BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINHNGUYỄN NHƯ LUẬTCÁI HÀI TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM
THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN NHƯ LUẬT
CÁI HÀI TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM
THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60.22.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. PHAN HUY DŨNG
NGHỆ AN - 2014
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 4
1. Lý do chọn đề tài 4
2. Lịch sử vấn đề 5
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát 14
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 14
6. Cấu trúc luận văn 15
Chương 1 ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN CỦA CÁI HÀI TRONG TRUYỆN NGẮN
trong truyện ngắn, tạp văn và tiểu thuyết. Đây là một hiện tượng đáng quan
tâm, tìm hiểu.
1.2. Truyện ngắn là thể loại nhỏ gọn, vừa hội tụ được nhiều yếu tố để
đảm nhiệm vai trò xung kích trong đổi mới văn học, vừa phù hợp với độc giả
hiện đại. Truyện ngắn cũng là thể loại văn học có lợi thế trong việc tiếp cận
đời sống hiện thực từ nhiều chiều. Cái hài trong truyện ngắn Việt Nam là một
đề tài thú vị nhưng chưa có nhiều thành tựu nghiên cứu thỏa đáng. Với truyện
ngắn Việt Nam đương đại, cái hài trở thành một nội dung phản ánh chứa đựng
nhiều tầng sâu tư tưởng và cũng là một phương thức sáng tạo thể hiện tài
năng của các nhà văn. Nghiên cứu Cái hài trong truyện ngắn Việt Nam thập
niên đầu thế kỉ XXI chính là để phát hiện bí quyết tạo nên sự hấp dẫn bạn đọc
ở một số cây bút nổi tiếng thuộc nhiều thế hệ khác nhau.
1.3. Từ sau năm 1986, xã hội Việt Nam hình thành một diện mạo mới,
đòi hỏi nhu cầu khám phá mới. Một khi tinh thần dân chủ đã bắt đầu lan rộng,
tiếng cười cũng trở nên phổ biến trong văn học, đem lại dư vị mới cho nhiều
tác phẩm. Với đề tài Cái hài trong truyện ngắn Việt Nam thập niên đầu thế kỉ
XXI, ta có thêm cứ liệu để chứng minh sự đa dạng của những hướng tìm tòi
nghệ thuật trong các sáng tác văn xuôi Việt Nam đương đại.
4
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Những nghiên cứu về cái hài trong văn học nghệ thuật nói chung
2.1.1. Khái niệm cái hài
Cái hài là một đặc tính vốn có của đời sống. Nó muôn hình ngàn vẻ,
hiện diện trong mọi lĩnh vực xã hội và là một phạm trù mỹ học thu hút sự lí
giải của nhiều học giả.
Các nhà mỹ học Hi Lạp cổ đại như Platon, Aristote đã đưa ra những
kiến giải sâu sắc về cái hài. Platon cho rằng: “Thiếu hài hước không nhận
thức được cái nghiêm túc… Cái đối lập được nhận thức nhờ cái đối lập” [24;
170]. Ông thừa nhận cái hài, nhưng lại phản đối cái hài trong đất nước lí
tưởng của ông vì sợ nó sẽ làm cho công dân thiếu nghiêm túc, hoặc sẽ chọc
sắc bén, ý nhị, hóm hỉnh của người thể hiện.
Cái hài trước hết phải là cái xấu của con người hoặc là con người có
điểm xấu. Nhưng không phải mọi cái xấu đều là yếu tố của cái hài. Cái xấu
chỉ trở thành yếu tố của cái hài khi nó có ý nghĩa xã hội. Ví dụ như tính xu
nịnh, gia trưởng,…; thói dối trá, ngoại tình, hống hách, cửa quyền…; sự dốt
nát, tình trạng thiếu dân chủ,… Cái xấu đáng cười là cái chưa đến nỗi xấu
quá, chưa đến mức đê tiện, kinh tởm.
