Quan hệ việt nam liên bang nga trong thập niên đầu thế kỷ XXI - Pdf 33

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƢ PHẠM
BỘ MÔN LỊCH SỬ


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Ngành Lịch sử

QUAN HỆ VIỆT NAM – LIÊN BANG NGA
TRONG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI

Giáo viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

Th.S Nguyễn Hữu Thành

Lâm Văn Cận
MSSV: 6086304
Lớp: SP Lịch sử - K34

Cần Thơ, năm 2012
1


MỤC LỤC
Trang
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài………………………………………………………..6
2. Mục đích nghiên cứu …………………………………………………..6
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề………………………………………….......7

2.2.2 Hợp tác Việt Nam - Liên bang Nga trên lĩnh vực kinh tế…………39
2.2.3 Trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục, khoa học - kỹ thuật……………..58
2.2.4 Quan hệ Việt - Nga trên lĩnh vực an ninh quốc phòng…………….65
2.2.5 Quan hệ Việt - Nga trên lĩnh vực du lịch, y tế và lĩnh vực khác…..68
2.2.6 Đặc điểm quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga trong thập niên đầu
thế kỷ XXI……………………………………………………..………………..72
2.3 Tiểu kết chương……..……………………………………………….73
Chương 3.
TIỀM NĂNG, HƯỚNG ƯU TIÊN VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN QUAN HỆ
VIỆT NAM - LIÊN BANG NGA TRONG GIAI ĐOẠN MỚI
3.1Tiềm năng phát triển quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga……………78
3.2 Một số hướng ưu tiên phát triển quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga
trong giai đoạn mới……………………………………………………………...80
3.2.1 Về chính trị………………………………………………………...80
3.2.2 Về kinh tế………………………………………………………….81
3.2.3 Trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân………………………………82
3.2.4 Hợp tác khoa học - Kỹ thuật………………………………………83
3.2.5 Trong lĩnh vực giáo dục vàn đào tạo………………...…………….83
3.2.6 Trong các lĩnh vực khác………….………………………………..84
3.3 Một số giải pháp nhằm phát triển mối quan hệ Việt Nam - Liên bang
Nga trong giai đoạn mới………………………………………………………...85
3.3.1 Những giải pháp chung……………………………………………85
3.3.2 Một số giải pháp trong từng lĩnh vực……………………………...86
C.PHẦN KẾT LUẬN……………………………………………………92
Phụ lục…………………………………………………………………...94
Tài liệu tham khảo…………………………………………………….....99
Nhận xét của Giáo viên……...………………………………………………...102

