Tiếp cận tín ngưỡng phồn thực từ góc nhìn Phân tâm học
LỜI NÓI ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Tôn giáo và tín ngưỡng là một phạm trù không thể thiếu trong đời sống
tâm linh của con người. Nếu như vật chất về cơ bản phục vụ những nhu cầu hữu
hình, đảm bảo cho sự tồn tại sinh học, sự tiếp nối sinh học, những ý muốn hiện
hữu thì tinh thần dẫn nối con người với những mong muốn tồn tại trong tư duy
và nhận thức, những ước vọng, nguyện ý làm cho con người được thỏa mãn về
mặt tâm lý. Tôn giáo (Religion) và tín ngưỡng (Belief) cũng không phải là ngoại
lệ. Về cơ bản, tôn giáo (mang tính niềm tin cộng đồng) và tín ngưỡng (mang
tính niềm tin cá nhân) đều có chung nguồn gốc tâm lý, đó là sự thần thánh hóa
các hiện tượng tự nhiên, phi thường hóa mối liên hệ của con người đang sống
với những người đã chết, gán niềm tin (vốn được các học giả Hoa Kỳ cho rằng,
là hình thái ý thức làm cho con người mang một sức mạnh thần kỳ, lại cũng là
một sự lệ thuộc cố hữu, nhưng điều đó lại làm cho con người khác hẳn con vật,
có hành vi lý tính phức tạp, khó kiểm soát, tạo ra bản chất Người không thể
nhầm lẫn) vào ý thức của con người. Là một dạng thức tín ngưỡng, tín ngưỡng
phồn thực cũng không nằm ngoài điều đó. Mối quan hệ giao tính vồn luôn là đề
tại nhạy cảm nhưng lại gắn bó thiết thực với đời sống, do nó là một thành phần
không thể thiếu trong yếu tố cấu thành bản chất sinh học cũng như cấu trúc ra ý
thức con người luân lý. Với vai trò là một hình thức thể hiện mối liên hệ giữa
mối quan hệ giao tính vào hình thức sùng bái, đề tài tín ngưỡng phồn thực vốn
đã được nhiều học giả trong và ngoài nước xem xét từ trong các nghi lễ, hình
thức biểu hiện, văn, thơ nói chung chứ chưa xem xét ở vai trò tâm lý hình thành.
Với yêu cầu đó, người viết đã mạnh dạn sử dụng Phân tâm học - một môn khoa
học mới mẻ với nhiều lý thuyết đột phá về tâm lý, nhằm lấy đó làm cơ sở cho
phương pháp luận khi bước đầu nghiên cứu đề tài này. Tuy là một môn khoa học
ít nhiều còn xa lạ, nhưng với sự nghiên cứu liên ngành và đa ngành nói chung,
thì việc ứng dụng phân tâm học vào các ngành khoa học xã hội và nhân văn đã
1
được thực hiện. Chính vì lẽ đó, việc tiếp cận một tín ngưỡng từ góc độ chuyên
giống – loài vật nuôi, các vấn đề về cảnh quan và môi trường để tạo nền tảng đi
lên. Nói cách khác, yếu tố duy thức bản năng - một vấn đề cơ bản của phân tâm
học mà sẽ được đề cập sau, không đóng vai trò chi phối cho việc : liệu nền kinh
tế này có bước tiến hay một sự thay đổi tuân theo mong muốn chủ quan của con
người hay không, hay vẫn có một thế lực siêu nhiên (supernatural force) có tác
động nhất định đến vấn đề này, theo cả hai chiều tích cực và tiêu cực phụ thuộc
vào thái độ của con người. Cũng với mạch tư duy như vậy, theo các nhà sinh
học Mỹ, việc con người xuất hiện thì rồi cũng không nằm ngoài quy luật tự
nhiên, tức là chỉ mang một nhiệm vụ cơ bản và tối thiểu là sao chép lại bộ nhiễm
sắc thể của nhau, từ thế hệ này sang thế hệ khác như một hình thức đặt ở thế
mặc định. Mọi yếu tố không bình thường (paranormal factors) thiên về ý thức là
3
điều bên lề và không có nhiều ảnh hưởng rõ rệt đến một hiện tượng được xem
như tất yếu.