Cái hài là cái xấu đội lốt cái đẹp. Bản thân cái xấu có nhiều dạng thái
rất khác nhau. Những cái xấu giả dạng cái đẹp, xấu mà chưa biết mình xấu
mới là cái hài với tư cách phạm trù của mỹ học. Nó bộc lộ mâu thuẫn trong
bản thân, trong quan hệ và mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Ví dụ một tên quan
huyện ăn đút lót cứ tưởng mình là thanh liêm và nhiều kẻ nịnh bợ cho hắn là
thanh liêm; một người đam mê quyền lực nhưng lại phê phán những người
khác là hám danh,…
6
Cái hài luôn gắn với yếu tố bất ngờ: “bất ngờ là yếu tố riêng biệt biểu
thị biên độ sâu và rộng về không gian và thời gian của cái hài. Thiếu yếu tố
bất ngờ thì không có mối liên hệ giữa chủ thể và đối tượng của cái hài” [24;
175]. Một tình huống căng thẳng đang diễn ra giữa cái đẹp và cái xấu, cái xấu
tưởng đã chiến thắng, bất ngờ bị vạch trần, bị đánh bại, lúc đó tiếng cười bật
lên. Tính bất ngờ nào cũng xoáy vào các điểm yếu của con người và những
con người có điểm yếu. Nếu vấn đề mà cái bất ngờ nêu lên có giá trị nhân loại
và văn hóa, cái hài sẽ có ý nghĩa xã hội rộng và sâu hơn.
Cái hài gắn với tiếng cười tích cực. Đó là tiếng cười dí dỏm, mỉa mai,
châm biếm một cách nhẹ nhàng nhưng lại có sức mạnh chống lại cái xấu, dân
chủ hóa xã hội. Ở đâu có cái xấu và có lý tưởng của cái đẹp thì ở đó xuất hiện
tiếng cười tích cực. Nó không giết người mà xóa các điểm yếu trong con
người, nó nhằm vào con người có điểm yếu nhưng không để tiêu diệt con
người. “Cái hài bao hàm một ý nghĩa xã hội gắn liền với sự khẳng định lí
tưởng thẩm mỹ cao cả… Sức mạnh phê phán của nó vừa có tính phủ định lại
xuất hiện hai cây bút tiêu biểu là Nguyễn Công Hoan và Vũ Trọng Phụng.
Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy trong sáng tác của họ, cái hài như là
nhu cầu tự nhiên của đời sống, mang tính chất nhiều chiều, lưỡng hợp.
Các nhà nghiên cứu đã tiếp cận cái hài trong truyện ngắn Nguyễn
Công Hoan từ nhiều góc độ. Lê Thị Đức Hạnh với “Nghệ thuật trào phúng
trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan” đã chỉ ra: “Cơ sở tiếng cười của
ông thường là do nhà văn nhận thức được sự trái ngược giữa hiện tượng với
thực chất của sự vật và con người; là do thấy được mối mâu thuẫn giữa cái
phô trương bề ngoài và tình trạng thiếu sức sống bên trong của một sự vật
nào đó” [19; 403].
8
Nguyễn Thanh Tú với “Chất hài trong câu văn Nguyễn Công Hoan” đi
từ quan niệm “đời chỉ là một sân khấu hài kịch” của nhà văn để thấy ông “có
thái độ tiếp cận cuộc sống một cách hết sức suồng sã, xóa bỏ mọi khoảng
cách ngôi thứ, đạp đổ mọi tôn ti trật tự, bóc trần mọi giáo lý giả tạo… để trơ
ra một “thế giới bị lộn trái”[19; 424].
Trần Văn Hiếu trong bài “Chất trí tuệ của tiếng cười và óc châm
chọc tinh quái của Nguyễn Công Hoan” khẳng định: “Tác phẩm của ông
được xem như một mảng mầu không thể thay thế trên bức tranh trào phúng
toàn cảnh vốn hết sức phong phú và đa dạng của văn học thời kỳ 1930-
1945. Đặc sắc truyện trào phúng Nguyễn Công Hoan được thể hiện trên
nhiều phương diện và ở nhiều cấp độ song nghệ thuật tạo dựng chất trí tuệ
và óc châm chọc tinh quái có thể được xem như một đóng góp riêng, độc
đáo và quan trọng” [19; 459].