3


Hiệp hội các Đông Nam Á

Nations
Bank for Investment and

Ngân hàng đầu tư và phát

Development of Vietnam

triển Việt Nam

EU

European Union

Liên minh châu Âu

FDI

Foreign Direct Investment

GDP

Gross Domestic Product

IMF

International Monetary Fund

Quỹ tiền tệ Quốc tế

Cooperation Europer

Châu Âu

Sodruzhestvo Nezavisimykh

Cộng đồng các quốc gia độc

Gosudarstr

lập

Vietnam - Russia Cnsiness

Hội đồng doanh nghiệp Việt -

council

Nga

4


VRB

VTB

Vietnam - Russia Joint Venture

Ngân hàng Liên doanh

những đảo lộn về chính trị ở Nga. Tiếp sau những đảo lộn ấy là hoàn cảnh quốc
tế, trong nước, sự khác nhau về thể chế chính trị, về những ưu tiên trong chính
sách đối ngoại của mỗi nước làm cho quan hệ hai nước có thời kỳ ngưng trệ.
Đến cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, trước những chuyển biến phức tạp và
nhanh chóng của tình hình thế giới, khu vực và những cải cách đạt được ở mỗi
nước, hai nước Việt, Nga nhận thấy sự cần thiết nâng quan hệ hai nước lên tầm
đối tác chiến lược. Và tuyên bố chung về quan hệ đối tác chiến lược đã được hai
nước ký kết trong chuyến thăm chính thức Việt Nam lần đầu tiên của Tống thống
Nga V. Putin, tháng 3-2001 và được khẳng định nhiều lần trong các chuyến thăm
và làm việc của lãnh đạo cấp cao hai nước. Khuôn khổ pháp lý mới cho quan hệ
hợp tác Việt - Nga đã được tạo dựng.
Tìm hiểu và nghiên cứu quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga trong thập niên
đầu thế kỷ XXI, tôi muốn biết và hiểu phần nào về quá trình quan hệ hợp tác của
hai nước từ đó rút ra đặc điểm của mối quan hệ này. Trên cơ sở đó bổ xung kiến
thức cho bản thân là hành trang cho sự nghiệp giảng dạy sau này.
Qua việc tìm hiểu và nguyên cứu quan hệ Việt - Nga, tôi huy vọng sẽ đem
lại cho bạn đọc hiểu phần nào về mối quan hệ này. Từ đó rút ra được những kinh
nghiệm góp phần xử lý tốt các mối quan hệ hợp tác khác giữa Việt Nam với các
quốc gia khác trong cộng đồng quốc tế chứ không riêng gì Liên bang Nga.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn vấn đề “Quan hệ Việt Nam Liên bang Nga trong thập niên đầu thế kỷ XXI” là đề tài cho luận văn tốt nghiệp
của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tình hình quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga thập niên đầu thế
kỷ XXI nhằm làm rõ bản chất của mối quan hệ này, phân tích những cơ hội,
thách thức, những thành tựu và hạn chế. Từ đó đánh giá, rút ra đặc điểm của mối
quan hệ, đồng thời phân tích tiềm năng, đưa ra những hướng ưu tiên và một số
6


giải pháp mang tính chất tham khảo nhằm thúc đẩy mối quan hệ này phát triển

7


tôi đi vào phân tích, tổng hợp lại thành một bức tranh tổng thể để có cái nhìn
khách quan về quan hệ Việt - Nga trong thập niên đầu thế kỷ XXI.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiêm cứu
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Luận Văn tìm hiểu quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga trong thập niên đầu
thế kỷ XXI trên nhiều lĩnh vực từ kinh tế, chính trị - ngoại giao đến văn hóa giáo dục, khoa học - kỹ thuật, an ninh quốc phòng, lĩnh vực y tế, du lịch, Lao
dộng và địa phương về những thành tựu đạt được cũng như chưa đạt được.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Khóa luận nghiên cứu quan hệ Việt Nam - Liên bang
Nga trong thập niên đầu thế kỷ XXI (giai đoạn từ 2001 -2009). Bắt đầu từ năm
2001 bởi đây là thời điểm có nhiều chuyển biến trong mối quan hệ Việt - Nga.
Nhất là sự kiện, Việt Nam và Liên bang Nga đã ký tuyên bố chung về quan hệ đối
tác chiến lược (3/2001), đánh dấu bước phát triển và tạo lập khuôn khổ pháp lý
mới cho hợp tác Việt - Nga trên cơ sở tin cậy, chặt chẽ và lâu dài trong thế kỷ
XXI.
Mốc cuối của thời gian nghiên cứu dừng lại ở năm 2009 vì đây là thời gian
cho phép tiếp cận được các nguồn tài liệu.
Không gian nghiên cứu: Khóa luận tập trung tìm hiểu, nghiên cứu kỹ lưỡng
mối quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga trong thập niên đầu thế kỷ XXI trên tất
cả các lĩnh vực. trong đó đi sâu vào các lĩnh vực chủ chốt như chính trị - ngoại
giao, kinh tế, văn hóa - giáo dục, an ninh quốc phòng… Từ đó dự báo triển vọng
phát triển của quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga trong thời gian kế tiếp. Tuy
nhiên trước đó khóa luận cũng đề cập đến bối cảnh của thế giới và khu vực cũng
như mối quan hệ Việt - Nga ở giai đoạn trước đó nhằm giúp ta thấy được bước
phát triển của mối quan hệ trong thập niên đầu thế kỷ XXI.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Với các nguồn tài liệu thu thập được trong sách báo, các tạp chí, trên cơ sở


