
15
ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, HN.2011,Tr 41.
15
triển cao hơn trong giai đoạn sau"
(16)
; đồng thời xác định 3 khâu đột phá
chiến lược:
"(1) Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách
hành chính.
(2) Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất
lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục

chuyờn ngnh mi nhn, cht lng cao.
- i mi mnh m ni dung, chng trỡnh, phng phỏp dy v hc
tt c cỏc cp, bc hc. Tớch cc chun b t sau nm 2015 thc hin
chng trỡnh giỏo dc ph thụng mi. M rng v nõng cao cht lng o
to ngoi ng. Phỏt trin nhanh v nõng cao cht lng giỏo dc vựng
khú khn, vựng nỳi, vựng ng bo dõn tc thiu s. y mnh phong tro
khuyn hc, khuyn ti, xõy dng xó hi hc tp. Thc hin tt bỡnh ng
v c hi hc tp v cỏc chớnh sỏch xó hi trong giỏo dc.
Nh vy nhng quan im ch o ca ng v Nh nc ta nờu trờn
ó th hin kinh nghim lónh o giỏo dc - o to ca ng v Nh
nc, phự hp vi tinh thn chung ca thi i v thc tin t nc.
Trong mỗi giai đoạn lịch sử, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Đảng và Nhà nớc
luôn coi trọng giáo dục - đào tạo, xem giáo dục - đào tạo l lnh vc then
cht; luôn có định hớng phát triển hoàn thiện quan điểm đờng lối, chính
sách về GD-Tcủa nớc nhà; luôn to iu kin cho GD-T thc hin s
mnh i trc, ún u nhm mc tiờu phỏt trin t nc nhanh, mnh,
vng chc.
Nhng quan im nờu trờn l c s cho vic nhn thc ỳng n hot
ng giỏo dc tng a phng, t ú tỡm ra gii phỏp phự hp nhm
nõng cao cht lng giỏo dc cỏc a phng núi riờng v phỏt trin s
nghip giỏo dc - o to trong c nc núi chung.
II. V TR, VAI TRề CA GIO DC - O TO NểI CHUNG V GIO
DC MM NON NểI RIấNG TRONG GIAI ON HIN NAY
1. Quan nim v giỏo dc - o to v vai trũ ca giỏo dc - o
to i vi s nghip i mi nc ta
* Quan nim v giỏo dc - o to
17
Giáo dục là hoạt động đặc trưng, tất yếu của xã hội loài người, nhằm
chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản
xuất, bằng cách tổ chức việc truyền thụ những tri thức, kinh nghiệm lịch sử

Với tư cách là một thành tố cơ bản của nền văn hóa dân tộc, giáo dục
- đào tạo có một vị trí quan trọng hàng đầu trong chiến lược xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.
Giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu.
Nói giáo dục là quốc sách hàng đầu có nghĩa là chính sách giáo dục
của Đảng và Nhà nước có tầm quan trọng vào bậc nhất trong tất cả các
chính sách. Chính sách giáo dục có vai trò quyết định trong việc đưa nước
ta thoát khỏi tình trạng một nước kém phát triển, phấn đấu để đạt tới mục
tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh".
Chính sách giáo dục coi trọng nhân tố con người, nguồn lực, tiềm lực
con người Việt Nam. Giáo dục ngày càng có ý nghĩa quyết định trong việc
thay đổi nền sản xuất vật chất của xã hội; nó là yếu tố bên trong, yếu tố cấu
thành của nền sản xuất xã hội.
Giáo dục - đào tạo là động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế
- xã hội, là mục tiêu, khâu đột phá để phát triển nguồn nhân lực.
Mục tiêu của giáo dục là hình thành, phát triển nhân cách con người
nhằm thực hiện nhiệm vụ nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
nhân tài. Nói cách khác, phát triển giáo dục nhằm phát triển con người bền
vững để phát triển kinh tế - xã hội.
Mục tiêu đào tạo là đào tạo cho mọi thành phần kinh tế, đội ngũ
người lao động, công nhân lành nghề, các nhà quản lý, kinh doanh, các nhà
khoa học công nghệ…
19
Vì vậy đầu tư cho giáo dục - đào tạo là đầu tư cho phát triển, là đầu tư
ngắn nhất và tiết kiệm nhất để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Giáo dục là cơ sở để xây dựng nền văn hóa tinh thần của chế độ xã
hội chủ nghĩa.
Giáo dục có tác dụng to lớn trong việc truyền bá tư tưởng xã hội chủ
nghĩa, xây dựng nền văn hóa mới, xây dựng lối sống và con người mới của
xã hội. Sự nghiệp giáo dục có nhiệm vụ đào tạo ra các thế hệ công dân

