ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP Ở BỆNH NHÂN BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH VÀ HEN PHẾ QUẢN - Pdf 27

Điều trị tăng huyết áp ở bệnh nhân hen phế quản/COPD
PGS TS Lê Văn Bàng
ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP Ở BỆNH NHÂN BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN
MẠN TÍNH VÀ HEN PHẾ QUẢN
Lê Văn Bàng
Đại học Y Dược Huế
1.ĐẠI CƯƠNG
Có một tần suất cao cả hai bệnh tăng huyết áp và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
hay hen phế quản ở người lớn . Thật vậy tăng huyết áp là bệnh kèm theo thường
gặp ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Ở Hoa kỳ có khoảng ba triệu người
lớn bị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính kèm theo tăng huyết áp hệ thống, hút thuốc lá
là yếu tố nguy cơ chủ yếu trong sự phát triển cả hai bệnh tăng huyết áp hệ thống và
bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và nghiên cứu Fragmingham đã cho thấy rằng hút
thuốc lá có thể làm gia tăng ảnh hưởng của tăng huyết áp như là một yếu tố nguy
cơ trong sự phát triển bệnh tim mạch. Những nghiên cứu về dịch tể học đã cho thấy
rằng những suy giảm chức năng hô hấp được đánh giá bởi sự suy giảm FEV1 ở
bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là một yếu tố dự báo của những biến cố
tim mạch trong tương lai.
Theo tài liệu trong hội nghị của các chuyên gia của ACC/AHA năm 2011 và của
ASH/ISH năm 2013 trên tăng huyết áp ở người già khuyến cáo rằng huyết áp phải
hạ dưới 140/90mmHg ở những bệnh nhân nhỏ hơn 80 tuổi có những nguy cơ tim
mạch. Dựa trên những dữ liệu từ nghiên cứu tăng huyết áp ở những người rất già,
những nguyên tắc chỉ đạo nầy khuyến cáo rằng huyết áp tâm thu phải giảm xuống
140 đến 145 mmHg, nếu được dung nạp, ở những người lớn 80 tuổi và già hơn. Từ
đó, chúng ta có lý do để nghĩ rằng sự điều trị những bệnh nhân có kèm theo bệnh
phổi tắc nghẽn mạn tính phải có những mục tiêu trị liệu khác nhau hơn là đối với
những bệnh nhân tăng huyết, những bệnh nhân bị bệnh phổi tắc nhẽn mạn tính kèm
tăng huyết áp phải được điều trị theo những nguyên tắc chỉ đạo nầy.
Hiện nay, nhiều loại thuốc hạ huyết áp với những có chế tác dụng khác nhau đã
được những thầy thuốc sử dụng. Một số thuốc hạ huyết áp có thể có tác dụng phụ
trên chức năng phổi và vì vậy sự quản lý những bệnh nhân bị hen phế quản hay