9


A. PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1
NHỮNG NHÂN TỐ CHỦ YẾU TÁC ĐỘNG ĐẾN
QUAN HỆ VIỆT NAM - LIÊN BANG NGA
1.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực những năm đầu thế kỷ XXI
Cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, tình hình thế giới có nhiều biến động rất
nhanh chóng và phức tạp, cục diện thế giới chuyển từ hai cực sang thế đa cực
mang đặc điểm mới, tuy không trải qua chiến tranh nhưng lại diễn ra trong tình
trạng biến động bất trắc với các cuộc xung đột cục bộ. Các quốc gia vừa hợp tác
vừa đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau. Bởi vậy, hợp tác Việt - Nga cũng luôn chịu chi
phối mạnh mẽ từ bối cảnh đó.
1.1.1 Bối cảnh quốc tế tác động đến quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga
Thứ nhất, do những biến đổi sâu sắc về tương quan lực lượng thế giới đã
dẫn đến quá trình hình thành trật tự thế giới mới, đó là sự chuyển đổi từ thế giới
hai cực sang đa cực với một siêu cường là Mỹ.
Sau khi trật tự hai cực Iantan tan rã, khiến cho cơ cấu địa - chính trị và sự
phân bố quyền lực toàn cầu bị đảo lộn, tương quan lực lượng thế giới nghiêng
hẳn về phía có lợi cho chủ nghĩa tư bản, nhất là các nước tư bản phát triển hàng
đầu. Quá trình hình thành trật tự thế giới mới chứa nhiều yếu tố bất trắc, khó
đoán định, trong đó nổi lên hai khuynh hướng đối nghịch: Mỹ chủ trương một thế
giới đơn cực, trong khi các nước trung tâm quyền lực khác như Nga, Trung
Quốc, EU, Nhật Bản lại đấu tranh cho một trật tự thế giới đa cực mà ở đó vị trí
bá quyền của Mỹ được kiềm chế, quyền lãnh đạo thế giới được chia sẽ cho các
nước lớn. Các nước Pháp, Đức, Nga kiên quyết chống lại việc Mỹ phát động
chiến tranh chống Irắc (3-2003) là một minh chứng khá rõ nét cho hai khuynh
hướng nêu trên.

mạnh mẽ chưa từng thấy; đồng thời đưa đến sự phát triển, biến đổi theo chiều sâu
các lĩnh vực đời sống xã hội. Tuy nhiên, những tiến bộ của cách mạng khoa học công nghệ lại là chủ yếu thuộc về các nước phát triển do họ có thực lực kinh tế,
tiềm lực khoa học hùng mạnh cùng với mạng lưới công ty xuyên quốc gia vươn
rộng khắp hành tinh. Các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, do những
hạn chế về nhiều mặt nên không dễ dàng tiếp cận những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, thậm chí lại đứng trước nguy cơ trở thành nơi thu nhận
những công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường được chuyển giao từ các nước
phát triển.
11


