TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA KINH TẾ & QTKD
BỘ MÔN KINH TẾ
BÀI GIẢNG
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KINH TẾ
(Tài liệu dùng cho khối ngành Kinh tế)
PHÚ THỌ, 2014
MỤC LỤC
Chương 1 1
GIỚI THIỆU VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KINH TẾ 1
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1 12
Câu 1: Phân biệt nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu ứng dụng? Làm thế nào để đưa các kết
quả từ nghiên cứu ứng dụng vào triển khai áp dụng trong thực tế hoạt động sản xuất? 12
Câu 2: Phân biệt nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng? Làm thế nào để lượng hóa
ảnh hưởng của các biến số chất lượng (biến định tính) đến một vấn đề kinh tế cụ thể nào đó?
12
Câu 3: Trình bày các tiêu chuẩn của một nghiên cứu tốt? 12
Câu 4: Trình bày khái quát quá trình nghiên cứu? 12
1 CHƯƠNG 2 13
THIẾT KẾ ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU KINH TẾ 13
CHƯƠNG 3 19
THU THẬP VÀ XỬ LÝ THÔNG TIN 19
CHƯƠNG 4 65
PHƯƠNG PHÁP TRÌNH BÀY BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KINH TẾ 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
PHỤ LỤC 79
i
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KINH TẾ
1.1 Khoa học
1
Là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thống nhờ hoạt động NCKH,
các hoạt động này có mục tiêu xác định và sử dụng phương pháp khoa học. Không
giống như tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học dựa trên kết quả quan sát, thu thập
được qua những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã
hội, trong tự nhiên. Tri thức khoa học được tổ chức trong khuôn khổ các ngành và bộ
môn khoa học (discipline) như: triết học, sử học, kinh tế học, toán học, sinh học,…
1.1.2 Quy luật hình thành và phát triển của khoa học
Khoa học được hình thành không phải là ngẫu nhiên mà do những điều kiện
nhất định:
- Do sự phát kiến ra các tiên đề (một tri thức khoa học mặc nhiên được thừa
nhận không cần phải chứng minh). Ví dụ: Từ tiên đề Ơclit đã hình thành nên hình học
phẳng (hình học Ơclit), tiên đề của David Hibert, tiên đề Albert Einstein.
- Do sự phân lập các bộ môn khoa học: Từ một bộ môn khoa học đang tồn tại
tách ra thành một hoặc một số bộ môn khoa học mới có đối tượng nghiên cứu hẹp hơn.
Ví dụ: Từ toán học hình thành các bộ môn khoa học như số học, đại số học, hình học,
lượng giác bản chất của quá trình này là do sự phát triển của khoa học dẫn đến phân
lập đối tượng nghiên cứu và hình thành nên những bộ môn khoa học mới.
- Do sự tích hợp các khoa học: Do sự phát triển của khoa học, phương pháp
luận riêng của một bộ môn khoa học không đủ giải quyết vấn đề, cần có sự kết hợp
giữa các bộ môn khoa học, từ đó hình thành nên bộ môn khoa học mới: Ví dụ toán-lý,
hoá - sinh, toán - kinh tế.
1.1.3 Cơ sở để phân biệt một khoa học
- Có một đối tượng nghiên cứu;
- Có một hệ thống lý thuyết;
- Có hệ thống phương pháp luận;
- Có mục đích ứng dụng;
- Có một lịch sử nghiên cứu.
1.1.4 Phân loại khoa học
Khoa học có nhiều loại khác nhau, tùy theo mục đích nghiên cứu người ta có
là có điểm khởi đầu và có điểm tận cùng?
Những câu hỏi như thế là vô cùng vô tận. trả lời mỗi câu hỏi ấy là những công
trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc.
Nghiên cứu khoa học là một hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử
nghiệm. Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức… đạt được từ các thí nghiệm
nghiên cứu khoa học để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự
nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá
trị hơn.
Như vậy, nghiên cứu khoa học là quá trình hành động nhằm hình thành các
hiểu biết giúp nhận thức và cải tạo thế giới khách quan.
3
Con người muốn làm nghiên cứu khoa học phải có kiến thức nhất định về lĩnh
vực nghiên cứu và cái chính là phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có phương pháp từ
lúc ngồi trên ghế nhà trường.