Có một thời, cái hài không được xem như một thái độ nghệ thuật trong
văn chương của Vũ Trọng Phụng. Trong bài “Tìm hiểu lịch sử cái gọi là “vấn
đề Vũ Trọng Phụng”, Phong Lê giải thích rằng bởi “nó chạm vào một chỗ
thiêng nhất, nhạy cảm nhất trong quan niệm nghệ thuật, vốn gắn rất chặt với
quan niệm chính trị và quan niệm đạo đức ở xứ ta” [84; 27,28].
Nhiều nhà nghiên cứu đã tham gia “mổ xẻ” cái hài trong sáng tác của
quan đến khía cạnh trào phúng, hài hước chiếm tỉ lệ cao, như: Tiếng cười
trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao; Bút pháp
trào phúng của Vũ Trọng Phụng; Đối sánh ngôn ngữ trào phúng trong truyện
ngắn Nguyễn Công Hoan và tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng…
Giai đoạn 1945 - 1975, văn đàn Việt Nam vắng bóng cái hài. Quan
niệm thẩm mỹ của văn học thời chiến gắn với khuynh hướng sử thi trang
10
trọng. Sáng tác của các nhà văn cách mạng tập trung phụng sự nhiệm vụ
chính trị của đất nước. Về bộ phận văn học miền Nam, chúng ta chưa đầu tư
nghiên cứu được đầy đủ. Đâu đó trong các truyện ngắn, thấp thoáng tiếng
cười đôn hậu nhẹ nhàng của nhà văn Vũ Tú Nam, Nguyễn Khải.
Sau 1975, đặc biệt từ sau năm 1986, văn học Việt Nam có hiện tượng
“cười trở lại”. Thời kỳ này, văn xuôi đóng vai trò chủ đạo trong công cuộc
vận động đổi mới của văn học dân tộc. Vai trò cách tân của văn xuôi đồng
thời được khẳng định với vị thế mới của cái hài. Nhiều thế hệ nhà văn đã chọn
tiếng cười như một phương tiện để khám phá cho hết các ngóc ngách, tầng
bậc của cái thế giới mới đang đầy biến động. Đầu tiên, phải kể đến những cây
bút có tuổi như Vũ Bão, Bùi Ngọc Tấn với giọng văn hài hước, hóm hỉnh mà
chua cay. Rồi những tên tuổi từng làm chấn động văn đàn dân tộc khi sử dụng
yếu tố dâm tục với tần suất khá cao như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài.
Rồi Đoàn Lê, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Quang Lập,…
Theo đó, các nghiên cứu về cái hài trong văn xuôi cũng xuất hiện ngày
càng phong phú. Nhiều bài viết về sáng tác của các tác giả đều có phần đề cập
đến yếu tố cái hài.
Bài “Vũ Bão và tiếng cười triết luận” của Hoài Nam đặt ra giả thiết:
“Hẳn ông muốn nối nghiệp tác giả của Số đỏ mà “đi tìm sự thật biết cười”, mà
khiêu vũ với chữ nghĩa, mà mang tiếng cười hài hước góp phần làm tươi tắn
cho một nền văn chương đã quá thừa sự nghiêm nghị” [35].
Bài “Cuốn theo chiều văn Nguyễn Huy Thiệp” của Nguyễn Đăng Điệp
viết: “Có lẽ Vũ trọng Phụng là người có ảnh hưởng không nhỏ đến Nguyễn
ngắn Vũ điệu của cái bô” (Nguyễn Thị Thúy Hằng), “Cái “lạ” trong truyện
ngắn Hồ Anh Thái” (Hỏa Diệu Thúy)…
12
Bài “Cái hài và bi kịch người trí thức trong truyện ngắn Vũ điệu của
cái bô” của Nguyễn Thị Thúy Hằng đã chỉ ra: “Sau 1975, đất nước chuyển
mình sang một giai đoạn mới. Đời sống hòa bình và sự khuyến khích phát
huy dân chủ của Đảng đã tạo điều kiện thuận lợi để ý thức cá nhân trỗi dậy.