Cách mạng khoa học - công nghệ khiến cho sự phát triển kinh tế ngày càng
phụ thuộc vào nhân tố tri thức - trí tuệ, tạo ra bước ngoặt mang ý nghĩa lịch sử
hình thành nền kinh tế tri thức. Trong xu hướng phát triển kinh tế tri thức hiện
nay, thông tin tri thức khoa học - kỹ thuật, công nghệ và quản lý ngày càng đóng
vai trò chủ đạo. Vì lẽ đó, bất kỳ quốc gia nào nếu không thực sự chú trọng lĩnh
vực này, sẽ không thể có cơ may tham gia đầy đủ vào nền kinh tế tri thức và tất
yếu bị đẩy tới thách thức nghiệt ngã của nguy cơ tụt hậu ngày càng xa về mọi
phương diện.
Đặc biệt, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ càng làm gia tăng xu thế
toàn cầu hóa, khu vực hóa kinh tế, làm gia tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các
quốc gia và quan hệ quốc tế được mở rộng với nhiều hình thức với sự tham gia
của nhiều chủ thể. Có thể thấy bất kỳ quốc gia nào trên thế giới áp dụng thành
tựu khoa - học kỹ thuật mới để phát triển đất nước là nhu cầu bức thiết.
Việt Nam và Liên bang Nga cũng như nhiều quốc gia khác đang chạy đua
để gia tăng phát triển khoa học - công nghệ. Việt Nam quyết tâm thực hiện công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển.
Để thực hiện nhiệm vụ này, việc phát triển quan hệ với Nga có một vị trí khá
quan trọng, bởi tiềm năng to lớn của Nga về nhiều mặt, nhất là trên lĩnh vực khoa
học - kỹ thuật và công nghệ hiện đại.
Thứ ba, quá trình toàn cầu hóa quốc tế hóa diển ra mạnh mẽ trở thành xu

Thứ tư, độc lập dân tộc và bình đẳng hóa các quan hệ quốc tế đang tiếp tục
là vấn đề lớn và cấp thiết nhất trong giai đoạn hiện nay của thời đại.
Các dân tộc nhỏ yếu, chậm phát triển không chỉ gánh chịu những thua thiệt
về nhiều mặt, mà còn có nguy cơ bị đẩy ra bên lề cuộc sống hiện đại. Các thế lực
đế quốc tiếp tục sử dụng chính sách xâm lược, can thiệp trắng trợn vào công việc
nội bộ của nhiều nước đang phát triển. Trong so sánh lực lượng thế giới nghiêng
hẳn về phía có lợi cho các nước tư bản đế quốc, những nguy cơ đối với độc lập
chủ quyền quốc gia, dân tộc và tiến trình bình đẳng hóa các quan hệ quốc tế luôn
hiện hữu tiềm tàng và thách thức nhiều nước mà Việt Nam và cả Liên bang Nga
cũng không là ngoại lệ. Đây là cơ sở khách quan thúc đẩy hợp tác, phối hợp hoạt
động giữa hai nước trong việc tham gia giải quyết các vấn đề quốc tế có liên
quan.
Thứ năm, nhân loại càng đứng trước nhiều vấn đề toàn cầu hết sức bức
thiết mà không một quốc gia riêng lẽ nào có thể tự giải quyết được nếu không có
sự hợp tác đa phương.
Đây là điểm quan trọng chi phối đến tập hợp lực lượng quốc tế và quan hệ
quốc tế hiện nay. Những vấn đề toàn cầu cấp bách đe dọa đến sự sống và sự phát
13


triển bền vững của nhân loại trước hết là tình trạng ô nhiễm môi trường, sự bùng
nổ dân số, những bệnh dịch hiểm nghèo, tội phạm quốc tế… những nổ lực chung
của cộng đồng quốc tế nhiều năm qua đã đưa lại một số kết quả trong việc làm
giảm thiểu hiệu ứng nhà kính, xử lý nguồn nước và rác thải, chữa trị các bệnh lây
nhiểm HIV/AIDS, SARS… tính chất nghiêm trọng và phức tạp của những vấn đề
toàn cầu rõ ràng đang đòi hỏi các nước phát triển cần đóng góp tích cực hơn
trong sự phối hợp, hợp tác hành động một cách hiệu quả thiết thực. Trên lĩnh vực
này, Việt Nam và Nga hoàn toàn có cơ sở và điều kiện thực tế để tăng cường các
quan hệ hợp tác trong khuôn khổ song phương cũng như đa phương.
Thứ sáu, sự vận động của thế giới sau chiến tranh lạnh, nhất là trong