1.2.2 Mục đích của nghiên cứu khoa học
- Nhận thức thế giới khách quan:
+ Phát hiện các thuộc tính, bản chất của sự vật, hiên tượng, các mối quan hệ
cũng như mối liên hệ của chúng.
+ Phát hiện quy luật vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng.
- Cải tạo và biến đổi thế giới khách quan mang lại lợi ích cho con người: Khám
phá ra con đường, cách thức vận dụng các tri thức khoa học vào thực tiễn sản xuất và
đời sống.
Chú ý mối quan hệ giữa nhận thức và cải tạo thế giới khách quan:
+ Nếu không nhận thức đúng thì không thể có hành động đúng.
+ Nếu chỉ dừng ở nhận thức mà không hành động thì kết quả của nghiên cứu
khoa học rất hạn chế, thiếu tác dụng thiết thực.
1.2.3 Chức năng của nghiên cứu khoa học
Để đạt được các mục đích trên, khoa học có 5 chức năng sau đây.
- Quan sát: là xem xét một cách tỉ mỉ và cặn kẽ về sự vật hiện tượng. Quan sát
là khâu đầu tiên giúp ta thu thập được các sự kiện, từ đó hình thành nên nhận thức.
hỏi tại sao, như thế nào (?).
- Nghiên cứu giải pháp: là những nghiên cứu nhằm sáng tạo ra các giải pháp, có
thể là giải pháp công nghệ, giải pháp tổ chức và quản lý (ví dụ tìm kiếm giải pháp
nâng cao năng lực cạnh tranh của một sản phẩm, biện pháp đối phó với khủng hoảng
của nền kinh tế,…).
Cung cấp thông tin/dữ liệu thống kê và những kết luận rút ra được từ các thông
tin/dữ liệu.
Kiến thức và kỹ năng thu thập thông tin (Loại thông tin, Nguồn thông tin &
Người cung cấp thông tin).
Kỹ năng diễn dịch và đưa ra kết luận từ những thông tin/dữ liệu thống kê.
- Nghiên cứu dự báo: là những nghiên cứu nằm nhận dạng trạng thái của sự vật
trong tương lai (ví dụ dự báo sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam sau 10 gia nhập
WTO, dự báo thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới vào cuối thế kỷ XXI,…).
Nhằm đưa ra được những sự tiên đoán khi nào và trong trường hợp nào một
hiện tượng/sự kiện nào đó sẽ xảy ra (?).
* Phân loại theo các giai đoạn của nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ bản: là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc,
động thái của sự vật, tương tác của sự vật cũng như mối liên hệ giữa sự vật này với sự
vật khác.
Nghiên cứu cơ bản nhằm trước hết phát triển khoa học và làm cơ sở cho các
nghiên cứu khoa học khác.
Nhằm trả lời những câu hỏi phức tạp của lý thuyết.
5
- Nghiên cứu ứng dụng: là nghiên cứu khoa học dựa vào các quy luật từ nghiên
cứu cơ bản để xác định nguyên lý và giải pháp trong điều kiện ứng dụng cụ thể. Tuy
nhiên, kết quả của nghiên cứu ứng dụng thì chưa ứng dụng được. Để có thể đưa kết
quả nghiên cứu ứng dụng vào thực tiễn còn phải tiến hành nghiên cứu triển khai.
Đặt trọng tâm vào việc giải quyết vấn đề.
- Nghiên cứu triển khai: là việc vận dụng các quy luật từ kết quả nghiên cứu
ứng dụng và các nguyên lý thu được từ nghiên cứu triển khai để xây dựng mô hình
Là phương pháp nghiên cứu khoa học thuần túy dựa trên sự tính toán, suy luận
và phán đoán để rút ra kết luận khoa học.
Chất liệu dùng cho nghiên cứu theo phương pháp này là khái niệm, định luật,
quy luật, số liệu thu thập trước đó mà hoàn toàn không tiến hành một thực nghiệm nào.
- Phương pháp thực nghiệm:
Là phương pháp nghiên cứu khoa học dựa trên những phương pháp thực
nghiệm theo những mô hình trong đó các yếu tố được theo dõi và khống chế. Phương
pháp này thường được áp dụng trong lĩnh vực kỹ thuật.
- Phương pháp nghiên cứu phi thực nghiệm
Đó là phương pháp nghiên cứu dựa trên việc điều tra, quan sát và thu thập tài
liệu, tính toán phân tích và rút ra kết luận khoa học.
- Phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu khoa học
+ Phương pháp tiếp cận lịch sử: là phương pháp tiếp cận dựa vào những điều đã
xảy ra trong quá khứ để kiểm chứng quy luật.
+ Phương pháp tiếp cận hệ thống: là phương pháp tiếp cận trên cơ sở xem xét
và hướng vào cùng một mục tiêu. Đây cũng là một cách tiếp cận phổ biến trong thời
gian gần đây.
+ Phương pháp tiếp cận định tính kết hợp với định lượng: Dựa trên quy luật
lượng đổi chất đổi trong triết học. Muốn có kết luận về chất thì phải nghiên cứu sâu về
lượng.
+ Phương pháp tiếp cận xã hội học: Đó là phương pháp tiếp cận dựa trên
phương pháp điều tra xã hội học.
+ Phương pháp tiếp cận tâm lý học: là phương pháp tiếp cận thông qua quan sát
theo dõi và cảm nhận.
+ Phương pháp tiếp cận SWOT: là phương pháp dựa trên cơ sở mặt mạnh, mặt
yếu, cơ hội và thách thức.
Các yếu tố bên ngoài: Cơ hội (Opportinities); thách thức (Threat)
Các yếu tố bên trong: Mặt mạnh (Strength); mặt yếu (weakness)
1.3 Nghiên cứu kinh tế
Nghiên cứu kinh tế là một phương pháp khám phá có tính hệ thống nhằm cung
- Khái niệm: Là phương pháp nghiên cứu kinh tế dựa trên cơ sở các phương
pháp của thống kê. Cho đến nay được coi là phương pháp chủ yếu trong nghiên cứu
kinh tế.
8
Do các hiện tượng kinh tế xã hội là những hiện tượng xảy ra ở nhiều nơi, nhiều
lúc trong nhiều điều kiện khác nhau, bởi vậy nó rất phong phú và đa dạng. Phương
pháp thống kê kinh tế là thích hợp để nghiên cứu các hiện tượng như vậy.
- Nội dung phương pháp:
+ Phương pháp thống kê kinh tế giúp chúng ta thu thập được tài liệu dựa trên cơ
sở quan sát số lớn;
+ Phương pháp này giúp chúng ta xử lý và hệ thống hóa tài liệu (phân tổ thống
kê);
+ Phương pháp này giúp phản ánh và phân tích tài liệu trên rất nhiều khía cạnh;
- Hạn chế của phương pháp: Không phù hợp với bộ phân tiên tiến, lạc hậu hay
bộ phận điển hình.
b) Phương pháp chuyên khảo
- Khái niệm: Là phương pháp nghiên cứu kinh tế đi sâu vào đơn vị điển hình (lạc
hậu hoặc tiên tiến).
- Nghiên cứu bằng phương pháp này có thể rút ra các giải pháp cho từng nhóm
điển hình.
c) Phương phương chuyên gia
- Khái niệm: Là phương pháp nghiên cứu kinh tế dựa trên ý kiến của các chuyên
gia.
- Chuyên gia là những người am hiểu về vấn đề nghiên cứu (nhà Khoa học, nhà
hoạch định chính sách,…)
- Phương pháp này giúp chúng ta nắm được lý luận cơ bản, cho biết được thực
trạng tình hình và giải pháp cơ bản, cho biết các công trình nghiên cứu có liên quan.
- Hình thức áp dụng phương pháp: Có thể trao đổi trực tiếp, có thể sử dụng nhóm
chuyên gia, hội thảo khoa học (mời viết bài, trình bày, thảo luận,…), expert meeting.
d) Phương pháp cân đối
L
β
.
1.3.6. Quá trình nghiên cứu kinh tế
Bước 1: Xác định vấn đề nghiên cứu
Có 2 loại vấn đề nghiên cứu: Nghiên cứu về tình trạng thực tế nào đó và nghiên
cứu mối quan hệ giữa các biến số.
Nếu lĩnh vực nghiên cứu rộng thì cần thu hẹp vấn đề nghiên cứu thông qua trao đổi
với bạn bè, đồng nghiệp và các chuyên gia.
Tại bước nghiên cứu này, người thực hiện cần phải tìm hiểu cơ sở lý thuyết từ đó
xác định vấn đề nghiên cứu rõ ràng hơn. Bên cạnh đó cũng cần tìm hiểu sơ bộ về dữ
liệu cần thiết để nghiên cứu, mối quan hệ cần phân tích và loại kỹ thuật cần phân tích
để xem xét vấn đề nghiên cứu có khả thi không.
