ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
VĂN THỊ PHƯƠNG TRANG
TIỂU THUYẾT VIỆT NAM THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI
TỪ GÓC NHÌN PHÂN TÂM HỌC
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
VĂN HỌC VIỆT NAM
HUẾ, 2016
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ
VĂN THỊ PHƯƠNG TRANG
TIỂU THUYẾT VIỆT NAM THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI
TỪ GÓC NHÌN PHÂN TÂM HỌC
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 62 22 01 21
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Hồ Thế Hà
HUẾ, 2016
3. Cơ sở lý thuyết .......................................................................................................2
4. Phương pháp nghiên cứu ......................................................................................2
5. Đóng góp khoa học của luận án ...........................................................................3
6. Cấu trúc luận án ....................................................................................................4
B. NỘI DUNG ............................................................................................................5
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TIỂU THUYẾT
VIỆT NAM THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI .......................................................5
TỪ GÓC NHÌN PHÂN TÂM HỌC.........................................................................5
1.1. Các khuynh hướng phê bình văn học trên thế giới từ góc nhìn phân tâm
học ...............................................................................................................................5
1.1.1. Phê bình phân tâm học tiểu sử ..........................................................................5
1.1.2. Phê bình phân tâm học văn bản ........................................................................7
1.1.3. Phê bình phân tâm học người đọc ....................................................................9
1.2 Tình hình nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam từ góc nhìn phân tâm học ......12
1.2.1. Tình hình nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới (1986 -2000) từ
góc nhìn phân tâm học ..............................................................................................13
1.2.2. Tình hình nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam thập niên đầu thế kỷ XXI từ góc
nhìn phân tâm học .....................................................................................................18
1.3. Nhận xét tình hình nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam từ góc nhìn phân tâm
học và hướng triển khai của luận án .....................................................................23
1.3.1. Nhận xét tình hình nghiên cứu ........................................................................23
1.3.2. Hướng triển khai của luận án .........................................................................24
CHƯƠNG 2. PHÂN TÂM HỌC VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG PHÂN TÂM HỌC
TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI ........26
2. 1. Một số lý thuyết căn nền của phân tâm học .................................................26
2.1.1. Lý thuyết về tâm thần bộ .................................................................................26
2.1.2. Lý thuyết về tính dục và phức cảm ..................................................................35
2.1.3. Lý thuyết cổ mẫu và phân tâm học về lửa. ......................................................40
2.2. Quan niệm của phân tâm học về sáng tạo văn học .......................................46
4.3. Ngôn ngữ .........................................................................................................128
4.3.1. Ngôn ngữ nhuốm màu sắc dục tính ...............................................................129
4.3.2. Ngôn ngữ giàu sắc thái biểu cảm ..................................................................133
C. KẾT LUẬN .......................................................................................................140
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 144
1
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đã từ lâu, trên thế giới và ngay cả ở Việt Nam, phân tâm học không còn là
một mảng mờ, theo hàm nghĩa chứa đựng những ẩn thức bất khả lí giải trước cái
nhìn dè dặt của giới nghiên cứu. Cuộc sống càng mở ra nhiều góc nhìn đa diện,
nhiều chiều vào tâm thức con người, thì phân tâm học càng có cơ hội cung cấp cho
con người cách kiến giải của cuộc hành trình đi - đến, yêu - ghét, sống - chết trong
“cõi nhân gian bé tí” (chữ dùng của Nguyễn Khải) mà cũng rất đỗi bao la này. Như
những vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người, cả văn học và phân tâm học
đều tìm được sự giao nhau ở đối tượng phản ánh. Việc vận dụng lý thuyết phân tâm
học soi chiếu vào tác phẩm văn học là cần thiết để góp một hướng nhìn toàn diện,
sâu sắc hơn về con người và cuộc sống.