Kinh nghiệm cá nhân được coi trọng đã “phục sinh” cảm hứng trào lộng
trong văn xuôi” [21].
Tác giả Hỏa Diệu Thúy trong bài “Cái “lạ” trong truyện ngắn Hồ Anh
Thái” viết: “Những chân dung nghịch dị, nghịch lý rất đông trong truyện ngắn
Hồ Anh Thái và xuất hiện ở cả mảng truyện trong nước đến mảng truyện nước
ngoài. Không chỉ sử dụng để diễn tả “cái tất yếu không thể hiểu được”, tác giả
còn nhằm bộc lộ thái độ hoặc để hài hước, giễu nhại, thậm chí phê phán, lên án
những tồn tại mặt trái của xã hội, những thói tật của con người, trong đó “có
mình” như một thái độ “tự phê bình”, tự kiểm điểm nghiêm khắc” [80].
Về tập truyện ngắn Của rơi của Nguyễn Việt Hà, tác giả Nguyễn Chí
Hoan cho rằng: một phần quan trọng năng lượng của những truyện ngắn này
“biểu hiện chủ yếu qua những phát ngôn trào lộng, dí dỏm, qua những motive
nhại rất bỡn cợt và thách thức” [15; 283].
Phạm Tuấn Anh trong luận án tiến sĩ Sự đa dạng thẩm mỹ của văn xuôi
Việt Nam sau 1975 cũng nhận thấy: “Cái hài trong văn xuôi Việt Nam sau
1975 có cả cái châm biếm, đả kích và cái hài hước ( ). Tuy nhiên, theo chúng
tôi, cái hài hước mới thực sự chứa đựng sự thay đổi sâu sắc, có tính bản thể
của tư duy nghệ thuật, tư duy văn hoá mới. Chính từ cánh cửa hài hước đã mở
ra những khả năng tương tác, chuyển hoá đa dạng của các phẩm chất thẩm mĩ:
đẹp - hài, bi - hài, cảm thương - hài…” [2; 156,157].
Nhìn chung, những thành quả nghiên cứu nói trên chưa bao quát được
vị thế chủ âm hết sức phong phú của cái hài trong truyện ngắn Việt Nam 10
năm đầu thế kỉ XXI, nhưng cũng là nguồn tư liệu tham khảo quý giá giúp
14
- Phương pháp loại hình.
- Phương pháp so sánh.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận
văn được triển khai trong 3 chương:
Chương 1. Điều kiện phát triển của cái hài trong truyện ngắn Việt Nam
thập niên đầu thế kỷ XXI
Chương 2. Đối tượng của cái hài trong truyện ngắn Việt Nam đầu
thế kỷ XXI
Chương 3. Các phương thức nghệ thuật thể hiện cái hài trong
truyện ngắn Việt Nam đầu thế kỷ XXI
15
Chương 1
ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN CỦA CÁI HÀI
TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI
1.1. Tình trạng phát triển của cái lố lăng trong một xã hội “không
có vua”
Cuộc sống vốn chứa đầy mâu thuẫn: giữa cũ và mới, hình thức và nội
dung, đẹp và xấu Chính sự không tương khớp giữa các yếu tố này đã làm nảy
sinh cái hài. Trong văn học, cái hài được coi là một kiểu nhận thức cuộc sống.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, điều đầu tiên trong ba yếu tố tạo thành
cái hài là bản chất mang tính hài của đối tượng. Nói rõ ra, đó chính là môi
trường xã hội trong diện mạo của một tấn trò đời chứa nhiều nghịch cảnh trớ
trêu. Có thể mượn tên một truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp để mô
tả tình trạng xã hội này: “không có vua”. Theo nhà nghiên cứu Lã Nguyên thì
đó “là trạng thái nhân thế đảo điên, thiếu vắng chuẩn mực giá trị, điểm tựa
tinh thần và vì thế mà sự sống trở nên vô nghĩa” [37].