Bước 2: Tìm hiểu cơ sở lý thuyết
10
Tóm tắt các lý thuyết và các nghiên cứu trước liên quan đến vấn đề nghiên cứu qua
đó chọn các khái niệm, lý thuyết thật sự liên quan đến vấn đề nghiên cứu để trình bày.
Chú ý cách đọc và ghi chú tóm tắt tài liệu từ các nguồn khác nhau.
Bước 3: Phát triển giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết nghiên cứu là 1 giả định của chúng ta, được xây dựng trên cơ sở vấn đề
nghiên cứu và cơ sở lý thuyết để qua đó kiểm định tính hợp lý và kết quả thực nghiệm
của nó. Giả thuyết nghiên cứu là tiêu điểm của vấn đề nghiên cứu.
Các cách để xác định giả thuyết nghiên cứu bao gồm thảo luận trao đổi với đồng
nghiệp, bạn bè, các chuyên gia nghiên cứu; kiểm tra dữ liệu và tài liệu có sẵn liên
quan; xem lại các nghiên cứu tương tự trước đây trong cùng lĩnh vực; quan sát phán
đoán của người nghiên cứu và ý kiến của các cá nhân/đơn vị liên quan.
Bước 4: Xây dựng đề cương nghiên cứu
Đề cương nghiên cứu trình bày các bước mà người nghiên cứu phải đạt được, bao
gồm trình bày vấn đề, cơ sở lý thuyết và giả thuyết và trình bày các bước tiếp theo để
giải quyết vấn đề.
giải quyết thuộc phạm vi đề tài nghiên cứu.
Đề cương nghiên cứu là một kế hoạch được viết ra nhằm hướng dẫn, định
hướng thực hiện một nghiên cứu.
Yêu cầu cơ bản của một đề cương nghiên cứu:
- Trình bày câu hỏi nghiên cứu và tầm quan trọng của nó;
- Thảo luận về những nghiên cứu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu;
- Chỉ ra những thông tin cần thiết để trả lời câu hỏi nghiên cứu;
2.2 Lý do viết đề cương nghiên cứu
- Nhận được sự chấp thuận của người tài trợ nghiên cứu;
- Cho phép nhà nghiên cứu hoạch định và đánh giá các bước của quá trình
nghiên cứu;
- Là một chỉ dẫn trong suốt quá trình nghiên cứu;
- Cơ sở cho hoạch định nguồn lực cần thiết cho nghiên cứu (thời gian và ngân
sách);
2.3 Nội dung của đề cương nghiên cứu
- Chủ đề nghiên cứu;
- Ý nghĩa và tầm quan trọng của đề tài nghiên cứu;
- Mục tiêu nghiên cứu;
- Đối tượng, phạm vi nghiên cứu;
- Giả thuyết nghiên cứu;
- Phương pháp nghiên cứu/Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu;
- Nội dung nghiên cứu;
- Kế hoạch nghiên cứu;
- Dự toán kinh phí nghiên cứu;
13
Nghiên cứu khoa học là 1 quá trình phức tạp, nó bao gồm nhiều giai đoạn với
nhiều công việc cụ thể khác nhau. Quá trình nghiên cứu khoa học bao gồm các giai
đoạn như sau:
2.3.1 Xác định đề tài nghiên cứu
Đề tài là một hình thức tổ chức nghiên cứu khoa học do một người hoặc một
14
- Làm rõ mức độ nghiên cứu của các đồng nghiệp đi trước để chỉ rõ đề tài sẽ kế
thừa những gì và tiếp tục nghiên cứu ra sao.
- Giải thích lý do chọn đề tài về lý thuyết cũng như thực tiễn về tính cấp thiết
cũng như năng lực nghiên cứu.
2- Trình bày rõ mục tiêu nghiên cứu
Khi viết đề cương nghiên cứu, một điều rất quan trọng là làm sao thể hiện được
mục tiêu và mục đích nghiên cứu mà không có sự trùng lắp lẫn nhau. Vì vậy, cần thiết
để phân biệt sự khác nhau giữa mục đích và mục tiêu.