Từ phân tâm học, vấn đề trong tác phẩm văn học được soi chiếu ở góc nhìn rất
con người, với những ước mơ thầm kín như dồn nén, phút chốc chợt vỡ ra. Người
đọc bắt gặp điều vốn không dám thổ lộ, như một miền ẩn ức và trong khoảnh khắc,
họ lại khát khao bộc lộ cả điều không thể. Con người tìm trong văn học một cảm
giác thỏa mãn khi trái tim người nghệ sĩ thực sự chạm vào sâu thẳm tâm hồn người
đọc. Trong cõi mờ xa xăm ấy, phân tâm học có lúc đã chỉ ra được con đường dẫn
con người về với bản ngã trong vô thức và tưởng tượng. Hóa ra, cái giây phút người
nghệ sĩ thăng hoa nhất để làm nên tuyệt tác có khi cũng chỉ là những chơi vơi không
- Phạm vi nghiên cứu của luận án được giới hạn ở việc tìm hiểu biểu hiện của
phân tâm học qua hai bình diện nội dung tư tưởng và phương thức nghệ thuật; đồng
thời làm rõ được ý nghĩa của những phương diện nghệ thuật ấy.
3. Cơ sở lý thuyết
- Lý thuyết phân tâm học gồm nhiều vấn đề. Trong luận án này, chúng tôi chủ
yếu sử dụng học thuyết của Freud (lý thuyết về tâm thần bộ, thuyết tính dục và mặc
cảm), lý thuyết cổ mẫu của Jung, phân tâm học về lửa của Bachelard… Từ đó, soi
chiếu vào một số hiện tượng tiêu biểu của tiểu thuyết Việt Nam thập niên đầu thế kỷ
XXI từ hai phương diện nội dung và phương thức nghệ thuật để thấy được những
đóng góp và sáng tạo của các nhà tiểu thuyết giai đoạn này.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Với phương pháp nghiên cứu này, nền
tảng và điểm xuất phát của quá trình nghiên cứu là tri thức lý luận gồm các quan
3
điểm, các học thuyết. Ở đây, người viết tiến hành nghiên cứu, hệ thống hóa, vận
dụng phân tâm học làm lý thuyết căn nền cho luận án.
- Phương pháp phân loại: sử dụng phương pháp này, người viết tiến hành
phân loại, khu biệt các biểu hiện đặc thù về các kiểu nhân vật trong tiểu thuyết Việt
Nam thập niên đầu thế kỷ XXI từ góc nhìn phân tâm học. Đồng thời, cũng bằng
phương pháp nghiên cứu này, người viết phân loại các kiểu phương thức thể hiện
được sử dụng trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại từ góc nhìn phân tâm học như
các loại biểu tượng, các kiểu không gian - thời gian, các đặc điểm về ngôn ngữ...
- Phương pháp cấu trúc, hệ thống: sử dụng phương pháp này, người viết sắp
xếp, xây dựng cấu trúc luận án một cách hợp lý, có hệ thống trên cả hai phương
diện nội dung và phương thức nghệ thuật.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: trong quá trình triển khai luận án, người
viết tiến hành so sánh các tác phẩm của các nhà văn để tìm các nét gặp gỡ tương
kỷ XXI từ góc nhìn phân tâm học
5
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TIỂU THUYẾT
VIỆT NAM THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI TỪ GÓC NHÌN
PHÂN TÂM HỌC
1.1. Các khuynh hướng phê bình văn học trên thế giới từ góc nhìn phân
tâm học
Ở phương Tây, nghiên cứu văn học cho đến hôm nay đã trải qua ba hệ hình tư
duy: tiền hiện đại, hiện đại và hậu hiện đại. Trước ảnh hưởng của những thành tựu
triết học, ngôn ngữ học và phân tâm học, mỗi hệ hình tư duy của khoa học nghiên
cứu văn học đều bộc lộ những khả năng và hạn chế nhất định. Mối quan hệ giữa lí
thuyết phân tâm học và nghiên cứu văn học đã mở ra những phương pháp nghiên
cứu mới, tập trung sự chú ý tới ba yếu tố cơ bản là tác giả, văn bản và người đọc.
Elizabeth Wright trong công trình Phê bình phân tâm học hiện đại (1982) đã nói
đến ba khuynh hướng phê bình phân tâm học. Đó là phê bình phân tâm học tiểu sử,
phê bình phân tâm học văn bản và phê bình phân tâm học người đọc. Trước khi giới
thiệu tổng quan tình hình nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam thập niên đầu thế kỷ
XXI từ góc nhìn phân tâm học và hướng triển khai đề tài nghiên cứu theo phân tâm
học, chúng tôi có cái nhìn khái lược về ba khuynh hướng phê bình văn học đó.