Giáo dục mầm non được chia thành hai giai đoạn: Giai đoạn trẻ ở độ
tuổi nhà trẻ (trẻ từ 3 tháng đến 36 tháng tuổi), giai đoạn trẻ ở độ tuổi mẫu
giáo (trẻ từ 3 tuổi đến 6 tuổi).
Giai đoạn trẻ ở độ tuổi nhà trẻ: Đây là giai đoạn trẻ phát triển mạnh
về mặt thể chất, có nhu cầu gắn bó, giao tiếp xúc cảm trực tiếp với người
gần gũi và có những bước phát triển về mặt ngôn ngữ, tình cảm. Đó là dấu
hiệu khởi đầu của sự hình thành nhân cách. Bởi vậy việc uốn nắn và giáo
dục trẻ trong trường mầm non giúp trẻ phát triển cân đối về mặt thể chất,
khỏe mạnh, nhanh nhẹn và có những thói quen tốt ngay từ những ngày đầu
hình thành nhân cách là vô cùng cần thiết.
Giai đoạn trẻ ở độ tuổi mẫu giáo: Ở giai đoạn này vui chơi là hoạt
động chủ đạo đối với sự phát triển của trẻ; nhu cầu giao tiếp của trẻ đối với
con người, với môi trường thiên nhiên và xã hội trở nên mạnh mẽ. Ở độ
tuổi này trẻ rất linh động và thông minh, cơ thể phát triển nhanh; trẻ thích
làm việc một mình, thích được tự do chạy nhảy, leo trèo mà không bị người
lớn cấm đoán; tính tò mò, thích phám phá và bắt trước người lớn, Do đó
nhà trường mầm non lại càng có vai trò quan trọng. Đó là, làm thế nào để
trẻ phát triển hài hòa, cân đối, phát huy được tư duy, sáng tạo của trẻ, giúp
trẻ có những thói quen và các đức tính tốt thông qua các hoạt động "Học
mà chơi, chơi mà học", giáo dục tính xã hội, tính tập thể trở thành bản năng
mới của thế hệ đang lớn ngay từ ở lứa tuổi mầm non.
Giáo dục mầm non là một loại hình giáo dục đặc biệt khác với giáo
dục phổ thông cả về nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức các hoạt
động giáo dục. Khoản 1 Điều 23 Luật giáo dục 2005 nêu rõ: "Nội dung
giáo dục mầm non phải đảm bảo phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của
trẻ em, hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; giúp trẻ phát triển
cân đối về cơ thể, khỏe mạnh, nhanh nhẹn; biết kính trọng, yêu mến, lễ
phép với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo và người trên; yêu quý anh,
21
chị, em, bạn bè; thật thà, mạnh dạn, hồn nhiên, yêu thích cái đẹp, ham hiểu

