1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRỊNH NGỌC TRÂM JANE EYRE TỪ GÓC NHÌN PHÂN TÂM HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI
Hà Nội – 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRỊNH NGỌC TRÂM
Lịch sử vấn đề 9
3. Phạm vi nghiên cứu 13
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu: 16
5. Phương pháp nghiên cứu: 17
6. Cấu trúc luận văn: 17
CHƯƠNG 1. PHÂN TÂM HỌC NHƯ MỘT LÍ THUYẾT VĂN HỌC 18
1.1. Lược sử về phê bình phân tâm học 18
1.2. Phê bình phân tâm học với văn học 20
Tiểu kết 38
CHƯƠNG 2. CHARLOTTE BRONTË VÀ NHÂN VẬT JANE EYRE39
2.1. Từ những “dồn nén”, ẩn ức trong cuộc đời tác giả 39
2.2. Đến cuộc “chuyển dịch” sang nhân vật 42
2.2.1.
Người mẹ
43
2.2.3.
Những ngôi nhà
8
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Jane Eyre là cuốn tiểu thuyết của Charlotte Brontë (1816 –1855),
được nhà xuất bản Smith, Elder & Company of London in năm 1847 với
bút danh Currer Bell, là một trong những tiểu thuyết có ảnh hưởng sâu sắc
và nổi tiếng nhất của nền văn học Anh. Bên cạnh việc thể hiện một cách
tinh tế và sâu sắc câu chuyện về cuộc đời của Jane, tác phẩm vừa mang
tính chất tự thuật, vừa mang ước mơ thầm lặng của chính Charlotte
Brontë. Tác phẩm cũng mang đến niềm tin và hy vọng cho những cuộc
đời bất hạnh thông qua những tư tưởng tiến bộ về tôn giáo, về nữ quyền,
về quyền con người và đặc biệt trong đó là sự ấm áp của tình người.
Nhưng đóng góp quan trọng của tiểu thuyết thuyết này chính là sự kết hợp
một cách tinh tế giữa tiểu thuyết giáo dục với các dòng tiểu thuyết khác
như tiểu thuyết tâm lý, tiểu thuyết tiểu thuyết Gothic, thậm chí còn có
một số vấn đề liên quan đến đề tài luận văn.
Trong một cuộc Nghiên cứu đặc biệt về tác phẩm này (30 janvier
2009), nhà nghiên cứu Claire Bazin [30] đã lần theo những vang âm về
vấn đề nô lệ trong tác phẩm trước hết như là vấn đề đã được xác định qua
những sự khác nhau về chủng tộc và giới tính theo một sơ đồ về cuộc đấu
tranh đối với quyền lực trong xã hội thời Victoria. Trong khi đó Isabelle
Hervouet-Farrar lại nghiên cứu về xung năng chết ở nữ nhân vật trung
tâm. Nhà nghiên cứu đã nhận dạng hai trường đoạn cơ bản đã tạo ra tính
biểu hiện, đó là: căn phòng đỏ, mối nguy cơ về cái chết mà Jane đã từng
sống hồi nhỏ như đồng nghĩa với nguy cơ về sự đày hoả ngục vĩnh cửu và
việc Jane đến Moor House. Căn phòng này đã kết hợp hai màu đỏ và trắng
10
(như ở trường đoạn trước) đã đặt nhân vật vào một tình thế ẩn náu và thụ
động gợi lên nỗi ham muốn về sự ứ đọng mà theo Freud là đặc trưng về
xung năng chết, ở đây được coi như phạm vi của mối liên hệ với người
mẹ, bởi vì Moor House hơn bất cứ địa điểm nào khác, nơi mà Jane đã gặp
gỡ hai người phụ nữ khác là chị em nhà Rivers. Cũng tại đây, Jane đã
nhận ra những người nhà Reed không được giới thiệu với nàng trong gia
đình này.