* Mục đích: là hướng đến một điều gì hay một công việc nào đó trong nghiên
cứu mà người nghiên cứu mong muốn để hoàn thành, nhưng thường thì mục đích khó
có thể đo lường hay định lượng. Nói cách khác, mục đích là sự sắp đặt công việc hay
điều gì đó được đưa ra trong nghiên cứu. Mục đích trả lời câu hỏi “nhằm vào việc
gì?”, hoặc “để phục vụ cho điều gì?” và mang ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu, nhắm
đến đối tượng phục vụ sản xuất, nghiên cứu.
* Mục tiêu: là thực hiện điều gì hoặc hoạt động nào đó cụ thể, rõ ràng mà người
nghiên cứu sẽ hoàn thành theo kế hoạch đã đặt ra trong nghiên cứu. Mục tiêu có thể đo
lường hay định lượng được. Nói cách khác, mục tiêu là nền tảng hoạt động của đề tài
và làm cơ sở cho việc đánh giá kế hoạch nghiên cứu đã đưa ra, và là điều mà kết quả
phải đạt được. Mục tiêu trả lời câu hỏi “làm cái gì?”.
Ví dụ 2.1: Phân biệt giữa mục đích và mục tiêu của đề tài sau đây.
Đề tài: “Một số giải pháp nhằm huy động vốn tại Ngân hàng Công thương Việt
Nam”.
Mục đích của đề tài: Để tăng lợi nhuận cho Ngân hàng
Mục tiêu của đề tài:
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận về huy động vốn;
- Phản ánh và đánh giá thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Công thương
Việt Nam;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân
hàng Công thương Việt Nam.
không thể được đặt ra một cách ngẫu hứng. Giả thuyết chỉ có thể tồn tại khi hội tụ đủ
ba tiêu chí sau:
- Giả thuyết phải dựa trên cơ sở quan sát: Phần lớn các giả thuyết được hình
thành dựa trên kết quả quan sát từ các sự kiện riêng biệt. Khả năng quan sát hữu hạn
các sự kiện, cho phép khẳng định bản chất thống kê của giả thuyết. Mọi ý tưởng tuyệt
đối hóa giả thuyết đều là sự sai phạm logic về bản chất quan sát khoa học.
- Giả thuyết không được trái với lý thuyết: Có mấy điểm cần lưu ý khi xem xét
tiêu chí này:
Thứ nhất, cần phân biệt lý thuyết đã được xác nhận tính đúng đắn về khoa học
với những lập luận bị ngộ nhận là lý thuyết đã được xác nhận. Trong trường hợp này,
giả thuyết mới sẽ có giá trị thay thế lý thuyết đang tồn tại.
16
Thứ hai, có những lý thuyết đã được xác nhận tính đúng đắn về khoa học, nhưng
với sự phát triển của nhận thức, lý thuyết đang tồn tại thể hiện tính chưa hoàn thiện
trong nhận thức. Trong trường hợp này, giả thuyết mới sẽ bổ sung vào chỗ trống trong
lý thuyết đang tồn tại.
Thứ ba, hoàn toàn có một khả năng khác, là giả thuyết mới sẽ mang một ý nghĩa
khái quát, còn lý thuyết đang tồn tại sẽ trở thành một trường hợp riêng của một lý
thuyết tổng quát được xây dựng từ giả thuyết mới.
- Giả thuyết phải có thể kiểm chứng: Trước đây, giới nghiên cứu quan niệm chỉ
tồn tại giả thuyết trong các khoa học thực nghiệm và được kiểm chứng bằng thực
nghiệm. Sau này, người ta công nhận cả việc kiểm chứng bằng lý thuyết. Tuy nhiên,
người nghiên cứu cần hiểu rằng, không phải giả thuyết nào cũng có thể được chứng
minh hoặc bị bác bỏ ngay trong thời đại của nó. Trong khoa học xã hội điều này còn
khó khăn hơn nhiều.
6- Lựa chọn phương pháp nghiên cứu
Ở đây cần chỉ rõ những phương pháp nào sẽ sử dụng trong nghiên cứu.có
những phương pháp được sử dụng trong suốt quá trinh nghiên cứu đề tài ở nhiều nội
dung khác nhau. Cũng có phương pháp nghiên cứu chỉ áp dụng để giải quyết 1 vài nội
dung riêng biệt của đề tài. Do đó khi xác định phương pháp nghiên cứu cần chỉ rõ
bộ, nghiệm thu chính thức. Kế hoạch tiến độ thường được xây dựng theo bảng theo
mẫu sau:
TT Tên công
việc
Thời gian tiến
hành
Địa điểm thực
hiện/Người thực hiện
Kết quả dự
kiến
1
2
Lập danh sách thành viên
Danh sách thành viên tham gia đề tài bao gồm:
- Người chủ trì;
- Các cộng tác viên.