19
Luật giáo dục số 38/2005/QH10 ngày 14/6/2005, trang 06
22
Chương II
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC MẦM NON
Ở THỊ XÃ LAI CHÂU - TỈNH LAI CHÂU
( TỪ NĂM HỌC 2005-2006 ĐẾN NĂM HỌC 2009 - 2010)
I. KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM , TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THỊ XÃ LAI CHÂU
1. Vị trí địa lý và các điều kiện tự nhiên
Lai Châu là một tỉnh biên giới phía Tây Bắc của Tổ quốc, cách thủ
đô Hà Nội hơn 400km về phía Đông Nam; phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh
Vân Nam Trung Quốc, phía Tây giáp tỉnh Điện Biên, phía Đông và Đông
Nam tiếp giáp với hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái, phía Nam giáp với tỉnh Sơn
La. Địa hình được tạo bởi những dãy núi chạy dài theo hướng Tây Bắc -
Đông Nam; núi đồi cao và dốc xen kẽ nhiều thung lũng sâu và hẹp; giữa
hai dãy núi là phần đất tương đối rộng thuộc lưu vực sông Đà. Lai Châu có
đường biên giới tiếp giáp với Trung Quốc dài 237km; là một trong những
tỉnh có vị trí quan trọng về địa lý, quốc phòng, an ninh trong công cuộc xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.
Thị xã Lai Châu là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội của
tỉnh, được thành lập theo Nghị định 176/NĐ-CP ngày 10/10/2004 của
Chính Phủ. Phía Bắc giáp với huyện Phong Thổ và huyện Tam Đường, phía
Nam và phía Đông giáp huyện Tam Đường, phía Tây giáp huyện Sìn Hồ.
Vị trí địa lý trên tạo cho thị xã các lợi thế: Có vị trí quan trọng trong
chiến lược về quốc phòng và an ninh của Tỉnh. Nằm trong chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc nên có thuận lợi trong giao lưu, trao đổi
23
hàng hoá, dịch vụ trong tỉnh và với các tỉnh lân cận; có lợi thế phát triển
thương mại, du lịch, dịch vụ và các ngành kinh tế trọng yếu. Có đường quốc
lộ 4D chạy qua nối với cửa khẩu Ma Lù Thàng (đi Mông Tự - Trung Quốc)

24
tế cơ sở được củng cố. Công tác xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm
có bước chuyển biến căn bản. Chính trị xã hội ổn định, quốc phong an ninh
được tăng cường, khối đại đoàn kết các dân tộc được giữ vững. Công tác
xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể có nhiều
chuyển biến, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở
Đảng được nâng lên.
Một số chỉ tiêu đạt được trong 5 năm vừa qua như sau:
+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng bình quân 21,5%.
+ Thu nhập bình quân đầu người đạt 13,3 triệu đồng/người/năm
(tăng 2,6 lần so với năm 2005).
+ Cơ cấu kinh tế: tỷ trọng thương mại, dịch vụ chiếm 47%, công
nghiệp, xây dựng 45% (tăng 15,5% so với năm 2005); nông, lâm nghiệp
8% (giảm 13,5%).
+ Tổng giá trị kim nghạch xuất nhập khẩu tăng bình quân qua các
năm đạt 31,8%/năm, trong đó kim nghạch xuất khẩu đạt 11%.
+ Tổng thu ngân sách địa phương trong 5 năm đạt 424 tỷ đồng, trong
đó thu trên địa bàn 295 tỷ đồng, mức tăng thu bình quân hàng năm 21%.
+ Tổng chi ngân sách địa phương 424 tỷ đồng, mức tăng chi bình
quân hàng năm là 33%.
+ Tổng giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp bình quân
hàng năm đạt 65 tỷ đồng tăng gần 3 lần so với năm 2005, tốc độ tăng bình
quân đạt 26,5%/năm.
+ Tổng giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp bình quân hàng năm đạt
31,8 tỷ đồng. Tổng diện tích gieo trồng các loại cây nông nghiệp là
1.617ha, tổng sản lượng cây lương thực có hạt đạt 130,3% tăng 26% so với
năm 2005. Diện tích cây công nghiệp dài ngày 652,6ha; trong đó cây chè
555,7 ha giảm 233,4ha so với năm 2005, năng xuất đạt 13tấn/ha tăng 3,6
tấn/ha so với năm 2005. Trong chăn nuôi, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status