1.1.1. Phê bình phân tâm học tiểu sử
Chúng ta biết rằng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là thời kỳ hình thành tư
duy khoa học tiền hiện đại ở phương Tây. Đây là lúc người ta nhận ra rằng, ý nghĩa,
bản chất của văn học không phải tự nó nói lên, mà để nhận biết chúng, cần phải tiếp
cận một cách trung thành mọi hoạt động của tác giả trong đời sống hằng ngày liên
quan đến văn bản văn học. Chủ nghĩa thực chứng của H.Taine ra đời trong bối cảnh
đó. Nghiên cứu văn học tiền hiện đại trực tiếp gắn nghĩa của tác phẩm với người đã
qua tên các bài viết của Freud cũng đã toát lên tinh thần đó của ông: Lời nói tế nhị
và quan hệ của nó với vô thức (1905), Hoang tưởng và giấc mơ trong truyện
Gradiva của Jensen (1906), Sáng tạo văn học và giấc mơ khi tỉnh (1908), Kỉ niệm
tuổi thơ của Léonard de Vinci (1910)…
Bằng những khởi đầu của Freud, phê bình phân tâm học tiểu sử đã trở thành
một khuynh hướng với những tên tuổi như Charles Mauron, Jean Delay, René
Laforgue, Marie Bonafarte… Các nhà phê bình văn học này dựa trên căn nền lý
7
thuyết phân tâm học của Freud đã lưu ý người đọc phải có hiểu biết về tâm lý của
các nhà văn thì mới hiểu được quá trình sáng tác của họ. Cần phải hiểu đời sống
tinh thần của nhà văn, kể cả những ham muốn thì người đọc mới hiểu được các ẩn
dụ và biểu tượng trong tác phẩm văn học. Muốn làm được như vậy, nhà nghiên cứu
phê bình văn học cần phải bám sát các dữ liệu đời tư của từng nhà văn, kể cả quá
khứ của anh ta, xem những ẩn dụ ám ảnh là nơi con người vô thức của nhà văn thể
hiện. Công trình viết về Edgar Poe (1933) của M. Bonafarte để lại dấu ấn quan
trọng, tiêu biểu cho phương pháp phê bình phân tâm học tiểu sử. Điểm nổi bật ở
công trình này là Bonafarte đã tìm cách soi sáng chứng loạn tâm thần ở Poe và sự
chuyển dời vô thức nơi ông qua việc nhà văn này bị ám ảnh bởi hình ảnh người mẹ
chết khi còn quá trẻ. Còn J. Delay thì lại coi trọng vai trò của những năm đầu đời
đối với mỗi nhà văn, nhất là tính di truyền trong gia đình, vì tất cả những gì đã xảy
ra đó đều ảnh hưởng sâu sắc đến tư duy sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sỹ.
Tuy nhiên, những thể nghiệm của M. Bonafarte, Charles Mauron, Jean Delay,
René Laforgue và các nhà phê bình phân tâm học tiểu sử khác đã không tránh khỏi
những hạn chế. Phương pháp xếp chồng văn bản của C. Mauron đã khám phá huyền
thoại cá nhân nhà văn không phải thích hợp để nghiên cứu mọi thể loại văn học,
nhất là đối với kịch, do tính chất biểu diễn sân khấu đặc thù của nó. Với nền tảng lý
thuyết phân tâm học của Freud, trong tinh thần thực chứng của tư duy nghiên cứu
hướng ngoại. Tuỳ theo đó, mà người thì thích sống lặng lẽ, cô độc, kẻ thì sống
quảng giao, vui vẻ. Như vậy, trong khi Freud dùng văn học để diễn giải lý thuyết về
phân tâm học thì Jung lại dùng chính các tri thức phân tâm học để soi sáng cơ chế
sáng tạo văn học. Và phê bình siêu mẫu của Jung đã mở ra những khả năng mới cho
khoa học văn học, ảnh hưởng đến nhiều nhà phê bình văn học sau này.
Một đại diện khác của phê bình phân tâm học văn bản là Gaston Bachelard,
người đã vận dụng các lý thuyết phân tâm học theo hướng thuần tuý vô thức, khơi
nguồn từ các trạng thái vật chất như nước, lửa, không khí, đất… Các yếu tố này tồn
tại trong vô thức tập thể với tư cách là siêu mẫu. Theo Bachelard, những tiếp xúc
đầu đời của con người với ngoại giới, với thế giới vật chất sẽ để lại dấu ấn trong thế
giới vô thức như là những siêu mẫu và ảnh hưởng đến quá trình sáng tạo của người
nghệ sĩ. Các công trình Phân tâm học về lửa (1938), Nước và những giấc mơ
(1938), Không khí và những giấc mơ (1943)… của Bachelard đã cho thấy hướng
9
nghiên cứu của ông chịu ảnh hưởng từ Jung nhưng được phát triển hơn trong tinh
thần phân tâm học vật chất.