Trong số những người tham gia có thể phải xác định người chủ trì từng bộ phận
nếu cần thiết. Bên cạnh đó, cần thiết phải chỉ ra cơ quan công tác, địa chỉ, điện thoại
liên hệ, các thông tin cá nhân và đặc biệt là trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phạm vi
và lĩnh vực nghiên cứu chuyên môn của các thành viên tham gia đề tài.
9- Dự toán kinh phí nghiên cứu
Dự toán kinh phí bao gồm: chi phí lương, chi phí nghiên cứu, chi phí mua sắm
tài liệu, trang thiết bị. Các loại chi phí này thường được hướng dẫn khá chi tiết bởi các
cơ quan quản lý.
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 2
Câu 1: Phân biệt giả thiết và giả thuyết trong nghiên cứu kinh tế?
Câu 2: Trình bày các nội dung chính của một đề cương nghiên cứu?
Câu 3: Viết đề cương nghiên cứu về một vấn đề kinh tế cụ thể mà anh (chị)
quan tâm?
18
-Cách ghi chép :
19
+ Ghi trích đoạn nguyên văn (đối với những tài liệu mà tác giả có đoạn tổng kết
lại).
+ Ghi tóm tắt đối với những tài liệu không được tác giả tổng kết lại.
Trong khi ghi chép cần ghi chú thích về nguồn tài liệu đã sử dụng bao gồm tên
tác giả, năm xuất bản, tên tác phẩm, nhà xuất bản, nơi xuất bản, trang sử dụng. Đây là
vấn đề quan trọng và là yêu cầu bắt buộc đối với người sử dụng tài liệu trong nghiên
cứu khoa học. Điều đó chứng tỏ việc ”Nói có sách, mách có chứng”. Làm như vậy
cũng thể hiện sự nghiêm túc của người nghiên cứu; không mập mờ giữa sáng tạo của
mình với sáng tạo của người khác và nhất là không chiếm dụng thành quả lao động
khoa học của người khác.
(4) Phân loại thông tin thu nhập được
Thông tin thu thập được qua sách báo thường liên quan đến nhiều nội dung
khác nhau thuộc đề tài nghiên cứu. Để thuận lợi cho việc sử dụng cần sớm phân loại.
Thông thường những thông tin thu thập được người ta ghi vào những phiếu riêng biệt
đã được phân loại ngay từ đầu hoặc lưu trữ vào máy tính theo thư mục đã định sẵn.
Việc sớm phân loại thông tin sẽ tránh sự lộn xộn về tài liệu và tạo điều kiện
thuận lợi cho công tác xử lý thông tin về sau.
(5) Tổng hợp tài liệu trong quá trình đọc
Khi tham khảo được một số tài liệu nhất định cần được tổng hợp lại. Quá tổng
hợp chúng ta sẽ biết được các quan điểm của các tác giả khác nhau về lĩnh vực đang
quan tâm. Từ đó có thể phân loại ra các nhóm quan điểm khác nhau, tìm quan điểm
cho là phù hợp nhất hoặc có thể suy nghĩ trên những vấn đề đang xem xét. Làm như
vậy người nghiên cứu đã biến kiến thức sách vở thành kiến thức của mình.
3.1.2 Phương pháp quan sát
Quan sát là phương pháp tri giác có mục đích, có kế hoạch một sự kiện, hiện
tượng, quá trình (hay hành vi cử chỉ của con người) trong những hoàn cảnh tự nhiên
khác nhau nhằm thu thập những số liệu, sự kiện cụ thể đặc trưng cho quá trình diễn
biến của sự kiện, hiện tượng đó.
+ Xác định rõ đối tượng quan sát. Quan sát phải được tiến hành trong điều kiện
tự nhiên của hoạt động: người được quan sát không biết mình đang bị quan sát, người
quan sát không nên can thiệp vào hoạt động tự nhiên và thay đổi hành vi của đối tượng
(nếu là con người), người quan sát phải tự mình tham gia vào hoạt động (lao động, học
tập, vui chơi…) cùng với người được quan sát (cùng tham gia) để đảm bảo tính tự
nhiên của hiện tượng, quá trình nghiên cứu.