Tuy vậy, khi đặt chung cả hai vấn đề vào để xem xét dưới góc độ phân
tâm học, đặc biệt là phân tâm học tôn giáo thì rõ ràng chúng mang một điểm
chung rất rõ, đó là vô thức của con người về mong muốn sinh sôi nảy nở, về ý
thức tính dục sơ khai - sự kết hợp giữa Trời Đất, Cha Mẹ, Đực Cái, trong mối
quan hệ giao hòa. Một trong nguồn gốc ý thức cơ bản để khai sinh ra tín ngưỡng
và tôn giáo chính là ý niệm về các thế lực không thể nắm bắt cai quản sự sống,
sự tồn tại của vạn vật. Sự bất lực của con người trước các vấn đề không thể giải
thích trong giai đoạn mở đầu của tư duy, nhận thức đã khiến họ vật chất hóa
những hiện tượng tự nhiên, quy về một mối mà chúng ta gọi là Thần thánh. Tín
ngưỡng phồn thực cũng không phải là ngoại lệ. Nếu nhận thức khoa học cổ đại
quy chuẩn sự kết hợp nêu trên về Triết lý Âm Dương rồi từ đó giải thích vạn vật
thì lẽ dĩ nhiên, trong điều kiện mà nhận thức dân gian vẫn đóng một vai trò quan
trọng thì việc khai sinh tín ngưỡng phồn thực không có gì đáng ngạc nhiên. Tuy
vậy, vấn đề này được nhìn theo quan điểm của lý thuyết phân tâm học, đặc biệt
là của Sigmund Freud thì có lẽ sẽ được xem xét như một hình thái ý thức có sẵn
của con người, được khẳng định và chỉ tìm phương thức biểu hiện ra bên ngoài
ba phần rõ rệt - phần đế hình vuông tượng trưng cho thần Brahmâ (Phạm Thiên)
(thần Sáng tạo), phần giữa có hình tám cạnh, tượng trưng cho thần Vishnu (Tỳ
Nữu) (thần Bảo tồn) và phần đỉnh có hình trụ, tượng trưng cho thần Shiva (Thấp
Bà Thiên) (Thần Hủy diệt). Linga ở đây đi từ sự Sáng tạo đến sự Bảo tồn và kết
thúc ở sự Hủy diệt, một chỉnh thể thống nhất về sự quá trình chuyển hóa vật
chất, tuy vậy, thần Shiva cũng là một vũ công mang tầm vóc vũ trụ, và dưới điệu
múa của thần, thế giới lại được tái sinh trong một diện mạo mới, bắt đầu cho
một quá trình mới. Còn theo Swami Sivananda, Linga mang ý nghĩa của một sự
đánh dấu, đưa tới sự suy diễn. Sự suy diễn này sẽ dẫn tới ý thức về Linga như
Trục của vũ trụ, hay cái rốn (omphalos) của vũ trụ, mặt khác, nó cũng thể hiện
cho hình ảnh đỉnh Kalaisa, nơi ngự trị của thần Shiva.
Ở Việt Nam, Linga được thể hiện dưói dạng các tượng, các thạch trụ, cái
Nõ (cái nêm - Lõ) hay cái chày giã gạo … Nhiều người thì quan niệm theo lối
5
đơn thuần thì cho rằng Linga chỉ là một mẫu gốc của cơ quan sinh dục nam,
nhưng xét theo cả góc độ tôn giáo học lẫn văn hóa học, thì đó là một dấu hiệu,
một hình tượng biểu thị rõ ràng cho nhịp điệu hình thành và hủy diệt vũ trụ. Vũ
trụ này được biểu hiện dưới nhiều hình thức, được thống hợp và tái sinh theo
định kỳ trong thể đơn nhất nguyên sơ, mà ở đây là Linga.
Hình 1 : Bản vẽ chi tiết Linga
Ở Trung Quốc, tương đương với Linga là một mảnh ngọc thạch, hình tam
giác kéo dài, gọi là Kuei. Nó được đặt ở điểm chính giữa các chùa đền hay các
ngã tư hoặc các đỉnh núi với cùng ý nghĩa gợi lên sự thiêng liêng của hành vi
sinh đẻ, của cuộc hôn phối âm dương thiêng liêng.