Bóng tối và ánh sáng cũng đóng một vai trò quan trọng trong tác phẩm
này. Nhà nghiên cứu Élise Ouvrard đã đồng nhất lần lượt ba chiều trong
sự tương tác của hai yếu tố đối ngẫu này: sự phát triển dần về phía ánh
sáng được lí giải như sự tiến triển của Jane về hướng hạnh phúc và sự
hân hoan mang tính cá nhân, song cũng như yếu tố trung tâm của một cái
mã chú giải học, nhắm tới giải quyết một sự bí ẩn (đó là sự bí ẩn của
Thornfield Hall và sự tồn tại của Bertha) và cuối cùng, tiến về phía ánh
sáng là tiến tới việc biểu hiện cuộc kiếm tìm tinh thần và tôn giáo của
Jane. Trong ba chiều này, thì bóng tối và ánh sáng được quan niệm trong
mối quan hệ đối ngẫu biểu thị sự kiếm tìm và sự tiến triển của nữ nhân
bà. Ví dụ: “Charlotte Brontë từng bị đe dọa vì Jane Eyre”, trong đó kể về
việc nhà văn có thể viết lại một số phần trong cuốn tiểu thuyết để làm vừa
lòng ngài hiệu trưởng trường Lowood - ngôi trường được Bronte lấy làm
nguyên mẫu cho trại trẻ mồ côi trong tác phẩm. Ông hiệu trưởng đó đã
viết một bức thư, đe dọa sẽ kiện cô học sinh cũ vì tội vu khống và phỉ
báng ngôi trường. Bronte đã không bao giờ sửa lại bản gốc cuốn sách và
ngài hiệu trưởng cũng không khởi kiện. Bài “Rochester của Jane Eyre là
nhân vật lãng mạn nhất” cho thấy mặc dù không đẹp trai và luôn mang
gương mặt u buồn, nhà quý tộc Rochester trong cuốn tiểu thuyết của
12
Charlotte Brontë vẫn dẫn đầu trong những nhân vật văn học lãng mạn
nhất, cuộc bình chọn do Mills & Boon - NXB chuyên ấn hành các tác
phẩm lãng mạn - tổ chức. Rochester đã vượt qua những nhân vật không
kém phần hấp dẫn độc giả như Darcy (Kiêu hãnh và định kiến của Jane
Austen) và Heathcliff (Đồi gió hú của Emily Brontë). Ngoài ra, Phạm Mi
Ly còn cho biết đã xuất bản truyện ngắn L'Ingratitude (Sự vong ân) bằng
tiếng Pháp đã bị thất lạc gần 100 năm nay, đề ngày 16/3/1842, kể về một
chú chuột rời bỏ người cha của mình để tìm kiếm một cuộc phiêu lưu và
rồi đi đến kết cục bất hạnh. Sáng tác này bị thất lạc vào năm 1913. Tác
phẩm được nữ văn sĩ Anh viết tặng một gia sư tiếng Pháp, người bà đem
lòng yêu. Gần đây, Phạm Mi Ly trong một bài viết khác đã cho biết tiểu
thuyết mới có tiêu đề Jane của nhà văn April Lindner kể lại câu chuyện
kinh điển của Charlotte Bronte với những nhân vật thời hiện đại. Cha mẹ
mất, Jane Moore rơi vào cảnh túng quẫn. Cô phải thôi học đại học, nhận
làm cô trông trẻ cho bé Maddy 5 tuổi, con gái của ngôi sao nhạc rock Nico
Rathburn. Nico có tình cảm với Jane, cô gái trẻ trung, độc lập. Anh cảm
thấy ở cô sự chân thành và tươi mới, không giống như những con người
chỉ biết răm rắp nghe lời xung quanh anh. Tình cảm giữa hai người trở nên
mãnh liệt khi Jane cứu Nico thoát khỏi một vụ nổ đáng ngờ. Sau khi Jane
đến nỗi chẳng ai nghĩ đến chuyện đi ra ngoài. Tôi chẳng bao giờ đi
đâu xa, nên cảm thấy thích thú vào những buổi chiều se lạnh như thế
này. Thật ngao ngán khi trở về nhà trong bầu không khí âm u buồn tẻ
như thế, với các ngón chân tay lạnh cóng, với lòng chán nản vì phải
bị chị vú Bessie la mắng. Ngoài ra, tôi lại thường có mặc cảm thua
sút đối với John Reed và mấy đứa em gái của nó là Eliza và
Georgiana”.
