tiểu luận nguyên lý thống kê VỀ QUÁ TRÌNH ÔN THI VÀ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG - Pdf 27

Bộ môn Nguyên lí thống kê kinh tế
I. LỜI MỞ ĐẦU
1. Cơ sở hình thành nghiên cứu.
Ngày nay, thống kê là một công cụ quản lý vĩ mô cực kỳ quan trọng trong việc
đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội ngắn hạn và dài hạn. Đồng thời, các con số thống kê cũng
là những cơ sở đánh giá tình hình thực hiện các kế hoạch, chiến lược và các chính
sách đó. Thống kê học là một môn khoa học xã hội, đối với sinh viên các chuyên
ngành khối kinh tế, bộ môn Nguyên lý thống kê kinh tế đã trở thành môn học cơ sở
hỗ trợ cho sinh viên những kĩ năng cần thiết về nghiên cứu, khảo sát thị trường
cũng như nhiều lĩnh vực khác, giúp sinh viên tiếp cận nhiều hơn với thực tế và
những lĩnh vực cần thiết trong cuộc sống, đồng thời tạo ra cho xã hội lực lựơng
nghiên cứu thị trường, khảo sát các nhu cầu, sở thích của người tiêu dùng và xã hội
để đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới.
Hiện nay ở nhiều trường đại học, vấn đề học và thi đối với các sinh viên đại
học, cao đẳng đang là một vấn đề gây ra nhiều tranh cãi đối với Bộ Giáo dục và
Đào tạo và các giảng viên bộ môn khi thái độ học tập và ôn thi của các sinh viên
vẫn là đối phó với điểm. Một thực tế quá rõ ràng đó là việc ôn thi tốt sẽ tạo nên một
nền tảng kiến thức vững chắc, giúp sinh viên dễ dàng hơn trong việc tiếp thu các
môn học sau thì một số sinh viên đã chưa thực sự tập trung cho việc ôn thi, có
những bạn thì đến lớp chỉ để ngủ hoặc nói chuyện, không lắng nghe bài giảng, bạn
thì vì mải tham gia các hoạt động ngoại khóa hoặc vì những lý do khác mà đến lớp
không đầy đủ nên không nắm được hệ thồng bài trên lớp, khiến cho quá trình ôn thi
gặp nhiều khó khăn, đồng thời không có sự phân bổ thời gian hợp lý và phương
pháp ôn thi chưa thích hợp nên kết quả học tập không cao.
Trước tình trạng này, chúng em đã thống nhất chọn đề tài nghiên cứu “Về quá
trình ôn thi và kết quả học tập của sinh viên Đại học Ngoại Thương" với mong
muốn tìm hiểu về việc ôn thi của chính các bạn sinh viên trường Đại học Ngoại
Thương và tìm ra giải pháp giúp các bạn sinh viên sẽ cải thiện tình trạng này, có
được một cái nhìn nghiêm túc hơn trong việc học tập và ôn thi. Sắp xếp cân đối lịch
ôn bài sau mỗi buổi học, lịch ôn thi cũng như tìm cho mình những phương pháp ôn

2
Bộ môn Nguyên lí thống kê kinh tế
6. Tổng quan tình hình khảo sát (nêu các biến nghiên cứu)
Theo hiểu biết của chúng em thì hiện nay chưa có đề tài nào nghiên cứu:“ Về
quá trình ôn thi và kết quả học tập của sinh viên Đại học Ngoại Thương”.
Đề tài của chúng em được thực hiện dựa trên việc thu thập thông tin qua phiếu
điều tra, phỏng vấn từng đối tượng và phát bảng câu hỏi có chọn lọc trước.
Tiểu luận sử dụng các loại thang đo: Định danh, tỷ lệ và thang đo khoảng.
Phần STT Biến Thang đo
I
1 Thời gian để ôn bài sau mỗi buổi học Tỷ lệ
2 Số giờ ôn bài mỗi ngày Tỷ lệ
3 Số ngày ôn thi Tỷ lệ
4 Số giờ ôn thi một ngày Tỷ lệ
5 Thời điểm ôn thi trong ngày Định danh
II 1 Cách thức ôn thi Thứ bậc
2 Hình thức học nhóm Thứ bậc
3 Tài liệu ngoài giáo trình Định danh
4 Nguồn tài liệu Định danh
3
Bộ môn Nguyên lí thống kê kinh tế
5 Phương pháp ôn thi Định danh
6 Phân bổ thời gian Định danh
7 Học tủ Định danh
8 Ôn bao nhiêu môn cùng lúc Tỷ lệ
9 Địa điểm ôn thi Định danh
III
1 Điểm trung bình Tỷ lệ
2 Điểm tích luỹ Lệ
3 Việc nhớ kiến thức sau khi thi Thứ bậc