Bước sang thế kỷ XXI, sự nghiệp đổi mới đã đi được một chặng đường.
của cái hài. Ở đâu có cuộc đấu tranh giữa cái đẹp và cái xấu thì ở đó có cái hài
xuất hiện. Mâu thuẫn xã hội, sự tan rã của kỉ cương, sự thống trị của quyền
lực là những nguyên nhân rất sâu xa làm xuất hiện cái hài trong cuộc sống
(…). Ở cuối mỗi hình thái xã hội, cái hài thường nở rộ để loài người từ giã
quá khứ một cách vui vẻ. Ở đầu thời kỳ mới đang lên, mọi sự vụng về, bỡ ngỡ
cũng tạo nên cái hài” [24; 178,179].
Xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XX - đầu thế kỷ XXI đang bước sang một
thời kỳ mới, mọi sự còn “vụng về, bỡ ngỡ”. Cái mốc 1986 với những tiếng
17
đổi mới, cởi trói lần lượt được xướng lên, thức dậy khát vọng tự do trong sáng
tạo nghệ thuật của người nghệ sỹ. Và sáng tác của họ đã trở thành một bộ
phận quan trọng trong diện mạo mới của đất nước. Nhà văn thời đổi mới có
quyền được nói cái mình nghĩ, được viết cái mình thấy. Họ dấn thân trong
công cuộc tìm tòi cách thể hiện hiện thực, và đã chọn tiếng cười như một giải
pháp thỏa đáng. Tiếng cười trong văn học tồn tại qua nhiều cách diễn đạt: hài
hước, giễu nhại, trào lộng, trào tiếu, trào phúng…
1.2. Truyền thống thể hiện cái hài trong văn xuôi Việt Nam các thời
kỳ trước đó
Cái hài gắn với văn học Việt Nam ngay từ buổi sơ khai. Bùi Văn
Nguyên cho rằng: “Trong dòng văn học phong phú và không bao giờ cạn ấy có
một điều hiển nhiên là truyện vui cười bao gồm các loại truyện khôi hài, truyện
trào phúng và truyện tiếu lâm rất được quần chúng ưa chuộng. Nếu như truyện
cổ tích mô tả một cách linh động cuộc sống và ước mơ của người bình dân,
giúp họ suy nghĩ thêm về vận mệnh của mình thì truyện vui cười gây được
những ấn tượng mãi mãi không phai mờ về những màn kịch nhỏ trong đầu trò
đời qua các thời đại” [9]. Trong khuôn khổ đề tài, chúng tôi chỉ xin đề cập đến
truyền thống thể hiện cái hài trọng văn xuôi Việt Nam hiện đại.