2013
2.3.1. Mục tiêu điều trị là chế ngự tăng huyết áp và đối phó với tất cả những yếu tố
nguy cơ đã được xác định của bệnh tim mạch, bao gồm rối loạn lipid máu, rối loạn
dung nạp đường hay đái tháo đường, béo phì và hút thuốc lá.
2.3.2. Đối với tăng huyết áp, mục tiêu điều trị đối với huyết áp tâm thu thường là <
140 mmHg và đối với huyết áp tâm trương thường là < 90 mmHg. Trong quá khứ,
những nguyên tắc chỉ đạo đã khuyến cáo trị số huyết áp < 130/80 mmHg đối với
những bệnh nhân đái tháo đường, bệnh thận mạn và bệnh mạch vành. Tuy nhiên,
chứng cứ để bảo vệ cho mục tiêu thấp nầy ở những bệnh nhân nầy còn thiếu, vì
vậy, mục tiêu < 140/90 mmHg thường được sử dụng, mặc dù một số chuyên gia
vẫn còn khuyến cáo huyết áp < 130/80 mmHg nếu bệnh nhân bị bệnh thận mạn có
albumin niệu.
2.3.3. Phần lớn chứng cứ liên quan đến những ảnh hưởng trên tim mạch và thận
đối với huyết áp được căn cứ trên những thử nghiệm lâm sàng ở những bệnh nhân
từ trung niên đến người già (đặc biệt giữa 55 và 80 tuổi). Một số nghiên cứu gần
đây cho thấy rằng những người 80 tuổi hay già hơn, đạt một huyết áp tâm thu <
150 mmHg phối hợp với một sự bảo vệ bền vững về tim mạch và đột quỵ và vì vậy
hiện nay, mục tiêu 150/90 mmHg được khuyến cáo đối với những bệnh nhân ở
nhóm tuổi nầy. Hầu hết chúng ta không có những chứng cứ về nghiên cứu lâm
sàng liên quan đến mục tiêu huyết áp ở những bệnh nhân trẻ hơn 50 tuổi. Huyết áp
tâm trương có thể quan trọng ở nhóm tuổi nầy, vì vậy đạt đến trị số < 90 mmHg
nên ưu tiên. Ngoài ra, một sự mong chờ hợp lý là mục tiêu < 140/90 mmHg vì <
130/80 mmHg có thể thích hợp ở người lớn trẻ.
2.3.4. Điều quan trọng là thông tin cho bệnh nhân biết rằng điều trị tăng huyết áp
thường là điều trị suốt đời và có thể nguy hiểm đối với họ nếu họ chấm dứt điều trị
thuốc hay thay đổi lối sống mà đầu tiên không hỏi ý kiến thầy thuốc.
3. THUỐC ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP
Có nhiều loại thuốc hạ huyết áp gây nên co thắt phế quản và/hay gây ho ở những
bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn phế quan và hen.
- Những thuốc chẹn β ức chế hiệu quả điều chỉnh epinephrine trên những thụ thể

Những thuốc chẹn β được sử dụng trong tăng huyết áp, đau thắt ngực, nhồi
máu cơ tim, rối loạn nhịp tim và suy tim.
Có 3 type thụ thể β. Thụ thể β
1
adrenergic nằm trong màng sợi cơ vân tim. Nếu bị
hoạt hóa, chúng dẫn đến một sự gia tăng về tần số và cường độ co cơ tim ( hiệu
quả co cơ dương tính) bởi sự mở những kênh calci. Mặt khác, những thụ thể
β
2
adrenergic được tìm thấy chủ yếu trong cơ trơn phế quản và cơ trơn mạch máu.
Nếu bị hoạt hóa, chúng gây nên giãn phế quản và giãn mạch. Tuy nhiên, có tập hợp
khá lớn những thụ thể β2 adrenergic trong cơ tim chiếm khoảng 20 – 25%, chúng
dẫn đến hiệu quả tim của bất kỳ kích thích β2 adrenergic nào. Có một sự điều hòa
quá mức của những thụ thể nầy trong 50% suy tim. Vai trò của β
3
adrenergic trong
tim hãy còn chưa được xác định và chấp nhận đầy đủ (Kalinowski và cọng sự
2003).
3.1.2. Phân loại những thuốc chẹn β và sử dụng trong lâm sàng

Thuốc Tăng
huyết áp
Đau thắt
ngực
Loạn nhịp
tim
Nhồi máu
cơ tim
Suy tim
sung

áp
Thuốc chẹn
β1 chọn lọc

Acebutolol X X X ISA
Atenolol X X X X
Betaxolol X X X MSA
Bisoprolol X X X
Esmolol X X Tác dụng
siêu ngắn
hay tăng
huyết áp
sau phẩu
thuật
Metoprolol X X X X X MSA
Nebivolol X Chọn lọc
tương đối
ở phần
lớn bệnh
nhân,
giãn
mạch
(phóng
thích
NO)

ISA: Intrinsic sympathicomimetic activity (hoạt tính giao cảm nội sinh)
MSA: Membrane stabilizing activity(hoạt tính ổn định màng)
Nguồn: Richard E. Klabunde, CV Pharmacology Beta-receptor Antagonists
13/3/2013