Một người Pháp nữa không thể không nói đến ở đây là Jacques Lacan (1901 –
1981), người đã diễn giải lại học thuyết Freud trong ánh sáng của cấu trúc và cấu
trúc luận. Theo Elizabeth Wright, Lacan đã không quan tâm đến việc vô thức bản
năng đi trước ngôn ngữ. Ông không chỉ khẳng định vô thức cũng được cấu trúc như
là một ngôn ngữ mà còn nhấn mạnh rằng vô thức cũng là sản phẩm của ngôn ngữ.
Nếu Freud cho rằng vô thức tồn tại trước khi ngôn ngữ có thể hoạt động thì Lacan
lại cho rằng vô thức và ngôn ngữ xuất hiện đồng thời với nhau. Khi ngôn ngữ không
có khả năng duy trì sự thoả mãn thì lúc đó vô thức xuất hiện qua khe hở giữa ngôn
ngữ và ý muốn. Ngôn ngữ chỉ tạo cho chủ thể một vị trí để anh ta phát ngôn, vì thế
theo Lacan, phê bình văn học nên tập trung vào những cấu trúc của ham muốn. Ông
đề cao biểu tượng trong sáng tác văn học, xem biểu tượng là chìa khoá để giải mã
chú ý. Công trình được nhắc đến nhiều nhất của N. Holland là Cái tôi (1985), một
chuyên luận nói về bản chất con người một cách tập trung nhất bằng phân tâm học.
Công trình này đặt ra vấn đề tại sao trong con người cá nhân vừa có cái riêng tư lại
vừa có cái phổ quát? Tại sao trong con người cá nhân có cả nhân loại? Lý giải vấn
đề này, chúng ta sẽ hiểu được sự phong phú, đa dạng của người đọc. Họ vừa giống
nhau, lại vừa khác nhau khi cùng tiếp nhận một văn bản văn học. Điều này lý giải
tại sao văn bản văn học không đến với tất cả mọi người bằng một gương mặt duy
nhất. Công trình Cái tôi của Norman Holland đều tập trung làm rõ bản chất của
người đọc và quá trình diễn biến tâm lí của họ. Ví dụ tình trạng nào của não bộ
quyết định việc người đọc cảm nhận được một ngôn ngữ như là văn học? Vì sao
mỗi người đọc lại có cách diễn giải khác nhau về ý nghĩa của văn bản? Sau các
công trình Phân tâm học và Shakespeare (1966), Các động cơ của phản ứng văn
học (1968) thì công trình Năm loại người đọc (1975) đã dành hẳn sự quan tâm của
Holland về người đọc. Ông rút ra bốn nguyên tắc thể hiện những phản ứng của
người đọc trước một văn bản văn học là tự thân, phòng vệ, tưởng tượng, chuyển
hoá. Đây cũng là bốn bước mà một người đọc trải qua để tạo nên quá trình tiếp
nhận, quyết định phương thức tồn tại của tác phẩm văn học như các nhà lý luận tiếp
nhận vẫn nói. Holland đã lưu ý đến những năm tháng tuổi thơ của người đọc cũng
11
có ảnh hưởng lớn đến quá trình tiếp nhận văn học. Không phải ngẫu nhiên mà
Holland đã nghiên cứu các nhà văn lớn của chủ nghĩa hiện thực thế kỷ XIX như
Balzac, Dickens, Gogel. Mặc dù các công trình phân tâm học người đọc của N.
Holland vẫn còn nhấn mạnh quá nhiều đến cái vô thức của người đọc, nhưng không
giống Bonaparte (phê bình phân tâm học văn bản), người đã xem văn bản như là
bằng chứng tâm lí của nhà văn, Holland đã nhận ra sự xung đột của nhà văn và độc
giả trong văn bản, và ông dựa vào đó để xác lập lý thuyết của mình. Quan niệm của
Holland đã lưu ý đến mối quan hệ mơ hồ nhất của quá trình văn học. Ông đã không
tập thể, các tập tục tín ngưỡng được lưu giữ qua các siêu mẫu, biểu tượng, cũng như
sự liên hệ giữa thế giới hình tượng cùng với cơ chế thăng hoa trong vô thức tác giả
sẽ là con đường dẫn dắt người đọc tìm đến với thông điệp thẩm mỹ của tác phẩm.