σσ
.
.−
=
=
y
x
br
σ
σ
.
=
= 0,77906
Phân tích kết quả thu được :
5
Bộ môn Nguyên lí thống kê kinh tế
Hệ số tương quan tuyến tính r=0,77906 cho ta kết luận rằng thời gian ôn thi và
kết quả học tập có mối tương quan dương và tương đối chặt chẽ. Thời gian đầu tư
cho việc ôn thi nhiều hơn thì kết quả đạt được theo đó cũng sẽ tăng lên. Do đó lời
khuyên cho các sinh viên ngoại thương là đồng thời với việc cải thiện phương pháp
học lập, tài liệu học tập thì việc tăng cường đầu tư thời gian vào việc ôn thi phải
nên được chú trọng nhiều hơn.
2. Số ngày ôn thi.
Số ngày ôn thi Số sinh viên Tần suất (%)
0-7 46 30
7-14 63 42
14.30 34 23
30 7 5
Tổng 150 100
Đồ thị biểu diễn:

7
Bộ môn Nguyên lí thống kê kinh tế
>3 4 4
Tổng 96 100
BIỂU ĐỒ
Thời gian ôn thi trung bình= 1.09
Thời gian bài trung bình sau mỗi buổi học là 1.09 giờ, một con số tương đối
thấp, việc ôn lại bài là rất cần thiết nhưng có đến 61% sinh viên bỏ ra không đến 1
tiếng để ôn lại bài là điều đáng buồn. Khoảng thời gian lý tưởng cho việc ôn lại bài,
tổng kết lại những gì đã học được trên lớp là từ 1 đến 2 giờ, tuy nhiên số lượng sinh
viên nằm trong nhóm này là không nhiều chỉ có 23%. Tiếp tục với 12% sinh viên
ôn bài từ 2 tiếng đến 3 tiếng và 4% sinh viên ôn thi từ 3 tiếng trờ lên, đây là những
sinh viên chú trọng rất nhiều đến việc học tập cũng như đến điểm số do đó kết quả
học tập cao là điều không phải bàn cãi, tuy nhiên do quá chú trọng vào việc học nên
họ chưa hoặc ít quan tâm đến các chương trình ngoại khóa khác, đây chình là một
trong số những nguyên nhân cho việc khá nhiều sinh viên ngoại thương tốt nghiệp
với bằng giỏi, xuất sắc, nhưng lại thiếu những kỹ năng thực tế.
Số giờ ôn thi một ngày
Số giờ ôn thi
(h)
Trị số giữa
(xi)
Số sinh viên Nhân trị số giữa với
quyền số xi*fi
Phần trăm
0h-3h 1,5 44 66 29
3h-6h 4,5 71 319.5 47
6h-9h 7,5 26 195 17
8
Bộ môn Nguyên lí thống kê kinh tế

vài bạn đạt kết quả chưa cao thì thực sự nên có sự điều chỉnh lại, không nên quá gò
ép mà nên tìm cho mình một phương pháp làm việc có hiệu quả và tương xứng với
lượng thời gian đã bỏ ra.
4. Thời điểm ôn thi trong ngày
10
Bộ môn Nguyên lí thống kê kinh tế
Thời điểm học bài trong
ngày
Số sinh viên Phần trăm
Sáng 11 7
Chiều 12 8
Tối 37 25
Đêm 25 17
Nhiều hơn 2 buổi 65 43
Tổng 150 100
Từ bảng số liệu trên, ta có biểu đồ minh họa thời điểm ôn thi trong ngày của
sinh viên như sau:
11
Bộ môn Nguyên lí thống kê kinh tế
Kết hợp bảng số liệu và biểu đồ đã nêu trên, có thể nhận định một cách tương
đối rằng số lượng sinh viên trong 5 nhóm thời điểm ôn thi là tăng dần đều từ
sáng, đêm và cho tới “học nhiều hơn 2 buổi”.
Việc ôn thi thường rất căng thẳng và đòi hỏi sự kiên trì rất cao nên hiếm có
sinh viên nào có thể ngồi ôn bài liền một mạch trong 1 thời điểm nhất định nào
trong ngày; hơn thế nữa, để nhớ được nhiều thì nhất định cần phải có quá trình và
sự lặp lại thường xuyên, đều đặn; thêm vào đó là những yếu tố khách quan ít nhiều
cũng có tác động tới quá trình ôn thi của các sinh viên; chính vì vậy, tỷ lệ cao 43%
số sinh viên học ôn trên 2 buổi/ngày là con số hợp lý, có xu hướng ổn định cao, và
đây cũng là cách chọn thời điểm ôn thi đúng đắn và hiệu quả nhất.
Lượng sinh viên chọn ôn thi vào tối 25%, và vào đêm 17% là một tỷ lệ khá