1
Trong thời gian 20 năm qua, những thuốc chẹn β không chọn lọc tim được thay thế
một cách rộng rãi bởi những thuốc chẹn β chọn lọc tim. Những thuốc chẹn β chọn
lọc tim như atenolol và metoprolol có ít nhất 20 lần mạnh hơn tại thụ thể β1 so với
thụ thể β2.
- Phần lớn những tác dụng phụ gây ra bởi những thuốc chẹn β ở bệnh nhân hen hay
bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính liên quan đến sự đối lập với sự giãn phế quản qua
trung gian thụ thể β
2
adrenergic. Nhiều nghiên cứu khác nhau đã xác định sự khác
nhau rõ ràng trong sự tác động trên chức năng phế quản, tùy thuộc vào hoặc là một
thuốc chẹn β chọn lọc tim

hoặc là thuốc chẹn β không chọn lọc tim.
- Tất cả những thuốc chẹn β1 chọn lọc tim chẹn những thụ thể β2 adrenergic khi
nồng độ thuốc đủ cao, như vậy phải tránh sử dụng bằng đường tiêm. Những thuốc
chẹn thụ thể β1 không hoàn toàn là β1 chọn lọc có nghĩa là chúng có thể có một số
ái lực đối với thụ thể β2 adrenergic trên cơ trơn phế quản. Hơn nữa, những phế
quản có thể chứa những thụ thể β1 adrenergic chức năng
- Những nghiên cứu liên quan đến sự sử dụng thuốc chẹn β chọn lọc tim trên
những bệnh nhân hen và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đều tuân theo một protocol
giống nhau:
Tất cả những kết quả nghiên cứu đều được đánh giá như sau:
(1) Sự thay đổi FEV1 từ mức chuẩn trong sự đáp ứng đối với nhóm nghiên cứu
hay nhóm giả dược
(2) Sự đáp ứng của FEV1 đối với thuốc chủ vận β
2
được cho sau khi sử dụng
thuốc nghiên cứu hay giả dược
(3) Theo dõi những triệu chứng trong suốt thời gian nghiên cứu, như ran

2
.
- Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho thấy tính chọn lọc của một số thuốc chẹn β
chọn lọc tim có thể mất đi nếu được sử dụng với liều cao.
- Một số nghiên cứu trên bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đều thấy
an toàn khi sử dụng thuốc chẹn β chọn lọc tim và thuốc chẹn β chọn lọc tim có
hiệu quả cao hơn thuốc chẹn β không chọn lọc tim.
- Như vậy những kết quả của những phân tích tổng hợp cho thấy cả hai lọai chẹn β
không chọn lọc và chọn lọc đều gây nên một sự giảm FEV1 có ý nghĩa ở bệnh
nhân bị hen hay bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, tuy nhiên, những thuốc chẹn β
không chọn lọc gây nên một sự giảm đáp ứng của FEV1 đối với thuốc chủ vận β2,
nhưng trái lại thuốc chẹn β chọn lọc tim thì gây nên một sự tăng đáp ứng của FEV1
đối với thuốc chủ vận β2.
- Esmolol một thuốc chẹn β chọn lọc tim tác dụng rất ngắn, do thời gian tác dụng
ngắn và tương đối ít hậu quả trên đề kháng phế quản ở bệnh nhân hen cần điều trị
với một thuốc chẹn β bằng đường tiêm tĩnh mạch.
- Trong số những thuốc chẹn β chọn lọc tim bisoprolol và celiprolol có thể có hậu
quả tối thiểu trên chức năng hô hấp ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
- Nebivolol cũng là một một thuốc có hiệu quả ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn
mạn tính, Nebivolol là một thuốc đối kháng thụ thể β adrenergic thế hệ ba với tính
đối kháng thụ thể β1 adrenergic cao, điều chỉnh sản xuất NO nội sinh và có đặc
tính giãn mạch cao làm giảm huyết áp quan trọng ở bệnh nhân tăng huyết áp trong
lúc đó vẫn duy trì chức năng thất trái. Hậu quả trên hô hấp của nevivolol đã được
nghiên cứu rộng rãi trên các mẫu súc vật, trên người tình nguyện và trên những thử
nghiệm lâm sàng ở những bệnh nhân bị hen và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Hơn
nữa, do sự phân ly quan trọng giữa hoạt tính tim và phổi, nevivolol rất bảo đảm khi
được sử dụng cho những bệnh nhân tăng huyết áp có kèm theo bệnh hô hấp tắc
nghẽn.
- Những thuốc chẹn β chọn lọc tim như atenolol, metoprolol, bisoprolol, celiprolol
hay nebivolol có thể có lợi ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và hen phế