- Yoni : có nguyên nghĩa là sự nắm giữ (hold) hay người nắm giữ
(holder) bộ phận sinh dục của nữ hay Tử cung, được biểu hiện dưới nhiều hình
thức như đế hình vuông có rãnh; một hình ba cạnh lộn ngược, đỉnh quay xuống
dưới, ba cạnh là ba tính năng cơ bản của tự nhiên (tập trung, phân tán, lan rộng);
hình tượng hang động (cave), các loại bình, lọ; cái Nường (Lường), cái cối giã
Hera : Nữ Thần của hôn nhân, gia đình và làm mẹ.
Aphrodite : Nữ Thần của sắc đẹp và tình yêu, tượng trưng cho sự không
thể kìm hãm của sức sản sinh.
Artemis : Nữ Thần săn bắn, chủ trì sự ra đời và phát triển của sinh linh.
d, Các thần khác :
Aristaeus : Nữ Thần của gia súc, chăn nuôi.
Eileithyia : Nữ thần của sự sinh con
+ Trong thần thoại La Mã
8
Tiêu biểu nhất là hai nữ thần Venus, về sau được đồng hóa với nữ thần
Aphrodite, và nữ thần Diane, chủ trì việc sinh sản, tồn tại và phát triển của
muôn loài. Ngoài ra còn có nữ thần Déméter, Mẹ Đất vĩ đại.
+ Trong thần thoại Ấn Độ
Nữ thần Parvati (vợ của thần Shiva) là sự thể hiện cao cả nhất cho âm
lực và nghĩa vụ sinh đẻ thiêng liêng của cư dân Ấn Độ.
- Biểu tượng Bộ ngực (sein) : thể hiện rõ ràng cho bản nguyên nữ,
tượng trưng cho sự che chở và sự chừng mực. Gắn liền với khả năng sinh sản và
nuôi dưỡng, bộ ngực là nơi sinh ra nguồn Sữa như sự kết tinh cao nhất về tình
thương, sự dịu dàng cũng như sự tin cậy.
- Biểu tượng Ngón tay cái (thumb) : tượng trưng cho dương vật, quyền
lực tối thượng của dương tính.
- Biểu tượng Quả cam (orange) : thể hiện cho sự sinh sản, một số bộ tộc
còn lấy đó làm món quà để cầu hôn.
- Biểu tượng Bò cái (vache) hay Lợn nái (truie) : Ở Ai Cập, bò cái là
cội nguồn của vũ trụ hữu hình, mẹ của Mặt trời. Trong chức năng thể hiện cho
sự sinh đẻ, hình tượng bò cái Hathor được coi là điển hình trong thần thoại Ai
Cập. Nó vừa thể hiện cho sự phì nhiêu, sự giàu có, là bản chất của sự phục sinh,
của niềm vui. Ở vùng Lưỡng Hà, hình tượng Mẹ vĩ đại hay Bò cái vĩ đại cũng
được Jean Chevalier đánh giá như một nữ thần phồn thực. Ở người Đức cổ, con
bò cái dưỡng sinh tên là Audumla là bạn gái của Ymir, người khổng lồ đầu tiên;
hóa thân của thần Vishnu. Việc đi cày được coi là một hành động siêu lý cho
việc giải phóng nguồn năng lượng của Đất; do đó, ở Trung Hoa, đường cầy đầu
tiên phải do một cặp nam nữ thực hiện, đôi khi phải đi kèm với hành vi giao cấu.