1.1.2.1Tình hình khu vực châu Âu
Châu Âu là nơi xuất hiện mầm mống liên kết sớm nhất trong lịch sử loài
người. Từ sau cuộc đại chiến thế giới lần hai, cả châu Âu trở thành bãi chiến
trường đổ nát. Cục diện thế giới căng thẳng với sự đối đầu giữa hai cực Xô - Mỹ,
sự đối đầu của hai hệ thống chính trị - xã hội dẫn đến cuộc đối đầu của hai khối
Đông - Tây, lôi cuốn các nước cùng tham gia. Trước xu thế toàn cầu hóa, các
nước trong khu vực châu Âu đã hợp tác, liên kết cùng nhau phát triển.
Những năm cuối thế kỷ XX, quá trình liên kết kinh tế khu vực diễn ra mạnh
mẽ ở châu Âu. Với tư cách là một phần của châu Âu, Liên bang Nga không thể
đứng ngoài quá trình liên kết kinh tế khu vực ở đây. Nga đã tham gia tích cực và
cũng chịu sự tác động nhất định của quá trình này.
Liên minh châu Âu (EU) mở rộng góp phần cải thiện khả năng thâm nhập
thị trường của hàng hóa xuất khẩu của Liên bang Nga vào các nước thành viên
EU. Nước Nga có cơ hội để nhập khẩu những mặt hàng chất lượng cao. Song bên
cạnh những tác động tích cực đó, việc Liên minh châu Âu mở rộng gây cho Nga
một số vấn đề có khi thiệt hại về kinh tế do một số điều chỉnh về thuế quan đối
với hàng hóa xuất khẩu của Nga.
Trên cơ sở nhận thức rõ tác động hai mặt của quá tình liên kết khu vực ở
châu Âu, Liên bang Nga đã xác định: “xích lại gần với châu Âu là một trong
những hướng đi quan trọng trong chính sách kinh tế đối ngoại những thập kỷ đầu
tiên của thế kỷ XXI”.
1.1.2.2 Cục diện châu Á - Thái Bình Dƣơng
a) Thuận lợi
Châu Á - Thái Bình Dương đã và đang là khu vực năng động, có hiệu quả,
tốc độ tăng trưởng kinh tế cao tạo ra tiềm lực kinh tế ngày càng mạnh. Sức mạnh

15


của các nước trong khu vực không ngừng tăng lên làm xuất hiện “thời kỳ châu


16


của việc giữ gìn và bảo vệ an ninh chung,cho nên dù có mâu thuẫn với nhau,
song đều có những thõa hiệp, đặc biệt là giữa các nước lớn trong khu vực.
a) khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi nêu trên thì, khu vực châu Á - Thái Bình Dương
còn gặp phải một số khó khăn:
Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực gồm nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ,
đa dạng về địa lý, chính trị, văn hóa, dân tộc, tôn giáo, khác biệt về trình độ phát
triển kinh tế - xã hội, là khu vực có quá trình lịch sử phức tạp, không đồng nhất
về lợi ích. Xuất phát từ đặc thù đó nên tính thống nhất và liên kết của toàn khu
vực còn rất yếu, tạo nên khó khăn thậm chí là thách thức đối với sự phát triển của
khu vực trong tương lai.
Do tập trung nhiều điểm nóng của thế giới nên khu vực này luôn tiềm ẩn
nguy cơ mất an ninh, bất ổn định. Những điểm nóng phản ánh lên sự mâu thuẫn
lợi ích an ninh kinh tế, chính trị và quân sự của cả nước, đặc biệt là các nước lớn
trong khu vực này. Điển hình là sự kiện Mỹ kiên trì bố trí hệ thống phòng thủ tên
lửa quốc gia và hệ thống phòng thủ tên lửa chiến trường làm cho mâu thuẫn giữa
Mỹ với Nga, với Trung Quốc trong vấn đề an ninh khu vực bị gia tăng. Việc giải
quyết các điểm nóng ở biển Đông, ở bán đảo Triều Tiên đặc biệt là tại eo biển
Đài Loan nếu không khéo thì dễ làm cho mâu thuẫn giữa các nước lớn trở thành
đối kháng, xung đột lợi ích an ninh của họ trở nên nghiêm trọng [6; Tr140].
Một số vấn đề đang có xu hướng nổi lên trong khu vực như chủ nghĩa ly
khai, nạn khủng bố, tăng cường quân sự, xung đột sắc tộc, tôn giáo, phân cực giai
cấp, chênh lệch giàu nghèo, dịch bệnh… đều góp phần làm cho tình hình an ninh
của khu vực bị đe dọa.
Vị thế nhất siêu cường của Mỹ tại châu Á - Thái Bình Dương là một yếu tố
làm tăng thêm mâu thuẫn của khu vực này. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương

đề ra chính sách, chiến lược hợp lý, biết tranh thủ những thuận lợi, khắc phục
những khó khăn để phát triển quan hệ hai nước lên tầm cao mới.
1.2 Tình hình đất nƣớc, chính sách đối ngoại của Việt Nam và Liên
bang Nga đầu thế kỷ XXI
1.2.1 Tình hình đất nƣớc và chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với
Liên bang Nga đầu thế kỷ XXI
1.2.1.1 Tình hình đất nƣớc
Bước sang thế kỷ mới, Việt Nam cũng đang đứng trước những cơ hội lớn
song cũng gặp không ít những vấn đề khó khăn, thử thách.
a) Về chính trị

18


Sau 20 năm đổi mới, những năm đầu thế kỷ XXI, hệ thống chính trị của
Việt Nam được giữ vững ổn định. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa được khôi phục
và củng cố, quyền lực Nhà nước được xây dựng theo nguyên tắc thống nhất do
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã
được xây dựng, hệ thống chính trị vẫn giữ vững nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin
và Tư tưởng Hồ Chí Minh.
Việt Nam tổ chức thành công Hội nghị ASEM 5 (2004), tổ chức thành công
Đại hội lần X của Đảng Cộng sản Việt Nam và gia nhập vào WTO (2006). Đặc
biệt, các nước châu Á nhất trí cử Việt Nam giữ chức vụ Ủy viên không Thường
trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (2009) đã đưa vị thế Việt Nam lên tầm cao
mới. Công tác lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được đổi mới theo
hướng tập trung vào tổ chức xây dựng bộ máy lãnh đạo các cấp, các ngành được
hoàn thiện, tinh gọn; đề ra
, chủ trương đó. Đời sống
vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện và nâng cao. Nhân dân tin tưởng
vào sự lãnh đạo của Đảng, khối đại đoàn kết dân tộc vẫn được giữ vững.

tr127].
Bên cạnh những thuận lợi đó,Việt Nam không phải không gặp khó khăn.
Nền kinh tế tri thức mà cạnh tranh chủ yếu dựa vào khoa học kỹ thuật trong khi
đó Việt Nam có trình độ phát triển kinh tế, kỹ thuật lạc hậu, kém chất lượng;
nguồn tài nguyên thiện nhiên bị tàn phá nghiêm trọng. Công cuộc đổi mới tuy đạt
được một số thành tựu nhưng chưa thể thay đổi được thực tế - Việt Nam chưa
thoát khỏi tình trạng kém phát triển, đang nằm trong tốp những nước đang phát
triển.
Trước cuộc khủng hoảng trên phạm vi toàn thế giới, Việt Nam không tránh
khỏi tình trạng lạm phát, tham ô… làm đảo lộn nền kinh tế. Gia nhập WTO giúp
Việt Nam có cơ hội vươn ra thị trường thế giới nhưng cũng phải đối mặt với cạnh
tranh quốc tế gay gắt và nguy cơ tụt hậu.
Vậy làm thế nào để duy trì tốc độ tăng trưởng lành mạnh, bền vững nền
kinh tế đáp ứng mục tiêu chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là
một câu hỏi lớn. Song không có nghĩa là Đảng và nhân dân ta không giải quyết
được. Với những thực tế đã trải qua, chúng ta tin tưởng rằng với sự lãnh đạo của
Đảng và tinh thần đoàn kết của toàn dân, đất nước sẽ phát triển ổn định, nâng cao
vị thế trên trường quốc tế.
1.2.1.2 Chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với Liên bang Nga đầu
thế kỷ XXI
20