14
Một “bản dịch khác” không thấy tên người dịch :
http://www.luongsonbac.com/forum/lstq.php/archive/lstq.php?do=doctruy
en&t=134328347&page=1&ipp=10:
2. “Chương 1. Cô bé khốn khổ
Tôi không bao giờ thích dạo chơi lâu. Vì tôi luôn luôn thấy khổ mỗi
khi trở về lúc trời đã tối. Khổ vì bị Bessie, chị trông trẻ, mắng mỏ,
chị đâu có hiểu là chân tay tôi bị băng giá làm cho đau buốt. Tôi còn
cảm thấy xấu hổ trước mặt Eliza, John và Georgiana Reed, chúng
không bao giờ than phiền, và tôi thật thèm muốn được dai sức và
khỏe mạnh như chúng”.
Bản dịch của Vũ Thu Hà, Nguyễn Thị Hợp, Bùi Liên Thảo (Nxb. Văn hoá
thông tin):
3. “Hôm đó quả thực không phải là ngày để đi dạo nhưng buổi sáng
hôm đó chúng tôi cùng nhau rảo bước bên những bụi cây đã trơ trọi hết
lá hơn một tiếng đồng hồ. Nhưng kể từ khi kết thúc bữa ăn tối, những
cơn gió lạnh mùa đông bắt đầu gào thét, trời xầm xì xám xịt và mưa bắt
đầu tuôn xối xả thì dù có thích đi mấy chăng nữa cũng không thể có
một hoạt động ngoài trời nào như thế”.
Bản dịch Nguyễn Tuyên:
feuillages ; mais, depuis le dîner (quand il n’y avait personne, Mme
Reed dînait de bonne heure), le vent glacé d’hiver avait amené avec
lui des nuages si sombres et une pluie si pénétrante, qu’on ne pouvait
songer à aucune excursion”.
Các bản dịch 1 và 2 khiến chúng tôi băn khoăn không rõ có một cuốn
Jane Eyre nào khác hay không? Hai bản dịch trên mạng này hoàn toàn
16
khác về nội dung với các bản 4, 5, 6 và 7. Bản dịch 3, kéo câu dài không
chấm như nguyên bản và tước bỏ đoạn trong ngoặc đơn.
Tìm hiểu trên mạng về cuốn tiểu thuyết Jane Eyre thì hầu hết nguyên
bản tiếng Anh đều thống nhất như cuốn mà chúng tôi đang có của nhà xuất
bản Wordsworth Classics, 1999. Người hướng dẫn giúp chúng tôi hiểu nghĩa
của bản dịch sang tiếng Pháp trên mạng thì thấy khá trung thành với bản
tiếng Anh.
Qua so sánh chúng tôi nhận thấy bản dịch của Trần Anh Kim là trung
thực và hay nhất so với nguyên bản tiếng Anh và bản tiếng Pháp. Bên
cạnh đó là sự mềm mại, uyển chuyển của cách dùng từ, ngữ pháp.
So sánh như trên để : một, chúng tôi có cơ sở để tin tưởng và sử dụng
văn bản nào cho luận văn; hai, cũng là dịp tìm hiểu thêm về cách dịch và
ba, cuối cùng, thêm một lần thấy rằng các trang mạng chỉ nên tham khảo
hơn là sử dụng trong công việc nghiên cứu khoa học.