Điều đó đảm bảo cho việc sinh sôi nảy nở của mầm sống và cây trồng, một sự
kết hợp thiêng liêng không chỉ của loài người mà cao hơn thế, là của những thế
lực thiên nhiên cai quản vạn vật
11
Hình 7 : Đi cày Hình 8 : Cái cày
- Biểu tượng cái Chày (pilon) : Hình dạng giống cơ quan sinh dục nam
đồng thời, nhịp lên xuống của cái chày được đồng nhất với trục sinh ra vạn vật,
chính vì lẽ đó mà trong văn hóa Ấn Độ, cái chày được đồng nhất với linga ở
nhiều phương diện.Hình 9 : Cái chày
1.2.2. Hành vi giao phối
12
Đây là một hình thức thờ tín ngưỡng phồn thực khá đặc biệt, phổ biến ở
khu vực Đông Nam Á. Không coi đó là một hành vi mang tính đời thường thì rõ
ràng đây là một cách tả chân để khắc họa tín ngưỡng phồn thực ở mức cao độ
nhất để có thể cảm nhận trực tiếp bằng giác quan, đơn cử là thị giác. Các hình
tượng trên các bức phù điêu, các bức tượng hay trên các sản phẩm đúc đồng ở
thời kỳ muộn, mà có thể lấy ví dụ là thạp đồng Đào Thịnh :
“Trên nắp thạp đồng tìm được ở Đào Thịnh (Yên Bái, niên đại 500 năm
- “Cái ấy” (es) là cái bể chứa bí mật, khó tiếp cận, gồm cái bẩm sinh
cũng như cái bị chèn ép, hoàn toàn thoát khỏi ý thức con người và chỉ nhận biết
gián tiếp qua giấc mơ, triệu chứng…
- Trái lại, “cái tôi” (ich) mặc dù cũng phần nào là không có ý thức, lại
bao gồm sự tiếp xúc có lý trí với thế giới bên ngoài và gồm các cơ chế phản vệ
để bảo vệ con người trước những kích thích có tính áp đảo. Không có “cái tôi”
(ich) thì cũng không có sự tự kiểm soát, và dĩ nhiên, sẽ không có văn minh.
- Cuối cùng, cái thứ ba là “cái siêu tôi” (überich), nó tương tự như lương
tâm, mặc dù một phần của cấp độ này cũng là không có ý thức. Ở đây, chủ yếu
xảy ra các xung đột nội tâm mà ngay cả những người khoẻ mạnh nhất, vững
vàng nhất về tâm lý cũng phải chịu đựng chúng.
2
Ngoài ra, vấn đề lý giải giấc mơ như một không gian chiều thứ năm,
không gian duy nhất mà vô thức và ý thức xây dựng riêng cho bản thân con
người một thế giới riêng biệt, phản chiếu và dự báo các vấn đề liên quan đến đời
sống xã hội mà căn cứ là chủ thuyết tâm linh cá nhân. Freud gọi đó là
Traumdeutung (ý nghĩa giấc mơ) một vấn đề đặt ra cho phân ngành giải mộng
và đoán mộng, rất có tác dụng trong nghiên cứu tâm bệnh học, đặc biệt là các
vấn đề Hysteria (một dạng bệnh tưởng) - vốn là đề tài mà Freud rất quan tâm.
Nhưng, vấn đề mà đặc biệt liên quan đến đề tài này chính là luận thuyết
của ông về libido (tính dục) trong vai trò như nguyên lý điều chỉnh hoạt động ý
thức và hoạt động hành vi. Freud coi đó như nền tảng để lý giải động cơ
(motive) cho mọi hành xử của con người, được quy chuẩn về một hình thái ý
thức nguyên sơ nhất, cơ bản nhất, ẩn sâu trong bản thân con người. Trong đời
sống, bằng cách này hay cách khác, hình thái này được bộc lộ ra theo nhiều
hướng, trở thành một trạng thái đa tuyến tính nhằm biểu hiện bản năng gốc
(basic instinct) của con người. Dù rằng, việc lấy tính dục làm cơ sở cho mọi luận
giải có thể coi là hơi khiên cưỡng, tuy vậy, Freud đã giải quyết được một vấn đề
2
Ngụy Hữu Tâm – Chân dung nhà tâm lý học : Sigmund Freud và học thuyết phân tâm, Tạp chí
cấu trúc, hoạt động được tạo ra, sử dụng nhằm khai thác tự nhiên để đưa con
người sang một vị thế mới, vượt xa con vật về mọi mặt, đồng thời có khả năng
15
tạo ra các mối quan hệ giữa người với người và xử lý chúng theo cách hợp lý
nhất. Một khi đã có khái niệm thi Sigmund Freud cũng hiểu chức năng của văn
hóa là tiết chế cái “tự nhiên“ bằng sự chèn ép, trấn áp theo những khuôn khổ
định sẵn được cộng đồng chấp nhận, song song với đó là tạo ra những phương
thức để biểu hiện cái “tự nhiên“ theo cách để dung hòa với xã hội. Tuy nhiên, do
quá đề cao sự thoát thai của cái “tự nhiên“ mà Freud đã nhìn nhận văn hóa có
phần sai lệch, vì vậy, trong nghiên cứu nói chung, việc sử dụng đồng thời những
lý thuyết của phân tâm học cổ điển do Freud tạo dựng cùng với những quan
điểm phân tâm học hiện đại do những học trò của ông khởi xướng như C.G.