Rõ ràng, nghiên cứu tác phẩm văn học từ góc nhìn phân tâm học là quá trình giải
mã những vùng mờ vô thức được ẩn giấu đằng sau lớp vỏ ngôn từ. Các nhà phê
bình Việt Nam cũng đã vận dụng phương pháp phê bình phân tâm học để nghiên
cứu văn học với hai con đường cơ bản, từ việc phóng chiếu ham muốn vô thức tác
giả vào tác phẩm hoặc sự vận dụng những vấn đề phân tâm học để phân tích một số
bình diện nghệ thuật trong tác phẩm. Đó là sự vận dụng hai khuynh hướng phê bình
phân tâm học tiểu sử và phân tâm học văn bản.
1.2. Tình hình nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam từ góc nhìn phân tâm học
Phân tâm học dù đi vào Việt Nam từ rất sớm nhưng cả một thời gian dài
không thể tìm được sự hòa nhập để phát triển. Những gì Freud mang đến bị coi là
sự “phản động”, “nhục mạ” con người. Quá trình tiếp nhận lý thuyết phân tâm học
vào nghiên cứu văn học Việt Nam quả là một chặng đường gian nan với những
thăng trầm đứt nối. Nếu như trong sáng tác văn chương, Vũ Trọng Phụng vận dụng
học thuyết Freud với những tác phẩm như Làm đĩ, Giông tố, Số Đỏ thì trong lĩnh
vực phê bình, phải kể đến hai cây bút tiêu biểu là Trương Tửu và Nguyễn Văn
Hanh. Đến giai đoạn văn học sau 1954, theo Trần Hoài Anh, trong bài viết Vấn đề
ứng dụng phân tâm học vào phê bình văn học ở đô thị miền Nam 1954 - 1975, ở
miền Nam, với tính chất một xã hội tiêu thụ, ảnh hưởng lối sống tự do theo kiểu văn
hóa Âu Mỹ, phân tâm học và một số học thuyết khác của phương Tây đều có thể
phát triển mạnh mẽ và ảnh hưởng nhiều đến văn hóa nghệ thuật, đặc biệt là lĩnh vực
phê bình. Ở miền Bắc, do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, phê bình phân tâm học vẫn
13
còn nhiều giới hạn. Trong bài viết Phân tâm học về phê bình văn học ở Việt Nam,
Đỗ Lai Thúy đã nhận định rằng, sau năm 1954, ở miền Bắc, mặc dù học thuyết
sở một số loại hình tiêu biểu như tiểu thuyết theo lối hư cấu lịch sử, tiểu thuyết theo
phong cách hậu hiện đại. Song, dù ở loại hình nào, hầu hết các tác phẩm tiểu thuyết
thời kỳ này đều “dồn vào cách xử lý hiện thực: một hiện thực đa chiều, hiện thực
vừa có tính nhất định, vừa đáng ngờ, vừa hữu lý, vừa phi lý, vừa trật tự, vừa hỗn
loạn, vừa thuộc về cái rành rõ lý trí, vừa như thuộc cõi siêu linh bí ẩn huyền hồ” [8,
tr. 125]. Chẳng hạn như “Việc Bảo Ninh lựa chọn cái hiện thực của tiềm thức, tâm
linh, hiện thực bên trong một con người” [8, tr. 127] được xem là sự cách tân có
hiệu quả. Tiểu thuyết nói riêng và văn xuôi Việt Nam nói chung giai đoạn này bắt
đầu quan tâm đến con người bản năng, con người tâm linh “thâm nhập được vào cả
cõi mờ xa của ý thức, vùng chập chờn giữa ý thức và vô thức, vùng bí ẩn của tâm
linh. Quan niệm về tính phức tạp, bí ẩn của con người đã dẫn dắt văn học đi tìm
“những con người khác nhau” bên trong một con người” [8, tr. 70] như một tất yếu
của hiện thực. Cùng đề cập đến vấn đề con người trong tiểu thuyết đương đại,
Nguyễn Văn Long cũng đã có bài viết Một số vấn đề cơ bản trong nghiên cứu lịch