liều nếu không có những tác dụng phụ trên lâm sàng.
+ Những khuyến cáo chủ đạo:
(1) Những thuốc chẹn β chọn lọc tim có thể được sử dụng ở những bệnh nhân
bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính hay hen mức độ nhẹ - vừa và được kiểm soát
tốt.
(2) Những bệnh nhân phải được được điều trị tối ưu với thuốc corticosteroid
hít kèm hay không kèm thuốc chủ vận β
2
tác dụng dài thích hợp, ưu tiên khi
bắt đầu sử dụng chẹn β.
(3) Những thuốc chẹn β không thể sử dụng ở những bệnh nhân có một bệnh sử
bị bệnh nặng hay những đợt kịch phát nặng.
(4) Không có dữ liệu dứt khoát trên những lợi điểm của sự từ chối không cho
những thuốc chẹn β trong suốt thời gian bị những đợt kịch phát nhưng
dường như cần thận trọng khi thực hiện điều nầy.
(5) Ở những người có nguy cơ cao, sau một liều tét khởi đầu, liều lượng của
những thuốc chẹn β phải được chuẩn độ tăng chậm để đảm bảo sự dung nạp.
(6) Những bệnh nhân cần phải được giáo dục về những tác dụng phụ tiềm
tàng, đặc biệt trong suốt thời gian một đợt kịch phát.
3.1.5. Thuốc phối hợp chẹn α và β
Thuốc nầy bao gồm Labetalol và Carvedilol:
- Labetalol phối hợp chẹn β1 không đặc hiệu và chẹn β2 với một vài hoạt
tính chẹn α1, những tác dụng dược lý có thể tác động đến chức năng phổi,
như vậy cùng tồn tại chẹn α1 không ngăn ngừa được những triệu chứng của
hen gây nên bởi chẹn β.
- Carvedilol là một thuốc chẹn β không chọn lọc không có hoạt tính giao
cảm nội sinh có đặc tính giãn mạch thứ phát sau hoạt tính chẹn α1 chọn lọc
yếu hơn nhiều so với hoạt tính đối kháng β, không gây nên hậu quả đáng chú
ý trên chức năng phổi. Đặc biệt, trong suy tim carvedilol cải thiện chức năng
thất trái lúc nghĩ và không ảnh hưởng có ý nghĩa đến thông khí và sự trao

Liều thường dùng/ngày
(mg)
Acebutolol 200 200-400
Atenolol 25 100
Bisoprolol 5 5-10
Carvedilol 3,125 (2) 6,25-25 (2)
Labetolol 100 (2) 100-300(2)
Metoprolol succinate 25 50-100
Metoprolol tartrate 25 (2) 50-100 (2)
Nadolol 20 40-80
Nebivolol 2,5 5-10
Propranolol 40 (2) 40-160 (2)
Nguồn: Clinical practice guidelines for the management of hypertension in the
community – A statement by the American Society of Hypertension and the
International Society of Hypertension 2013, Journal of Hypertension, January 2014
– volume 32 – Issue 1 – p 3-15
3.2. Thuốc lợi tiểu
3.2.1. Thuốc lợi tiểu thiazide
Theo Antihyperrtensive and Lipid-Lowering Treament to Prevent Heart Attack
Trial(ALLHAT), JNC7 kết luận rằng thiazide liều thấp có thể được sử dụng như là
một loại thuốc điều trị khởi đầu tăng huyết áp chưa có biến chứng ở bệnh nhân
bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và hen. Thường người ta sử dụng thuốc kết hợp với
thiazide như thuốc chẹn β, thuốc ức chế men chuyển, thuốc đối kháng angiotensin
II.
Thiazide không gây tác dụng phụ trên chức năng hô hấp ở bệnh nhân bệnh phổi
tắc nghẽn mạn tính và hen, tuy nhiên điều đáng lưu ý là gây nên giảm kali máu
nặng. Vấn đề này liên quan đến giảm kali máu do sử dụng thuốc chủ vận β2 hít và
corticosteroid. Ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và tăng khí carbonic
mạn tính nếu có sử dụng thiazide thì có thể gây nên nhiễm kiềm chuyển hóa. Như
vậy, thuốc thiazide hầu như chắc chắn an toàn khi cho liều thấp đối với bệnh nhân