Jung hay của E.Fromm là việc đúng đắn nhằm xây dựng một cái nhìn khoa học
chắc chắn và toàn diện nhất trong khả năng. Ngoài ra, với phương pháp tiếp cận
liên ngành, việc ứng dụng những luận điểm của ngành Nhân học tôn giáo
(religional anthropology), Tâm lý học tôn giáo (religional psychology), Biểu
tượng học (symbology), Mỹ học (aesthetics) được coi là một cách thức hữu hiệu
và có giá trị. Theo đó, tác giả tin rằng bước đầu có thể luận giải tín ngưỡng phồn
thực theo một phương pháp mới, đi sâu khai thác động cơ tâm lý chứ không phải
theo lối thể hiện tín ngưỡng này, vốn đã là đề tài nghiên cứu và khảo nghiệm của
nhiều học giả trong và ngoài nước. Dĩ nhiên, khi đề cập đến vấn đề ý thức, ta
không sa vào quan điểm siêu hình (métaphysique) hay chủ nghĩa duy tâm mà về
cơ bản, phải đi sâu vào nghiên cứu để tìm ra ý nghĩa của tín ngưỡng này theo
quan điểm biện chứng, có logique và có luận điểm rõ ràng. Chính vì lẽ đó, các
học thuyết của C.G. Jung, với một cách nhìn nhận có tính tương đối dễ chấp
nhận hơn, cũng như lối tư duy vấn đề của E.Fromm về tôn giáo đứng từ vị thế
những nhà phân tâm học kế tục sự nghiệp của Freud được coi là những căn cứ
mang đậm tính nhân văn và tính duy vật, đủ sức nặng khoa học để đứng vững
trên lập trường phân tâm học mà không xa rời lý thuyết vốn có của bộ môn khoa
học này. Theo nhận định chủ quan, do có những khác biệt nhất định trong tư duy
I. Luận giải tín ngưỡng phồn thực ở khía cạnh Biểu tượng
1. Lý luận chung
18
Phân tâm học cổ điển và phân tâm học hiện đại (hay tâm lý học phân tích,
theo cách gọi của Jung, do thời kỳ sau, ông mang những quan điểm trái ngược
với lý thuyết của Freud) đều quan tâm đến vấn đề Biểu tượng. Theo Freud, nội
dung mà ý thức cung cấp gợi ý cho vô thức được coi là Biểu tượng. Trong khi
đó, theo luận cứ của Jung, ông lại cho rằng những điều này không phải là Biểu
tượng theo đúng nghĩa của nó mà đơn thuần chỉ là những dấu hiệu (sign) hay
triệu chứng (symptom) được biểu hiện ra bề ngoài dưới hình thức này hay hình
thức khác. Để đạt được nguyên nghĩa của Biểu tượng, sự thể hiện đó phải vượt
quá tầm lĩnh hội, đồng nghĩa với việc, nếu chúng ta chỉ hiểu ở nghĩa đen thì
không thể vượt quá nó để tự thân tìm ra chân lý nền tảng. Do tính không nhất
thiết phải có một đặc tính rõ ràng để cấu thành Biểu tượng, nên có thể coi bất cứ
thứ gì cũng là Biểu tượng, ở dạng này hay dạng khác. Do đó, tín ngưỡng phồn
thực, theo lí lẽ kể trên, chắc hẳn cũng là một Biểu tượng chứ không chỉ thuần
nhất trong khái niệm tinh thần hình thức. Vấn đề đặt ra là chúng ta hiểu nó theo
góc độ nào. Mỗi cá nhân đều có sự luận giải cho riêng mình về ý nghĩa và giá trị
Biểu tượng, tùy thuộc vào nhận thức của bản thân xem xét nó theo quan điểm gì,
lấy gì làm hệ quy chiếu, lấy gì để so sánh, dựa theo tư duy nào để định hình.
Theo Cirlot, có thể chia Biểu tượng ra làm ba loại :
- Biểu tượng quy ước bao gồm những hằng số như các Biểu tượng trong
công nghiệp hay trong các khoa học tự nhiên đòi hỏi sự diễn giải dưới dạng
công thức có tính chất toán học.
- Biểu tượng ngẫu nhiên, do các tiếp xúc chuyển tiếp mà ra.