Trong công cuộc đổi mới tiếp tục thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự
chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, chính phủ và nhân
dân Việt Nam coi trọng việc củng cố và phát triển mối quan hệ truyền thống, hợp
tác nhiều mặt với Liên bang Nga, cho đây là một định hướng chiến lược lâu dài.
Ngoài ra, trong bối cảnh phấn đấu hoàn thành công nghiệp hóa, hiện đại hóa vào
năm 2020, Việt nam cần tranh thủ yếu tố bên ngoài thuận lợi để phục vụ cho mục
tiêu này trong đó không thể không tính vai trò của Nga.

không cạnh tranh nhau trong bất cứ lĩnh vực nào mà lại có truyền thống hữu nghị
lâu dài. Phát triển quan hệ tốt đẹp với Nga, sẽ tạo thuận lợi cho chúng ta trong
quan hệ với các nước lớn trong khu vực và thế giới.
Những lợi ích cơ bản và chủ yếu nêu trên đối với mỗi nước, đặc biệt là sự
gặp gỡ về lợi ích giữa hai nước chính là cơ sở, động lực rất quan trọng thúc đẩy
quan hệ Việt - Nga phát triển hơn nữa tương xứng với tầm vóc cần có của quan
hệ đối tác chiến lược cũng như truyền thống tốt đẹp vốn có của mối quan hệ hữu
nghị giữa nhân dân hai nước.
1.2.2 Tình hình đất nƣớc và chính sách đối ngoại của liên bang Nga đối
với Việt Nam đầu thế kỷ XXI.
1.2.2.1 Tình hình đất nƣớc
Sau những năm tháng đầy biến động, bước sang thế kỷ XXI, nước Nga với
sự lãnh đạo của tổng thống V. Putin và hiện nay là tổng thống Medevedev (từ
2008) đã đi vào thời kỳ ổn định và phát triển.
a) Về chính trị
Sau khi Liên Xô sụp đỗ, Liên bang Nga lại tái sinh và trở thành người kế
thừa Liên Xô cũ. Liên bang Nga đã xóa bỏ chế độ chính trị cũ của Liên Xô và
thiết lập nên chế độ chính trị mới theo thể chế “Cộng hòa Tổng thống” được
thông qua Hiến pháp năm 1993. Lúc này xã hội Liên bang Nga vẫn tồn tại nhiều
mâu thuẫn dẫn đến sự bất ổn về chính trị kéo dài, mãi cho đến đầu thế kỷ XXI,
dưới thời tổng thống Putin thì nền chính trị của Liên bang Nga mới thực sự ổn
định.
Những năm đầu thế kỷ XXI, Liên bang Nga tiến hành nhiều cải cách về
chính trị như: cải cách hành chính nhằm tạo lập mối quan hệ thống nhất giữa
chính quyền Liên bang Nga và các chủ thể liên bang theo hướng tăng cường sức
mạnh của chính quyền; để tăng cường mối quan hệ giữa chính quyền trung ương
với chính quyền địa phương, tháng 9 năm 2000 Liên bang Nga thành lập Hội
đồng Nhà nước với sự tham gia của những người đứng đầu cơ quan hành pháp
của 89 chủ thể Liên bang; hệ thống bầu cử từng bước hoàn thiện góp phần tạo
nên sự ổn định hơn của tình hình chính trị; xây dựng và ban hành các đạo luật

những năm đầu thế kỷ XXI, chính phủ Liên bang Nga thực hiện tốt chính sách
kiềm chế, nên lạm phát đã được kiểm soát, trung bình ở mức 10 - 15%. Nếu năm
1999 lạm phát vẫn ở mức cao: 36,5% sau đó đã giãm xuống 20,8%(2000),
15,1%(2002), 15%(2003), 5%(4 tháng đầu năm 2004) [4, tr191].
23