Bendroflumethiazide 5 10
Chlorthalidone 12,5 12,5-25
Hydrochlorothiazide 12,5 12,5-50
Indapamide 1,25 2,5
Thuốc lợi tiểu quai
Bumetanide 0,5 1
Furosemide 20 (2) 40 (2)
Torsemide 5 10
Thuốc lợi tiểu tiết kiệm
kali

Amiloride 5 5-10
Eplerenone 25 50-100
Spironolactone 12,5 25-50
Triamterene 100 100
Nguồn: Clinical practice guidelines for the management of hypertension in the
community – A statement by the American Society of Hypertension and the
International Society of Hypertension 2013, Journal of Hypertension, January 2014
– volume 32 – Issue 1 – p 3-15
3.3. Thuốc chẹn kênh calci
3.3.1. Thuốc chẹn kênh calci non-dihydropyridine
Thuốc chẹn kênh calci non-dihydropyridine nên được sử dụng thận trọng ở bệnh
nhân suy tim và phối hợp với những thuốc gây nên những hiệu quả huyết động
tương tự. Như vậy, những thuốc nầy thường được sử dụng để kiểm soát đau thắt
ngực hay rung nhĩ hơn là đối với tăng huyết áp riêng rẽ. Thuốc chẹn kênh calci
non-dihydropyridine có thể sử dụng một cách an toàn ở bệnh nhân hen và bệnh
phổi tắc nghẽn mạn tính.
3.3.2. Thuốc chẹn kênh calci dihydropyridine
Thuốc chẹn kênh calci dihydropyridine là những thuốc rất tốt trong điều trị tăng
huyết áp ở bệnh nhân hen và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Chúng có những thuận

- Thuốc ức chế men chuyển gây ho và co thắt phế quản có thể liên quan đến sự ức
chế của hoạt tính kinase II. Thuốc ức chế men chuyển xúc tác sự chuyển
angiotensin I thành angiotensin II. Nó cũng ức chế tác dụng của kinase II, từ đó có
thể dẫn đến một sự tích tụ bradykinin và chất P trong phổi. Bradykinin có thể gây
ho và co thắt phế quản ở những người nhạy cảm bởi kích thích những sợi C và
phospholipase A
2
, những chất nầy làm gia tăng sự sản xuất prostaglandin, đặc biệt
là prostaglandin E
2
và prostaglandin I
2
. Chất P, là một chất dẫn truyền thần kinh đối
với những sợi C, gây nên co thắt phế quản
- Nhiều nghiên cứu cho thấy khoảng 10 – 20% bệnh nhân sử dụng thuốc ức chế
men chuyển có tác dụng phụ ho. Ở những bệnh nhân hen hay bệnh phổi tắc nghẽn
mạn tính, ho có thể là một tác dụng phụ nặng khi sử dụng thuốc nầy. Khả năng ho
nầy tương đương với một sự gia tăng đáp ứng phế quản ở một số bệnh nhân hen.
- Đối với những bệnh nhân hen hay bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, có thể có nhiều
cơ chế liên quan đến sự gia tăng tần suất ho và gia tăng tính nhạy cảm phế quản khi
sử dụng thuốc ức chế men chuyển. Như vậy, nhiều nhà lâm sàng quan tâm đến sự
gia tăng nguy cơ cao ở những bệnh nhân hen và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính khi
sử dụng những thuốc ức chế men chuyển để hạ huyết áp. Một số nghiên cứu cho
thấy rằng, ở một số ít bệnh nhân hen khi sử dụng thuốc ức chế men chuyển có thể
bị khó thở nhiều hơn và xuất hiện ran rít nhiều hơn hay có thể dẫn đến cơn hen
cấp.
- Nhiều nghiên cứu dọc cho thấy ở những bệnh nhân hen khi sử dụng những thuốc
ức chế men chuyển, có sự gia tăng ho hay phản ứng phế quản có thể xảy ra nhiều
tuần hay nhiều tháng trước khi những hiệu quả của thuốc xuất hiện.
- Một số nghiên cứu cho thấy, khi sử dụng thuốc ức chế men chuyển cho những