- Biểu tượng mang tính phổ biến (có thể phổ biến trong một cộng đồng,
một khu vực lãnh thổ, nhưng tựu chung là được sự chấp nhận của số đông), thể
hiện mối quan hệ nội tại giữa bản thân Biểu tượng và bất kỳ những gì mà Biểu
tượng tượng trưng.
Theo ý kiến chủ quan, ta có thể xếp tin ngưỡng phồn thực vào loại thứ ba,
sản được truyền lại theo con đường phát sinh loài, kế tiếp nhau qua con đường
duy trì ý thức từ thế hệ này sang thế hệ khác. Tuy nhiên, nếu hiểu theo nghĩa đó,
phải chăng tín ngưỡng phồn thực được sinh ra từ những ức chế tâm lý cần tìm
lối thoát ? Nếu như vậy, liệu qua các thế hệ, lối thoát ấy có là phù hợp hay phải
20
có những biến đổi thích hợp phụ thuộc vào hoàn cảnh, do không phải ức chế của
thời kỳ nào cũng giống thời kỳ nào, chưa kể đến các mức độ của ức chế tâm lý
nhằm đạt đến ngưỡng cần tìm biện pháp giải phóng ? Rõ ràng, nó không đơn
thuần chỉ dựa vào những ức chế mà kết cấu thành một dạng thức tín ngưỡng như
vậy. Hãy xem qua lý thuyết của Jung. Mẫu gốc hay siêu tượng là tập hợp
những biểu tượng ăn sâu trong vô thức dến mức đủ để tạo thành một mạng lưới
ký tích (theo cách gọi của Jung). Vậy là trong ý thức của con người, nó tự thân
trở thành những dạng tiền tạo (tức là được hình thành từ trước do những va
chạm tâm lý với môi trường khách quan), được phân loại theo các kiểu tâm lý (ở
tín ngưỡng phồn thực là tín ngưỡng muốn có sự sinh sôi nảy nở ..) được sắp xếp
theo các cấp độ. Ngoài ra, nó không chỉ tự đưa vào cấu trúc (structure) mà còn
mang vai trò định hướng một cách có mục đích, nghĩa là những tập hợp có khả
năng phô bày cảm xúc và gây xúc động được định hình khối, mang theo đó sự
năng động và sáng tạo của tư duy. Dĩ nhiên là trong khoảng thời gian kéo từ thời
kỳ nguyên thủy cho đến nay, đó vẫn là những kết cấu tâm thức được số đông
biết đến, chấp nhận, truyền bá; được biến thành một đặc tính bẩm sinh, có thể
thừa kế liên tiếp về mặt tâm lý, hay nói cách khác, nó biến thành một thứ ý thức
tập thể. Tín ngưỡng phồn thực bao quát đầy đủ những đặc điểm trên. Thêm vào
đó, mỗi một mẫu gốc đều có khả năng thúc đẩy cũng như góp phần vào sự phát
triển nhân cách, mà ở đây, ta gọi đó là nhân cách tôn giáo hay nhân cách tín
ngưỡng. Với ý kiến của Jung, chúng ta có mẫu gốc như một hình thức tái tạo
những ý tưởng giống hoặc có đặc điểm tương đồng ... hay một trạng thái cấu
trúc gắn bó mật thiết với tâm thần, thậm chí, về mặt sinh học, có liên hệ với não
bộ. Tuy vậy, đó chỉ là lý thuyết chung, còn thực tế, nó có thể thay đổi tùy theo
các thời đại (era), các tộc người, các cá nhân độc lập. Chúng trở thành một hệ
quy về biểu tượng. Hãy xem xét ý kiến của học giả Pierre Emmanuel, ta thấy
ngay được rằng, việc đưa tín ngưỡng phồn thực vào làm Biểu tượng là một điều
đúng đắn. Ông cho rằng, không chỉ có các vật định hình mà thậm chí cả các
khuynh hướng, một hình ảnh có tính ám ảnh, một giấc chiêm bao vụt đến còn
lưu lại trong ký ức, một hệ thuật ngữ chuyên môn (lingo system, système des
22
termes), một vài định đề nào đó có sự xác thực đều có thể trở thành biểu tượng.