+ Xác định rõ ràng mục đích, nhiệm vụ quan sát, từ đó phải xây dựng kế hoạch
quan sát trong suốt quá trình nghiên cứu và chương trình của từng buổi quan sát. Điều
quan trọng là xác định quan sát toàn bộ hay chọn lọc, từ đó mới ghi lại tất cả cái gì mắt
thấy tai nghe hay một mặt nào đó. Không có chương trình, kế hoạch thì tài liệu thu
thập được khó tin cậy, không loại trừ được các nhân tố ngẫu nhiên.
21
+ Phải ghi lại kết quả (biên bản) quan sát: ghi lại sự kiện, điều kiện, hoàn cảnh
diễn ra sự kiện. Chỉ có ghi lại mới đảm bảo được tính lâu dài và có hệ thống: nhờ đó
mới thiết lập được mối quan hệ, liên hệ bản chất điển hình của những biểu hiện của
hiện tượng, sự kiện hay tâm lý khác nhau, có thể ghi lại bằng máy ảnh, camera, quay
phim, ghi âm, hay bằng tốc ký, biên bản quan sát,…
- Quan sát những biến dạng:
+ Phương pháp phân tích các sản phẩm hoạt động: Trường hợp nghiên cứu đối
tượng (là người) chỉ thông qua sản phẩm được thực hiện… Thực chất thì chính các
quá trình tâm lý được “vật hóa” trong các sản phẩm hoạt động - đó là đối tượng nghiên
cứu (Ví dụ: nghiên cứu tâm lý trẻ em thông qua bức tranh em vẽ, bài thơ do em làm,
bài tập do em thể hiện……)
+ Phương pháp khái quát hóa các nhận xét độc lập (phương pháp nhận định độc
lập) cũng là dòng họ của quan sát, vì các nhận định độc lập được xây dựng từ quan sát
trong các hiện tượng khác nhau (ví dụ: quan sát trực tiếp học sinh - sinh viên trong giờ
học khi dự giờ để tìm hiểu phong cách, thái độ học tập, hứng thú đối với môn học và
sự tích cực học tập của học sinh). Khái quát nhận xét riêng của từng giáo viên về một
học sinh để nghiên cứu đặc điểm nhân cách của em đó.
- Quan sát có ưu điểm là giữ được tính tự nhiên, khách quan của các sự kiện, hiện
- Điều tra toàn bộ: Là điều tra tiến hành trên tất cả các đơn vị tổng thể. Điều tra
toàn bộ có ưu điểm là cung cấp cho chúng ta số liệu có độ chính xác cao, độ tin cậy
lớn. Tuy nhiên điều tra toàn bộ rất tốn kém và khó đảm bảo tính đầy đủ và kịp thời của
số liệu.
- Điều tra bộ phận: Là điều tra chỉ tiến hành ở một bộ phận tổng thể. Điều tra bộ
phận cung cấp cho chúng ta số liệu tuy có độ chính xác và độ tin cậy kém hơn điều tra
toàn bộ nhưng đỡ tốn kém và nâng cao được tính đầy đủ và kịp thời của số liệu.
Điều quan trọng đối với điều tra bộ phận để thu thập số liệu nghiên cứu khoa
học là phải đảm bảo tính đại biểu của mẫu điều tra. Muốn vậy phải giải quyết hai vấn
đề là xác định số đơn vị mẫu và cách lựa chọn đơn vị mẫu để điều ra.
+Về số đơn vị điều tra (n)
Khoa học thống kê đã xác định công thức tính số đơn vị mẫu đáp ứng yêu cầu
nghiên cứu như sau :
Công thức:
x
t
n
2
22
∆
=
σ
Như vậy trong điều tra chọn mẫu, số đơn vị mẫu (n) phụ thuộc vào :
- Độ tin cậy (t) : Độ tin cậy càng cao (t lớn, tức mức xác suất có ý nghĩa lớn) thì
số đơn vị mẫu càng lớn. Sau đây là một số trị số về mối quan hệ giữa hệ số tin cậy (t)
và độ tin cậy (xác suất p) :
t 1,000 1,640 1,960 2,000 2,580 3,000
p 0,683 0,900 0,950 0,955 0,990 0,997
- Độ chính xác (