Luận văn sẽ sử dụng bản dịch của Trần Anh Kim của lần tái bản gần
đây nhất, năm 2011[4]. Bên cạnh đó, trong luận văn, khi cần thiết, chúng
tôi có tham khảo thêm nguyên tác tiếng Anh: Charlotte Brontë, Jane Eyre,
Wordsworth Classics, Dr Sally Minogue như chú thích trên để phân tích
hoặc đối chiếu.
Từ cơ sở lí thuyết phân tâm học, luận văn tập trung làm rõ những yếu
tố phân tâm học trong tác phẩm Jane Eyre.
18
CHƯƠNG 1. PHÂN TÂM HỌC NHƯ MỘT LÍ THUYẾT VĂN HỌC
1.1. Lược sử về phê bình phân tâm học
Phê bình phân tâm học là một trường phái nghiên cứu văn học rất phát
triển ở phương Tây đầu thế kỷ XX. Chúng ta đều biết nguồn gốc của phân
tâm học không phải xuất phát từ các lí thuyết văn học mà là từ ngành tâm
lí, tâm bệnh học của bác sĩ người Áo S.Freud. Những phát hiện về tính
dục và mặc cảm Oedipe của Freud đã thu hút được sự chú ý của nhiều nhà
nghiên cứu nhân văn lúc bấy giờ. Lí thuyết về cổ mẫu (archétype) của
K.Jung như là yếu tố cốt yếu của tâm lí học các chiều sâu, nền tảng của vô
thức tập thể đã thực sự đã tạo nên sự chú ý trong phê bình văn học. Từ nền
tảng lí thuyết của hai nhà bác học này, phân tâm học đã phát triển thành
rất nhiều hướng nghiên cứu khác nhau trong phê bình văn học: nghiên cứu
văn hóa với tâm bệnh học tộc người (G.Devereux), phân tâm học và Thiền
(E.Fromm), phân tâm học và folklore (V.Dundes), nghiên cứu chủ đề
(Ch.Mauron, G.Bachelard), nghiên cứu tác giả, tác phẩm (M.Bonapart,
J.Delay, J.Bellemin-Noel), người đọc (N.Holland). Phê bình phân tâm học
như một sự cộng sinh giữa trường phái cấu trúc - kí hiệu học Pháp. Người
khai sinh ra nó là J.Lacan với nhận định nổi tiếng: “Vô thức được cấu trúc
như một ngôn ngữ”.
Phê bình phân tâm học đã được nói đến nhiều ở ta. Nhiều công trình
dịch thuật, phê bình đã xuất hiện rải rác trong khoảng trên dưới 20 năm trở
lại đây. Nhưng trước đây khá lâu, vào những năm 30 của thế kỉ XX, các nhà
phê bình và cả sáng tác đã ít nhiều vận dụng lí thuyết này vào công việc của
họ. Có thể kể Vũ Trọng Phụng với các tác phẩm Làm đĩ, Giông tố, Số đỏ,
còn trong phê bình là Trương Tửu với Cái ám ảnh của Hồ Xuân Hương
20
(inhibited), qui kỷ (egocentric), đa cảm (hyperémotivité) v.v đều xuất
sinh từ ý thức tự ngã, những ấn tượng, tri giác, ký ức, cảm xúc đã qua và
bị dồn nén vào vô thức tạo thành những xung năng (pulsion) gây nên trạng
thái bất bình, bất an, bực tức, căng thẳng cho dòng chảy của tâm lí. Mặc
dù Jung phê bình Freud, như vừa đề cập ở trên, nhưng chúng ta thấy lí
thuyết của Jung nhằm vào các hiện tượng tâm lí nhiều hơn là bản chất của
tâm lí như ở tâm lí học Freud. Tuy nhiên, lí thuyết của cả Freud và Jung
đều đặt ra những nguyên tắc quan trọng trong lịch sử tâm lý học hiện đại.