Vấn đề ở chỗ là chúng có chứa đựng những năng lượng tinh thần (spiritual
energy) đủ để nâng nó lên mối quan hệ giữa một hình thái nắm bắt được (hay cái
chứa đựng) với cái không nắm bắt được (cái bị chứa đựng). Dù rằng, theo Freud,
ta lại có Biểu tượng diễn đạt gián tiếp niềm ham muốn hay xung đột (mà ít nhiều
là liên quan đến libido – cái mà Jung chỉ coi đó là một dạng xung năng), có mối
liên hệ bằng cách trong một hành vi hay hoạt động ý thức cụ thể, có sự che đậy,
lại có sự hiển lộ phần còn lại, thì đó là quan hệ mang tính biểu tượng. Không chỉ
có Freud, một số phân tâm học hiện đại vẫn coi cái được biểu trưng là vô thức
(hay tín ngưỡng phồn thực chính là một phần của vô thức theo chứng minh kể
trên). Đối với Jung, vô thức là lẽ dĩ nhiên, thì Biểu tượng còn chỉ ra cái bản chất
mà nhận thức con người còn mơ hồ về Tâm linh (tức là cả ý thức và vô thức) mà
con người không biết lấy ngôn ngữ nào đủ để diễn đạt cho thỏa đáng (nói cách
khác là ta không thể bao quát hết được). Nhưng khác với Freud cho rằng đó là
sự ngụy trang một dạng tinh thần thì Jung coi đó là sản phẩm của tự nhiên,
không nhất thiết phải có một sự kiểm duyệt tư duy rối tái hiện lại mà có thể chỉ
là triệu chứng xung đột được diễn giải mà thôi.
Nếu theo lý thuyết như vậy, chức năng của các hệ biểu tượng đối với tín
ngưỡng phồn thực là gì ?
Chúng ta có thể xác định ít nhất là 9 chức năng sau đây :
- Chức năng thăm dò : tức là sự nắm bắt ý nghĩa thật sự thông qua phép
liên tưởng.
- Chức năng thay thế : tức là sự chuyển đổi cách cảm nhận
- Chức năng trung gian : tức là tạo mối liên hệ từ vật chất hoặc hình
dẫn đến sai lệch hình thái tồn tại, đồng nghĩa với việc không tồn tại theo đúng
bản chất nó được đề ra. Logique là tập hợp cơ động nhiều mối liên hệ, nhưng
với các dạng thức tinh thần, logique của chúng chỉ biểu lộ với từng nhóm riêng
biệt, với từng cá thể, với từng giai đoạn tồn tại thì rõ ràng vấn đề sẽ trở nên khó
khăn trong định hướng hơn rất nhiều. Ta không đưa logique của tín ngưỡng
phồn thực ra làm một khái niệm để mổ xẻ, mà ta phải triển khai nó để đưa ra
một hình dung chân thực nhất về dạng thức mà nó tồn tại.
24
Ta có thể mô hình hóa một vài quan hệ như sau :
A : Tín ngưỡng phồn thực hoặc các hệ biểu tượng đi kèm nhằm diễn giải.
B, C : Các dạng thức khác có thể được hiểu.
a, A B
Điều này chỉ đúng khi lý trí và cảm tính có sự tương đồng (dù rất tương
đối) về sự chuyển tiếp ý nghĩa.
b, A B (C)
Tức là sự chuyển tiếp này có thể hiểu thành một dạng thức khác qua chức
năng biến đổi nhưng cuãng có thể trong sự biến đổi đó có ẩn giấu những cách
diễn giải khác (C) có thể mối liên hệ ngang hàng hoặc gần gũi hay có thể hiểu ra
chúng từ việc suy luận và phân tích (B).
c, A B
C
Tức là trong sự chuyển tiếp này có thể xảy ra sự xuất hiện đồng thời hai
kết quả đều đúng cho cùng một phép biện luận logique theo quan hệ ngang
hàng.
Dĩ nhiên là còn rất nhiều dạng thức logique khác tùy thuộc vào nhận
thức, nhưng nói chung, chúng đều không tuân theo tuyệt đối cái mà ta gọi là
logique thông thường. Vì nếu làm vậy, chẳng khác gì việc chúng ta tự đẩy mình
vào một sự quẩn quanh trong nhận thức cố gắng tìm ta một trật tự được lý tính
chấp nhận, được hợp thức hóa theo lối quy chuẩn hành vi.
Tiểu Kết