sử văn học Việt Nam giai đoạn từ sau 1975. Tác giả Nguyễn Văn Long cho rằng:
“Con người cũng được văn học khám phá, soi chiếu ở nhiều bình diện, nhiều tầng
bậc: ý thức và vô thức, đời sống tư tưởng, tình cảm và đời sống tự nhiên, bản năng,
khát vọng cao cả và dục vọng tầm thường, con người cụ thể, cá biệt và con người
trong tính nhân loại phổ quát” [53, tr. 16]. Rõ ràng, một trong những nét mới của
tiểu thuyết giai đoạn này là sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người
cũng như cách nhìn và phản ánh đời sống. Các nhà tiểu thuyết đã khai thác con
người ở nhiều khía cạnh như tâm linh, bản năng... để có thể có một cái nhìn toàn
diện hơn về con người. Trong Một hướng tiếp cận tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi
mới trong Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 11/ 2006, Nguyễn Bích Thu khẳng định:
“Các cây bút tiểu thuyết từ sau đổi mới đã có ý thức đi sâu vào thế giới nội tâm để
khám phá chiều sâu tâm linh nhận diện con người đích thực. Sự xuất hiện con
người tâm linh biểu hiện sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người của
văn học. Tiểu thuyết bắt đầu tiếp cận với thế giới đằng sau thế giới hiện thực, đó là
thế giới tâm linh, vô thức, tiềm thức, giấc mơ” [53, tr. 4]. Có thể thấy rằng, hầu hết
trạng nhân vật, bao gồm cả ý thức lẫn vô thức sáng tạo dựa trên trực giác, linh cảm
để ngòi bút phiêu lưu trong thế giới tâm linh của con người” [53, tr. 229]. Theo tác
giả Nguyễn Bích Thu, “tiểu thuyết đã không ngần ngại miêu tả chất sắc dục, tình
16
yêu nhục thể là một lĩnh vực rất riêng của mỗi cá nhân. Miêu tả những con người tự
nhiên, khai thác yếu tố tích cực của con người tự nhiên cũng là một khía cạnh nhân
bản của văn học (Ngược dòng nước lũ của Ma Văn Kháng, Người đi vắng của
Nguyễn Bình Phương, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Ăn mày dĩ vãng của
Chu Lai)”. Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh “Các cây bút tiểu thuyết những năm đổi mới
đã có ý thức đi sâu vào thế giới nội tâm để khám phá chiều sâu tâm linh nhằm nhận
diện hình ảnh con người đích thực. Sự xuất hiện con người tâm linh biểu hiện sự đổi
mới trong quan niệm nghệ thuật về con người của văn học. Tiểu thuyết bắt đầu tiếp
cận với thế giới đằng sau thế giới hiện thực, đó là thế giới tâm linh, vô thức, tiềm
thức, giấc mơ. Các nhà văn đã cố gắng thoát ra kiểu “phản ảnh hiện thực” được
hiểu một cách thông tục của tiểu thuyết trước đây. Với quan niệm nghệ thuật mới,
họ đã có ý thức thay đổi hình thức biểu đạt. Ngòi bút nhà văn khơi sâu vào cõi tâm
linh, vô thức của con người, khai thác “con người ở bên trong con người” [53, tr.
231]. Các nhà phê bình cũng đã khám phá phương diện vô thức trong các tiểu
thuyết thời kỳ đổi mới như một ý thức của sự cách tân. Điều này cũng chi phối đến
cách xây dựng đề tài, cốt truyện, nhân vật cũng như ngôn ngữ tạo hiệu quả thẩm
mỹ, thực sự đánh dấu sự trưởng thành của nền văn học cũng như đáp ứng nhu cầu
tiếp nhận của độc giả.