Cùng với sự tăng trưởng GDP liên tục, ngân sách Liên bang Nga giai đoạn
2000-2004 đã chấm dứt tình trạng thâm hụt những năm 90 của thế kỷ XX. Tính
trung bình trong giai đoạn 2000-2004, thặng dư ngân sách đạt 1,9% GDP, trong
khi đó giai đoạn 1996-1999 tâm hụt ngân sách trung bình năm là 3,5% GDP.
Nhờ vậy mà dự trữ tài chính quốc gia tăng đáng kể, năm 2003 đạt 1,9% GDP. Dự
trữ vàng và ngoại tệ của Liên bang Nga liên tục tăng trong giai đoạn 2000-2004:
từ 12,4 tỷ USD (2000) lên 84 tỷ USD (2004). Đây là cơ sở để nền kinh tế Liên
bang Nga phát triển vững chắc hơn trước tác động của những yếu tố bên ngoài.
Nhờ tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục ở mức khá cao mà Liên bang Nga
đã từng bước giải quyết được nợ nước ngoài. Năm 2000, các nhà kinh tế trong và
ngoài nước đều đề cập đến một khó khăn, trở ngại lớn đối với nền kinh tế Liên
bang Nga là vấn đề phải thanh toán một khoản nợ khổng lồ, lớn nhất từ trước đến
thời điểm năm 2003. Tuy vậy, thực tế Liên bang Nga không chỉ thực hiện được
các khoản thanh toán nợ một cách không mấy khó khăn mà còn làm giảm áp lực
của các khoản trả nợ nước ngoài đối với nền kinh tế quốc gia. Tính đến cuối năm
2003, nợ nước ngoài của Liên bang Nga còn 119,1 tỷ USD chiếm 2,6% GDP,
trong khi con số này vào cuối năm 1999 là 158,4 tỷ USD chiếm gần 90% GDP
[5; tr192].
Các ngành kinh tế nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và dịch vụ đã có
sự khởi sắc với mức tăng trưởng liên tục.
Xã hội: Về việc tiếp tục đường lối cải cách kinh tế thị trường nhưng chú
trọng đến điều kiện thực tiễn của đất nước đã tạo ra sự phục hồi và phát triển của
nền kinh tế Liên bang Nga trong giai đoạn 2000-2004 cùng với quá trình thực

quân sự, hàng hải, kinh tế, an ninh, chính trị tại đây [1; tr39].
Chính sách đối ngoại của Nga ngày nay trước hết là nhằm phục vụ lợi ích
phát triển kinh tế. Liên bang Nga đánh giá cao những thành tựu của công cuộc
đổi mới ở Việt Nam, chính sách đối ngoại rộng mở của Việt Nam là phù hợp với
lợi ích của Nga. Liên bang Nga có những lợi ích thiết thực trong quan hệ với Việt
Nam. Hơn nữa trong khi Nga vẫn chưa có đủ khả năng để thâm nhập vào các thị
trường mới, đặc biệt là các nước công nghiệp phát triển, thì Nga vẫn có vai trò
khá quan trọng trong những ngành kinh tế then chốt ở Việt Nam. Nga và Việt
Nam có tiềm năng lớn về hợp tác trong các lĩnh vực dầu khí, năng lượng điện. Bề
dày kinh nghiệm hợp tác Xô - Việt là điều kiện tốt nhất để xác định chỗ đứng khá
chắc chắn trong hợp tác với Việt Nam mà như một nhà lãnh đạo Nga đã nói:
“Nga không muốn để mất và không có ý nhượng lại quan hệ mật thiết với Hà Nội
cho bất kỳ ai”. Việt Nam là nơi duy nhất mà ngành dầu khí của Nga có thể cạnh
tranh mạnh được với các nước phương Tây và đưa lại nhiều hiệu quả, đồng thời
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status