Perindopril 4 4-8
Quinapril 5 10-40
Ramipril 2,5 5-10
Trandolapril 1-2 2-8
Nguồn: Clinical practice guidelines for the management of hypertension in the
community – A statement by the American Society of Hypertension and the
International Society of Hypertension 2013, Journal of Hypertension, January 2014
– volume 32 – Issue 1 – p 3-15
3.5. Thuốc kháng thụ thể angiotensin II
Thuốc kháng thụ thể angiotensin II được khuyến cáo sử dụng như là một thuốc
chọn lựa thứ hai cho những bệnh nhân bị ho do thuốc ức chế men chuyển. Thật
vậy, những thuốc nầy, không giống như những thuốc ức chế men chuyển, là thuốc
chọn lọc và không chẹn những hiệu quả của kinase II, vì vậy chúng không dẫn đến
sự tích tụ bradykinin hay chất P mà cũng không làm tăng tổng hợp prostaglandin.
Thuốc kháng thụ thể angiotensin II không gây ho và ngoài ra, ở những bệnh nhân
hen, nhiều nghiên cứu cho thấy không có sự gia tăng tính tăng phản ứng phế quản
khi sử dụng thuốc nầy. Ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, thuốc kháng
kháng thụ thể angiotensin II dung nạp tốt, mặc dù chúng không cải thiện sức mạnh
của cơ hô hấp hay khả năng gắng sức. Một phân tích khác cho thấy thuốc kháng
thụ thể angiotensin II cải thiện cả trên tim mạch lẫn hô hấp đặc biệt khi kết hợp với
statin.
Thật vậy, thuốc kháng thụ thể angiotensin II là thuốc được sử dụng an toàn để điều
trị tăng huyết áp ở bệnh nhân hen và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
Liều lượng thuốc kháng thụ thể angiotensin II
Thuốc Liều thấp/ngày Liều thường dùng/ngày
(mg) (mg)
Azilsartan 40 80
Candesartan 4 8-32
Eprosartan 400 600-800
Irbesartan 150 150-300

Nguồn: Clinical practice guidelines for the management of hypertension in the
community – A statement by the American Society of Hypertension and the
International Society of Hypertension 2013, Journal of Hypertension, January 2014
– volume 32 – Issue 1 – p 3-15
3.7. Thuốc chủ vận α
2
trung ương và những thuốc tác dụng trung ương
Clonidine và những thuốc chủ vận α
2
khác như methyldopa phải được sử dụng với
thận trọng ở bệnh nhân hen. Trong khi những thuốc nầy không làm thay đổi luồng
khí chuẩn ở bệnh nhân hen.
Không có những thông tin an toàn có giá trị liên quan đến sự sử dụng những thuốc
nầy ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Tuy nhiên, clonidine được dùng
như là một loại thuốc hàng thứ hai đối với sự ngưng thuốc lá và vì vậy nó có thể
đóng một vai trò ở những người hút thuốc lá chủ động bị tăng huyết áp và bệnh
phổi tắc nghẽn mạn tính.
Liều lượng thuốc chủ vận α
2
trung ương và những thuốc tác dụng trung ương
Thuốc Liều thấp/ngày
(mg)
Liều thường dùng/ngày
(mg)
Clonidine 0.1 (2) 0,1-0,2 (2)
Methyldopa 125 (2) 250-500 (2)
Nguồn: Clinical practice guidelines for the management of hypertension in the

chẹn kênh calci
Benazepril – Amlodipine
Elanapril – Felodipine
Thuốc ức chế men chuyển và lợi
tiểu
Lisinopril – hydrochlorothiazide
Thuốc kháng thụ thể angiotensin II
và lợi tiểu
Losartan – hydrochlorothiazide
Thuốc chẹn beta và lợi tiểu Bisoprolol – hydrochlorothiazide
Thuốc tác dụng trung ương và lợi
tiểu
Methyldopa – hydrochlorothiazide
Lợi tiểu và lợi tiểu Triamterene – hydrochlorothiazite
Nguồn: Dipak Chandy, Wilbert S Aronow; Integated Blood Pressure control 2013