13
Bộ môn Nguyên lí thống kê kinh tế
Từ bảng số liệu và biểu đồ nêu trên, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra rằng,
phong cách mang đậm truyền thống đại học Ngoại Thương vẫn được duy trì và
phát huy tương đối tốt, đó là sự thông minh, tự tin, năng động, tự lập cao gắn liền
với hợp tác tích cực trong học tập cũng như các hoạt động thanh niên ngoài giờ
học. Điều này được thể hiện qua số lượng sinh viên học theo phương thức “một
mình” và “ kết hợp giữa tự học và học nhóm” chiếm tỷ lệ rất cao, lần lượt theo thứ
tự là 50,67% và 43,33%. Lý do nhiều sinh viên chọn hình thức tự học đó là sự tập
trung, nhập tâm suy nghĩ , nhớ lâu hơn và đạt hiệu suất cao hơn khi họ làm việc
một mình; tuy nhiên, trong quá trình tự học không thể tránh khỏi những vướng
mắc, khó để tự tìm ra lời giải đáp nên hệ quả kéo theo đó là nhu cầu thắc mắc và
được giải đáp thắc mắc, chính vì vậy, 43,33% số sinh viên đã chọn cách học là “kết
hợp tự học và học nhóm” lại với nhau để thu được lợi ích tối ưu và hiệu quả tốt
nhất cho việc học; và đây có thể nói là một lựa chọn thông minh, khá hợp lý, rất
đáng được quan tâm, và khuyến khích vận dụng trong cộng đồng sinh viên.
2. Hình thức học nhóm
BẢNG SỐ LIỆU
Cách học nhóm Số sinh viên Phần trăm
Tự đọc và nghiên cứu trước khi
học nhóm
82 82
Không xem bài trước 16 16
Khác 2 2
Tổng 100 100
Hiện tượng này, xét trên tổng thể lớn có thể coi là tốt và chấp nhận được, con
số 82% số sinh viên thường “đọc và nghiên cứu trước khi học nhóm” khẳng định
nhận thức tốt và đúng đắn về cách học nhóm của sinh viên ĐH Ngoại Thương, vì
trong thực tế, nếu không có sự có sự tranh luận, cùng xem xét, cùng giải quyết thì
học nhóm bị sẽ phản tác dụng, mà tất cả những điều này chỉ có thể có khi các thành