1.2.1. Cái hài trong văn xuôi 1930 - 1945
Như ở phần trên chúng tôi đã lưu ý: Nguyễn Công Hoan và Vũ Trọng
Phụng là hai cây bút tiêu biểu của văn xuôi trào phúng giai đoạn này. Đối
vật chỉ với vài chi tiết rất đắt. Đây là chân dung một nghị viên ở nông thôn:
“Một người mặt mũi phương phi, cổ rụt, bụng phệ, môi trễ mà không râu,
mặc quần áo lụa, phe phẩy cái quạt…” [19; 414]. Đây là nhà tư sản: “cái bụng
phưỡn ra, nấp trong bộ quần áo xếp nếp cứng như cái hộp. Tóc bóng mượt,
19
nhẵn như cái gáo lĩnh úp trên đầu, không chịu kém vẻ đẹp với bộ ria sửa khéo
như vẽ. Miệng lúc nào cũng chực tóe ra một chuỗi cười… [43; 89,90]. Còn
đây là viên tri huyện: “Chà! Chà! Béo ơi là béo! Béo đến nỗi có thằng dân
nào vô ý buột miệng nói ra một câu sáo rằng “nhờ bóng quan lớn” là ông
tưởng ngay nó xỏ ông. Tức thì mặt bàn là một, mặt nó là hai, bị vả đôm đốp”
[19; 414]. Không hề giống nhau, nhưng hình ảnh nào cũng gây cười, cũng
đáng ghét, cũng hé lộ cái bản chất tham ăn, đần độn, hoặc vênh vang tự đắc,
hoặc gian manh, hách dịch…
Tiếng cười trong văn Nguyễn Công Hoan còn bật lên qua lối ví von so
sánh độc đáo, những liên tưởng bất ngờ, thú vị: “Quan ngắm một lúc, hai
con mắt sáng quắc như hai ngọn đèn giời, khiến cho hai vợ chồng nhà hàng
bánh giò phải thất đảm” [43; 64] hoặc: “một cô xấu, nhưng tân thời, mặt
phấn má hồng, môi đỏ, rẽ lệch, chiếc áo căng lườn, trông tức anh ách, như
một bài thơ thất luật” [43; 50]. Có hình ảnh một bà phủ với khuôn mặt long
trọng như “chiếc bánh dầy đám cưới” (Đàn bà là giống yếu); hoặc một bà
chủ mà chỉ thoạt trông thì phải bảo là “một đống hai ba cái chăn bông cuộn
lại với nhau, sắp đem cất đi” nếu “chưa nom rõ cái mặt phị, cái cổ rụt, cái
thân nung núc, và bốn chân tay ngắn chùn chụt” (Phành phạch); hay một bà
phán trông như một cây thịt tuy hơi cổ thụ nhưng chưa có vẻ gì cằn cỗi (Cho
tròn bổn phận)…
Sử dụng yếu tố nhại cũng là một biệt tài của Nguyễn Công Hoan: nhại
thể văn hành chính, công vụ như trong Tinh thần thể dục; nhại văn cáo phó
trong Báo hiếu: trả nghĩa mẹ; nhại giọng hát tuồng trong Đào kép mới; nhại
giọng trí thức Tây học trong Cái ví ấy của ai…
Có thể nói, “chỉ với những truyện ngắn trào phúng cũng đủ xác nhận
21
ngữ quý phái, salon, sách vở” [84; 104,105]. Đó chính là âm vang trung thực
của cuộc đời, dội lại thành tiếng cười nhại đa cung bậc có ý nghĩa phủ định cả
một xã hội nhố nhăng, lố bịch từ “Em chã” đến cụ Tổ, từ trí thức đến bình
dân, tăng ni đến cảnh sát… Có thể dẫn ra phản ứng cửa miệng của Xuân tóc
đỏ với cụm từ “mẹ kiếp!”: Mẹ kiếp! con với chả cái!; Mẹ kiếp! chữ với chả
nghĩa!; Mẹ kiếp! quần với chả áo!
Nhà nghiên cứu Mai Quốc Liên đã so sánh tiếng cười của Vũ Trọng
Phụng trong Số đỏ với tiếng cười của các tác giả văn học cùng thời như
Nguyễn Công Hoan, Tú Mỡ, Đồ Phồn, Lý Toét, Xã Xệ và kết luận đó là
“tiếng cười nằm sâu trong hệ hình văn học Việt Nam truyền thống, đồng thời
khác lạ, không giống ai, thời sự, mới mẻ hiện đại trong ngôn ngữ và trong cấu
trúc tác phẩm” [84; 104].