SƠ ĐỒ TÓM TẮT NHỮNG KHUYẾN CÁO CHÍNH CỦA NGUYÊN TẮC CHỈ
ĐẠO VỀ XỬ TRÍ TĂNG HUYẾT ÁP THEO HỘI TĂNG HUYẾT ÁP HOA KỲ
VÀ TĂNG HUYẾT ÁP THẾ GIỚI
Đối với những bệnh nhân tăng huyết áp giai đoạn 1, không có một bệnh sử bệnh
tim mạch, đột quỵ hay thận hay không có chứng cứ biểu hiện bất thường, và khộng
bị đái tháo đường hay những yếu tố nguy cơ chủ yếu khác, trị liệu bằng thuốc có
thể trì hoản lại trong vài tháng. Trong tất cả những bệnh nhân nầy (bao gồm những
bệnh nhân tăng huyết áp giai đoạn 2), khuyến có rằng trị liệu bằng thuốc được bắt
đầu khi chẩn đoán xác định tăng huyết áp.
- CCB: Thuốc chẹn kênh calci
- ACE.i: Thuốc ức chế men chuyển

Thông tin hạn chế nhưng chống chỉ
định không dứt khoát
Thuốc chẹn beta Một vài thông tin đối lập, nhưng
chứng cứ lũy tích xác minh là an
toàn. Hầu như chắc chắn không
phải là thuốc hàng đầu nếu tăng
huyết áp là chỉ định duy nhất .
Propranolol và atenolol không nên
sử dụng
Thuốc chẹn beta với hoạt tính giao
cảm nội sinh
Thông tin hạn chế nhưng hầu như
chắc chắn giống như những thuốc
chẹn beta
Thuốc phối hợp chẹn alpha và beta Hầu như chắc chắn không nên sử
dụng, nếu tăng huyết áp là chỉ định
duy nhất
Thuốc ức chế men chuyển Không nên sử dụng như là thuốc
hàng đầu vì phối hợp với ho
Thuốc kháng angiotensin II Thông tin hạn chế nhưng khá an
toàn
Thuốc chẹn kênh calci non
dihydropyridine
Có thể sử dụng an toàn
Thuốc chẹn kênh calci
dihydropyridine
Thuốc hàng đầu
Thuốc chẹn alpha-1 Không an toàn
Thuốc chủ vận alpha-2 trung ương
và những thuốc tác dụng trung ương

9. David H Au; Use of β blockers in patients with COPD; BMJ; 2014
10. Caroline Price; Beta-blocker use urged for patients with COPD and
comorbid cardiac disease; PULSE; 2013
11. Y Ni, G Shi, H Wan; Use of cardioselective β-blockres in patients with
COPD: a meta-analysis of randomized, placebo-controlled, blind trials; The journal
of international medical research; 2012; 40:2051-2065
12. S.R. Salpeter, T.M. Ormiston, E.E Salperter, et all; Cardoselective beta-
blockers for COPD: a meta-analysis; Respiratory Medicine 2003 97, 1094 – 1101
13. Tim Sutherland and D Robin Taylor; Beta-blockers in asthma and COPD;
Continuing medical education; volume 34, number 1, 2007
14. Richard E. Klabunde; Beta-adrenoceptor antagonist (Beta-blockers); CV
pharmacology Beta-adrenoceptor antagonist, 2009
15. Mahyar Etminan, Siavash Jafari, Bruce Carleton, et all; Beta-blocker use and
COPD mortality: a systemic review and meta-analysis, BMC Pulmonary Medicine
2012, 12-48
16. Mihaela S Stefan, Michael B Rothberg, Aruna priya et all; Association
between β blocker therapy and outcomes in patients hospitalized with acute
exacerbation of chronic lung disease with underlying ischemic heart disease, heart
disease or hypertension; Thorax, BMJ open respiratory respiratory research; 2012
17. Shelley R. Salpeter, MD; Cardioselective Beta-blocker use in patients with
asthma and COPD: An Evidence-based approach to standards of care;
Cardiovascrev Rep 2003;24(11)
18. S.Andreas, C.Herrmann-Lingen, T.Raupach, et all; Angiotensin II blocker in
COPD: a randomised controlled trial; Eur Respir J 2006 27 972-979.
19. Jack Kaufman,MD, Shawneen Schmitt, R,N; Judith Barnard et all;
Angiotensin-converting enzyme inhibitors in patients with bronchial
responsiveness and asthma; Chest 1992;101:922-925
20. Mary Ann Twiss, Eloise Harman, Sarah Chesrown et all; Efficacy of calcium
channel blockers as maintenance therapy for asthma; Br J Clin Pharmacol 2002;
53: 243-249


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status