Tổng 138 100
Nhận xét: Phần lớn các sinh viên đều sử dụng kết hợp các nguồn tài liệu ngoài
( 63,1%) , và nguồn tài liệu từ internet được sử dụng nhiều nhất. Điều này là hợp lý
vì một sinh viên muốn có kết quả tốt cần vận dụng tối đa các nguồn tài liệu có thể
có. Và internet hiện nay là phương tiện hỗ trợ không thể thiếu với việc học tập của
sinh viên. Đây là nguồn tài liệu vô cùng phong phú, rộng lớn, chỉ cần ngồi ở nhà
với một chiếc máy tính và mạng internet là đã có thể tìm được tài liệu vô cùng
nhanh chóng. Tuy nhiên, có thể thấy rằng một bộ phận ( 12,4 %) sinh viên đã bỏ
qua nguồn tài rất hiệu quả này. Vậy đối với những bạn chưa trang bị mạng internet
cho mình thì cần nhanh chóng lắp đặt vì đây là công cụ không thể thiếu đối với sinh
viên, nhất lại là sinh viên kinh tế. Có 8,7 % sinh viên chỉ học ở giáo trình và tìm tài
liệu ở quán photocopy. Đây là nguồn tài liệu phổ biến, sát với môn học, chẳng hạn
như tuyển tập đề thi, các sách bán chạy,… Tuy nhiên phạm vi lại hẹp và chưa cập
nhật bằng internet. Có 3,6 % sinh viên chỉ học giáo trình kết hợp với tài liệu từ thầy
cô bạn bè. Trên thực tế tài liệu từ nguồn này rất có ích, sát với chương trình hơn so
với tự mày mò qua internet. Tuy nhiên,sinh viên lại lâm vào tình trạng bị động, nếu
có được tài liệu thì học, còn không thì bỏ qua.
Như vậy mỗi nguồn tài liệu đều có ưu điểm và nhược điểm, cách học thông
minh nhất là kết hợp tất cả các nguồn tài liệu. Mới chỉ có khoảng 2/3 số sinh viên
( chưa kể số chỉ học qua giáo trình) làm được điều này. Vậy những bạn còn lại nên
16
Bộ môn Nguyên lí thống kê kinh tế
thay đổi phương pháp, nhất là khi bước sang năm thứ ba và thứ tư. Không những là
tài liệu phục vụ cho kì thi, những kiến thức thực tế rất quan trọng với các bạn trong
giai đoạn này, nó sẽ hỗ trợ vô cùng lớn cho các bạn khi ra trường. Hãy tận dụng
internet, nguồn tài liệu vô cùng hữu ích, bên cạnh đó tham khảo thầy cô cũng là
một cách hay để các bạn nắm vững môn học.
5. Phương pháp ôn thi
BẢNG SỐ LIỆU
Phương pháp ôn thi Số sinh viên Tỉ lệ trongmẫu Điểm tích lũy trung

ôn giáo trình để hiểu được kiến thức vì phương pháp này ghi chép hơi ngắn gọn,
không được chi tiết như giáo trình.
Tóm lại mỗi phương pháp đều có ưu và nhược điểm, cách thông minh nhất là
kết hợp tất cả các phương pháp ôn thi.
6. Phân bổ thời gian
BẢNG SỐ LIỆU
Sắp xếp thời gian cụ thể
cho từng môn
Số sinh viên Tỉ lệ trong mẫu Điểm tích lũy trung bình
nhóm
Có 32 21,3% 3.22
Không 118 78,7% 3.18
Tổng 150 100
Có thể thấy rằng phần lớn các bạn đều sắp xếp thời gian ôn thi cho từng môn
(78.7%) . Con số này có thể coi là tốt và châp nhận được, phần lớn sinh viên FTU
có nhận thức tốt và đúng đắn về việc sắp xếp thời gian ôn thi cho từng môn. Bởi lẽ
18
Bộ môn Nguyên lí thống kê kinh tế
sắp xếp cụ thể thời gian ôn thi sẽ giúp tiết kiệm thời gian, chủ động nắm bắt được
lượng kiến thức cần nắm bắt, tránh việc bị động, không biết lựa chọn lúc nào ôn gì,
dễ làm cho việc ôn thi trở nên áp lực, hiệu quả giảm sút. Và kết quả trung bình cho
thấy điều đó, điểm trung bình tích lũy của các bạn có ý thức về sắp xếp thời gian ôn
thi là 3.22, cao hơn so với nhóm còn lại là 3.18.
Với 21.3 % sinh viên không biết cách sắp xếp thời gian ôn thi, thật sự, đã là
sinh viên năm 2 nhưng chưa làm được điều này là điều đáng trách . Nhất lại là
trong cộng đồng sinh viên FTU rất năng động thì việc biết quản lý thời gian tốt là
một điều đặc trưng. Học kĩ năng quản lý thời gian là một việc rất quan trọng ở đại
học. Hi vọng rằng trong năm tới các bạn sẽ khắc phục được điều này để không chỉ
nâng cao kết quả học tập mà còn giúp các bạn làm việc, sinh hoạt hiệu quả.
7. Học tủ