Không ầm ĩ, suồng sã và phổ rộng như tiếng cười trong Số đỏ của Vũ
Trọng Phụng, cái cười trong sáng tác của Nam Cao “bị thu lại tới mức, nếu
còn có thể cười được, thì chỉ là nụ cười nhếch mép lạnh lùng” [84; 270] mang
màu sắc ảm đạm. Mỗi tác phẩm của Nam Cao chứa đựng một sự cắt nghĩa hài
hước về cuộc đời. Đọc Sống mòn, Đời thừa, Chí Phèo, Trẻ con không được
ăn thịt chó… ta thấy cuộc đời thật buồn cười, còn con người thật đáng thương
- đáng thương nhưng cũng rất đáng trọng ở cái ranh giới mong manh giữa bản
năng và ý thức, thể xác và tâm hồn, thú tính và nhân tính Nam Cao thường
viết về “cái đói” và “miếng ăn” như một ám ảnh nghệ thuật, cũng là đề tài
cười ra nước mắt.
Ngay đến chuyện ân ái đầy bản năng, Nam Cao vẫn như cười cợt: “Và
Thị Nở giật mình. Thị Nở mới kịp giật mình thì thằng đàn ông đã bám lấy
thị… Thị vùng vẫy để ra, thị mở mắt, thị tỉnh hẳn, thị nhận ra Chí Phèo. Thị
vừa thở, vừa vật nhau với hắn và hổn hển: “Ô hay… Buông ra… Tôi kêu…
Tôi kêu làng… Buông ra. Tôi kêu làng lên bây giờ!” Thằng đàn ông phì cười.
22
Sao thị lại kêu làng nhỉ? Hắn vẫn tưởng chỉ có hắn mới kêu làng thôi; sao
râu một ông quan hay hành xử của một chị chàng con mọn trong Tắt đèn…
Tóm lại, dòng văn học hiện thực phê phán với nhiều cây bút tài năng đã
phơi trần tính chất “ba đào”, điên đảo của xã hội thực dân nửa phong kiến từ
các góc nhìn khác nhau. Trong đó, không thể phủ nhận vai trò của cái nhìn hài
hước, trào phúng. Cái hài trong văn xuôi hiện thực trước 1945 vừa tiếp thu, kế
thừa truyền thống cười từ truyện dân gian, vừa mang bản sắc hiện đại với
nhiều thủ pháp nghệ thuật đặc sắc.
Chúng tôi khá tỉ mỉ khi đề cập đến cái hài trong văn xuôi hiện thực giai
đoạn này, bởi nó sẽ tái xuất tân kỳ trong văn học thời kỳ đổi mới và sau đó
nữa, đánh dấu tính chất bước ngoặt của một thời đại xã hội mới.
1.2.2. Cái hài trong văn xuôi 1945 - 1975
Từ 1945 - 1975, văn học Việt Nam phát triển trong hoàn cảnh lịch sử
đặc biệt của đất nước: 30 năm chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ. Dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng cộng sản Việt Nam, văn học tập
trung thực hiện nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc. Những nguồn cảm hứng
lớn là yêu nước và căm thù giặc, tình đồng chí và tình quân dân. Nhân vật
trung tâm là người chiến sỹ. Văn học mang đậm khuynh hướng sử thi, thể
hiện chức năng tuyên truyền cổ động chính trị.
Diện mạo văn học kháng chiến được xây dựng bởi tên tuổi các nhà văn
- chiến sỹ của thời đại: Tố Hữu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Tô Hoài, Nguyễn
Trung Thành, Nguyễn Thi, Nguyễn Khải… Họ say sưa ca hát non sông đất
nước, say sưa ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng với tư cách con người -
công dân nghiêm nghị, đầy lửa nhiệt tình.
Bởi vậy, tiếng cười hầu như vắng bóng trong văn học giai đoạn này.
Nếu có, đó thường là tiếng cười đả kích kẻ địch trong thơ trào phúng của Tú
24
Mỡ (Bút Chiến Đấu), Xích Điểu, Thợ Rèn… Văn xuôi hài hước đặc biệt
hiếm hoi. Thấp thoáng đâu đó nụ cười nhân hậu, cảm thông nhưng cũng rất
tinh quái trong văn Nguyễn Khải (ở những truyện như Đứa con nuôi, Mùa
lạc, Một trường hợp ly dị…); giọng diễu cợt thân tình, dân giã của Vũ Tú