1.2. Phê bình phân tâm học với văn học
Thế kỉ XX có thể coi là thế kỉ của phê bình văn học, nhiều lí thuyết
phê bình văn học đã ra đời: Trường phái hình thức Nga; Chủ nghĩa cấu
trúc; Phê bình Mới; Phê bình ý thức; Phê bình hiện sinh chủ nghĩa; Phê
bình huyền thoại;Thi pháp;… trong đó có Phê bình phân tâm học.
Phê bình phân tâm học đã có một vị trí quan trọng trong nghiên cứu văn
học. Trong một bài viết rất hay “Phân tâm học trong nghiên cứu văn học”
của Evelyne Grossman do Nguyễn Thị Từ Huy dịch trên trang Web Lý luận
văn học [31] mà chúng tôi lược thuật những điểm cốt yếu dưới đây đã khơi
gợi nhiều ý kiến quý báu cho sự triên khai luận văn của chúng tôi.
Theo Evelyne Grossman, diễn giải theo hướng phân tâm học được
thực hiện theo hai cách hoặc là tiến hành phân tâm tác giả (phân tâm tiểu
sử, phân tâm-phê bình); hoặc là tiến hành phân tâm nhân vật, khi đó ít
nhiều người ta xem nhân vật như là những con người thực; hoặc là hình
dung rằng sẽ có một “vô thức của văn bản” thuộc về tác phẩm.
Tiếp theo, Evelyne Grossman đã nói đến “Sự hiểu biết tâm lý nội tại”
trong quan niệm của Freud: nhà văn, nhà thơ có “thiên nhãn”, anh ta sở
hữu một con đường trực tiếp dẫn tới vô thức, nhưng lại không nhận biết
21
Gerard Genette đã phân tích tác phẩm của Mauron trong cuốn Figure
I, chương “Psycholecture” [đọc theo lối phân tích tâm lý]. Ông nhận thấy
Mauron nghiên cứu về các ẩn dụ ám ảnh và các diễn giải của ông rất
phong phú. Genette kết luận: “Phê bình tâm lý đặt ra cho văn học những
câu hỏi tuyệt vời, nó cũng tìm thấy ở văn học những câu trả lời tuyệt vời,
chúng càng làm cho thái độ của chúng ta đối với tác phẩm trở nên giàu có
đa dạng hơn ; phê bình tâm lý chẳng được gì mà phải giấu (hay tự giấu
mình) vì thông thường phần hiển nhiên nhất của câu trả lời đã nằm sẵn
trong câu hỏi rồi”[12].
E.Grossman đã nhắc tới Didier Anzieu [10], người đã nghiên cứu rất
nhiều về vấn đề sự hình thành của công việc sáng tạo của các nhà văn.
Ông cho rằng trong quá trình sáng tạo có một cái gì đó gần gũi với chứng
loạn tâm thần, sự khác biệt là ở chỗ: sáng tạo là một chứng loạn tâm thần
thành công, nếu có thể nói như vậy.
Bài viết của E.Grossman còn dài, nhưng luận văn chỉ tóm lược một số
gợi ý quan trọng trên đây cho luận văn của chúng tôi.
Tiếp theo đây, luận văn được sự giúp đỡ của người hướng dẫn, sẽ tiếp
tục lược thuật về quá trình hình thành và phát triển của phương pháp phê
bình này.
Jean-Yves Tadié bắt đầu công trình bằng: “Phê bình tưởng tượng,
nếu không muốn lang thang ở nơi trống rỗng, thì phải gặp phê bình
phân tâm học. Bachelard sử dụng từ ngữ, nhưng để chuyển hướng ý
nghĩa của nó (…). Jean-Pierre Richard, sau khi đã khước từ không
chuyển các cảm giác cho sự vật khác ngoài ý thức, đã sử dụng trong các
công trình của ông Proust và thế giới cảm xúc và Vi đọc, những khái
niệm thuộc về phân tâm học bắt chúng phụ thuộc, mà không sáp nhập
chúng vào một hệ thống” [23].