Tất cả 12 8
Tùy hứng 24 16
Tổng 150 100
Dựa vào bảng số liệu ta có thể thấy có 46% số sinh viên được hỏi chỉ ôn thi 1
môn trong 1 khoảng thời gian, 35% số sinh viên được hỏi ôn thi nhiều môn trong 1
khoảng thời gian, 8% số sinh viên được hỏi ôn thi tất cả các môn trong 1 khoảng
thời gian và 16% sinh viên còn lại thì ôn thi tùy hứng.
20
Bộ môn Nguyên lí thống kê kinh tế
9. Địa điểm ôn thi
BẢNG SỐ LIỆU
Địa điểm ôn thi Số sinh viên Tỉ lệ trong mẫu (%)
Nhà 117 78
Thư viện 18 12
Trường 7 4,7
Nơi khác 8 5,3
Tổng 150 100
Dựa vào bảng số liệu ta thấy có 117 sinh viên chọn ôn thi tại, 18 sinh viên
chọn ôn thi ở thư viện, 7 sinh viên chọn ôn thi tại trường, và 8 sinh viên chọn ôn thi
tại nơi khác.
Như vậy có thể thấy hầu hết các sinh viên khi được hỏi đều chọn địa điểm ôn
thi tại nhà, con số ấy chiếm tới 78% trong khi ôn thi ở thư viện chỉ có 12% ,ôn thi ở
trường là 4,7% và 5,3% là ôn thi ở nơi khác. Địa điểm ôn thi tại nhà khá thuận tiện
và yên tĩnh cho các bạn sinh viên ôn thi trong khi ôn thi ở trường thì khá ồn ào, ôn
thi ở thưa viện thì chưa phổ biến, nên đa số các bạn sinh viên đều chọn địa điểm ôn
thi là ở nhà.
21
Bộ môn Nguyên lí thống kê kinh tế
Phần 3: Về kết quả thi.
22

Không
nhớ gì
Số lượng 4 7 1 14 26
% 15.4% 26.9% 3.8% 53.8% 100.0%
Tổng
Số lượng 22 36 10 82 150
% 14.7% 24.0% 6.7% 54.7% 100.0%
23
Bộ môn Nguyên lí thống kê kinh tế
Qua bảng số liệu ta có thể thấy , có 4,67% sinh viên nhớ hết kiến thức được
học, 26,67% sinh viên nhớ kha khá kiến thức được học, 51,33% nhớ ít kiến thức
được học , và có tới 17,33% sinh viên không nhớ gì kiến thức sau khi học. Qua
những số liệu điều tra này, chúng tôi xin rút ra kết luận rằng chương trình học ở
Đại học còn khá nhiều bất cập khi còn mang nặng tính lý thuyết, khá nhàm chán
dẫn đến việc sinh viên học xong mỗi môn học đọng lại được rất ít kiến thức. Nếu
trong tương lai không sớm cải cách dạy và học ở đại học thì đó thực sự sẽ lãng phí
rất nhiều tiền của của quốc gia. Bên cạnh đó chúng tôi cũng nghiên cứu ảnh hưởng
của phương pháp học đối với khả năng nhớ kiến thức của sinh viên Ngoại thương.
Trong 7 sinh viên ít ỏi được hỏi nhớ hết kiến thức thì có 71,4% có được kết quả đó
là do phương pháp đọc hiểu, 28,6% là do kết hợp cả 3 phương pháp trên. Trong 40
sinh viên được hỏi nhớ kha khá kiến thức thì có : 22,5% học thuộc lòng ;22,5% đọc
hiểu ; 10% sử dụng sơ đồ tư duy và 45% kết hợp cả 3 phương pháp trên. Với những
sinh viên nhớ ít thì kết quả là :11,7% học thuộc ;19,5% đọc hiểu; 6,5% sử dụng sơ
đồ tư duy và 62,3% kết hợp cả 3 phương pháp trên. Và những sinh viên không nhớ
gì thì con số lần lượt là 15,4% ;26,9% ; 3,8%; 53,8%. Kết quả ghi nhớ kiến thức
yếu kém của sinh viên không chỉ do kiến thức giảng dạy chưa tốt mà còn do
phương pháp học chưa đúng của sinh viên. Có tới 38,7% sinh viên được hỏi không
dung đến sơ đồ tư duy – một phương pháp học vô cùng hiệu quả và tiên tiến trên
thế giới. Điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả ghi nhớ của sinh viên.
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status