Một vấn đề cũng được thể hiện khá nhiều trong văn học giai đoạn này là vấn
đề tính dục. Xưa nay, con người ta vốn ngại đưa những vấn đề nhạy cảm này lên
trang viết, thậm chí còn phải che kỹ, giấu kỹ. Con người tự bao đời vốn ngại ngùng
trong việc bộc lộ mình, ngay cả những cái mình vốn dĩ chân thật nhất, hiển nhiên
nhất. Để rồi, từ sau đổi mới văn học, văn học như cởi bỏ những e dè, xấu hổ để nói
tải những ẩn ức khác nhau của đời sống nhân sinh, mà rõ nhất là nó trở thành diễn
ngôn nữ quyền” [105]. Tác giả Lê Thị Hường trong bài viết Chiến tranh qua cảm
thức nữ giới cũng đã đề cập đến vấn đề bản năng giới trong các sáng tác của các nhà
văn nữ. “Linh cảm giới tính giúp họ thể hiện sâu sắc những ước vọng hạnh phúc lẫn
nỗi đau nhân tình. Nhiều tác phẩm nhìn chiến tranh qua số phận tình dục của nữ
giới, không phải bằng diễn ngôn đạo đức mà là bằng diễn ngôn phái tính và nữ
quyền. Tình dục trở thành một phần quyền sống, tự do bản thể. Sắc thái nữ quyền
đậm đặc với những nhân vật cồn cào khát vọng bản năng. Điều gây ấn tượng là các
18
nhà văn nữ đi sâu vào những khát khao phụ nữ không phải với cái nhìn của quan
tòa, mà là với góc độ tình yêu và sự nhân hậu, đồng cảm” [100].
Điểm qua tình hình nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986 đến 2000
từ góc nhìn phân tâm học, có thể nhận thấy một điều, tuy chưa có một công trình
nghiên cứu nào mang tính quy mô, nhưng hầu như những bài viết cũng đã đề cập
được vấn đề trọng tâm của tiểu thuyết giai đoạn này. Đó là vấn đề vô thức, tâm linh,
vấn đề tính dục cũng như một số cách tân nghệ thuật phù hợp với giá trị tư tưởng.
Giới phê bình đã bắt đầu quan tâm đến sự ảnh hưởng của phân tâm học trong tiểu
thuyết Việt Nam giai đoạn này. Đây có thể là một tâm điểm thu hút nhiều cây bút
phê bình văn học muốn hướng đến, bởi đây là giai đoạn chuyển mình của tiểu
thuyết Việt Nam trong việc vận dụng học thuyết phương Tây.
1.2.2. Tình hình nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam thập niên đầu thế kỷ XXI từ
góc nhìn phân tâm học
Có thể nói, sang đầu thế kỷ XXI, tiểu thuyết Việt Nam được khoác lên mình
một sức sống mới khi được vận dụng các học thuyết phương Tây cũng như sự cách
tân trong tư tưởng và nghệ thuật. Vấn đề về vô thức, tính dục... chỉ mới manh nha ở
giai đoạn trước thì sang thập niên đầu thế kỷ, đã được các nhà tiểu thuyết phát huy
như một thế mạnh của mình. Cùng với ý thức sáng tạo nghệ thuật, sự quan tâm đến
hoành phần người, phần con như một bản thể tự nhiên hoang sơ giữa cuộc đời. Điều
khiến phân tâm học lại gần với văn học, với đời sống vì nó chạm vào vùng đất cấm
từ trong tiềm thức con người. Vấn đề vô thức, tâm linh, tính dục trở thành yếu tố
không thể không nói đến khi nhắc đến tiểu thuyết giai đoạn này. Trong bài viết Yếu
tố vô thức trong tác phẩm Nguyễn Bình Phương, Hoàng Thị Huế đã cho rằng: “Tác
phẩm Nguyễn Bình Phương không thể không nói là có sự ảnh hưởng thuyết phân
tâm học của S. Freud. Khơi sâu phần vô thức chìm khuất trong mỗi con người, nhân
vật của Nguyễn Bình Phương có thể chưa thực sự gần gũi với bạn đọc nhưng sức
ám ảnh của nó cũng chính là sức hấp dẫn, giá trị của tiểu thuyết” [98]. Nguyễn
Thành khi nghiên cứu về Khuynh hướng lạ hóa trong tiểu thuyết Việt Nam đương
đại - một số bình diện tiêu biểu cũng đã nhận thấy, “Thoạt kỳ thủy ám ảnh người
đọc về hình ảnh con người bản năng, vô thức. Thế giới nhân vật trong Thoạt kỳ
thủy ít nhiều đều bị bản năng, vô thức chi phối” [102]. Hay trong Những yếu tố hậu
hiện đại trong văn xuôi Việt Nam qua so sánh với văn xuôi Nga của tác giả - dịch