23
Về lịch sử phê bình phân tâm học đã được ứng dụng vào phân tích văn
dựng nên tác phẩm của anh ta” hay nói cách khác, từ văn bản đến tiểu sử,
từ nhân vật đến nhà văn. Freud đã tập hợp một số bài viết của ông vào
công trình Tiểu luận về phân tâm học ứng dụng dẫn tới việc tự hỏi liệu phê
bình phân tâm học có thuật lại được các phương diện khác của tác phẩm
hay không. Trong “Sự sáng tạo văn học và giấc mơ thức tỉnh” (1908) ông
đã đặt ra vấn đề về nguồn gốc của các đề tài, sự xúc động mà chúng khơi
dậy trong chúng ta. Các nhân vật trung tâm đã hiện thân cho các dòng đời
sống tâm lí khác nhau của nhà tiểu thuyết, và nếu, trong các tiểu thuyết
khác nhau, nhân vật trung tâm chỉ là một nhân chứng thì nó cũng hiện
thân như thế trong một vài giấc mơ khác. Freud đã đề xuất việc đồng nhất
sáng tạo văn học với giấc mơ thức tỉnh, trở lại với những mối quan hệ
giữa cuộc sống với tác phẩm. “Một biến cố dữ dội và hiện tại làm thức dậy
ở người sáng tạo kỉ niệm của một biến cố cũ xưa, thường xuyên nhất là
biến cố thủa thiếu thời; từ biến cố sơ khai đó đã phái sinh ham muốn tìm
thấy được tự thực hiện trong tác phẩm văn học; ta có thể nhận ra trong
chính tác phẩm những yếu tố về ấn tượng hiện thời cũng như kỉ niệm xưa
cũ”. Tác phẩm là một “sự thay thế của trò chơi con trẻ ngày xưa”. Một
giấc mơ của đứa trẻ, cũng có thể thực như của huyền thoại, “ham muốn
của toàn thể các dân tộc”, “các giấc mơ ngàn đời của tuổi xuân nhân loại”.
Bài viết này đã đề xuất một sự nghiên cứu về hình thức tác phẩm, trong
các mối quan hệ giữa nhân vật, kí ức của chúng, cuộc đời của các ham
muốn của chúng, mối quan hệ với thời gian của chúng, trò chơi về phong
cách. Nếu như ta chưa hỏi được tác giả, ta sẽ tìm thấy cái mạng lưới
những ám ảnh, các kỉ niệm trẻ thơ của anh ta, và qua tất cả những điều đó,
những mặt nạ của anh ta lần lượt được nhấc lên.
25
Charles Baudouin, nghiên cứu Jacques Riviere về Proust và Freud.
Trong Một vài tiến bộ trong nghiên cứu trái tim con người ông đã áp dụng
phân tâm học vào phân tích văn học. Các tác phẩm: Phân tâm học và nghệ
chịu đựng tính hai mặt về nhân cách, về thần kinh, đôi khi về sự sa sút của
trí tuệ. Cũng như Freud, phân tâm học cho phép Baudouin hiểu và giảm
bớt được một vài khó khăn của ý nghĩa các các văn bản. Nhưng chủ nghĩa
tự mê đã hợp nhất người nghệ sĩ với sự hướng ngã (introversion). Nó được
gắn với thị hiếu về sự phô trương, với “phức cảm gây ấn tượng”: Tolstoï
hoặc còn có ở Rousseau nữa. Trưng ra hoặc giấu đi là thông qua sự kìm
nén, như nhìn thấy và biết mà Freud đã phân tích thấy ở Léonard de Vinci.
Baudouin phân tích cái “Ý thức” của Hugo trong Truyền kì các thế kỉ.
Nghiên cứu bài thơ đặc biệt này được dựa trên việc nghiên cứu các biểu
tượng trong toàn bộ các tác phẩm của Hugo, bởi vì “tác phẩm của một
nghệ sĩ cần phải được nhìn nhận qua việc phân tích như một cơ thể sống,
mà ở đó mỗi một phần đều chuyển biến theo cái toàn thể và chỉ được hiểu
rõ bởi chính nó. Phân tích chiều sâu của một bài thơ không phải không
phân tích toàn bộ tác phẩm của nhà thơ”. Phương pháp bao gồm việc phân
tích “chùm ý tưởng”. Nếu đề tài của bài thơ là huynh đệ tương tàn, thì nó
tương ứng với một “phức cảm quan trọng của Hugo”, trong việc cạnh
tranh vào những năm đầu đời của nhà thơ với các anh, chị em của ông. Sự
cạnh tranh này, sau đó được kìm nén, đã để lại “những dấu vết vô thức sâu
xa”. Những con quái vật, quái thai trong tác phẩm của Hugo (Han
d’Islande, Quasimodo) phản ánh tuổi thơ dị dạng mà ông đã sợ bị như thế;
ghen ghét đối với các anh em trai đã có ở trong nhiều bài thơ của ông, nơi
tình cảm về tội lỗi trong “ý thức” được gắn với hai motif quan trọng: sự
truy đuổi và con mắt.
27
1. Sự truy đuổi: được thấy trong nhiều bài thơ Hình đại bàng trên mũ,
Ông vua tí hon ở Galice, Huynh đệ tương tàn. Sự trốn chạy của
Caïn đã lí giải “sự trốn chạy trước người cha” và sự “tự-trừng phạt
vô thức”.
2. Con mắt: có tầm quan trọng trong hệ đề tài về cái nhìn ở Hugo;
huyền thoại gốc, “hình ảnh thuần phác, hình ảnh của một Persée giết rồng
để cứu Andromède”; mỗi sự diễn lại sự “cao thượng” từ kịch bản này,
chúng ta đều không nhận ra được sự vô thức của người nghệ sĩ.
Charles Mauron dường như tiếp tục công việc của Baudouin mà ông đã
dẫn ra trong công trình của ông Phân tâm học của Mallarmé. Trước ông
đã có những công trình danh tiếng: Edgar Poe, nghiên cứu về phân tâm
học (1933) của Marie Bonaparte và Sự thất bài của Baudelaire của
Laforgue (1931). Đề tài đã đặt dấu chấm quan trọng trong phương pháp
của ông: Từ những ẩn dụ ám ảnh đến huyền thoại cá nhân, nhập môn phê
bình phân tâm học (Baudelaire, Nerval, Mallarmé, Valéry, Corneille,
Molière), 1963. Tiếp theo đó là những ứng dụng: Phê bình phân tâm học
thể loại hài kịch (1964), Baudelaire cuối cùng (1964), Các nhân vật của
Hugo trong V.Hugo, Tác phẩm, II, Phèdre (1968), Kịch của Giraudoux
(1971). Trong Nhập môn phân tâm học Mallarmé (1950) ông đặt ra như
một nguyên lí tầm quan trọng của một sự kiện mà cho đến đó ông vẫn
chưa để ý: khi Mallarmé 15 tuổi, thì ông đã mồ côi mẹ từ 5 tuổi, mất em
gái 13 tuổi. Biến cố đó dẫn tới một sự giải thích về cuộc đời và về tác
phẩm của nhà thơ. Cần phải quay trở lại với phân tâm học. Từ một phía,
đó là chấn thương tâm thần, từ phía khác, đó là “một mạng lưới các hình
ảnh bền vững (…) được nhắc lại từ bài thơ này qua bài thơ khác”. Mạng
lưới các tập hợp (mái tóc, ngọn lửa, hoàng hôn, chiến thắng của tình yêu,