ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THỊ KIM HUẾ QUAN HỆ NHẬT BẢN - CHÂU PHI
TRONG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI
QUAN HỆ NHẬT BẢN - CHÂU PHI
TRONG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI chuyên ngành|: Quan hệ quốc tế
Mã số: 603140
Luận văn Thạc sĩ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thanh Hiền
Hà Nội, 2013
18
1.2.4. Sau Đại chiến Thế giới lần thứ II
19
Chƣơng 2: QUAN HỆ NHẬT BẢN – CHÂU PHI TRONG THẬP
NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI
29
2.1. Quan hệ chính trị - ngoại giao
29
2.1.1. Thực trạng quan hệ chính trị - ngoại giao
29
2.1.2. Động lực thúc đẩy quan hệ chính trị - ngoại giao Nhật Bản –
châu Phi trong những năm đầu thế kỷ XXI
33
2.2. Quan hệ kinh tế
37
2.2.1. Quan hệ thương mại
37
2.2.2. Quan hệ đầu tư
45
2.2.3. Viện trợ
55
2.2.4. Hợp tác Nhật Bản - Việt Nam trong hỗ trợ phát triển châu Phi
64
Chƣơng 3: ĐÁNH GIÁ VỀ QUAN HỆ NHẬT BẢN – CHÂU PHI VÀ
MỘT SỐ GỢI Ý CHO VIỆT NAM
69
3.1. Đánh giá vị thế, vai trò và ảnh hƣởng của Nhật Bản tại
châu Phi
69
Ngân hàng Phát triển châu Phi
AMISOM
Nhiệm vụ của Liên minh châu Phi tại Somalia
AMV
Mô hình làng Thiên niên kỷ châu Phi
AOTS
Liên hiệp Quỹ học bổng Kỹ thuật Nƣớc ngoài
ASEAN
Hiệp hội các nƣớc Đông Nam Á
AU
Liên minh châu Phi
AVI
Mô hình làng châu Phi
BHN
Nhu cầu cơ bản của con ngƣời
CARD
Liên minh Phát triển lúa gạo cho châu Phi
C-CfA
Uỷ ban dân sự cho châu Phi
CDM
Cơ chế phát triển sạch
COMESA
Thị trƣờng chung các nƣớc Đông và Nam Phi
DAC
Uỷ ban Viện trợ Phát triển
EC
Ủy ban Châu Âu
ECOWAS
Cộng đồng Kinh tế các nƣớc Tây Phi
EFA
LDCs
Các nƣớc kém phát triển
LHQ
Liên hiệp quốc
MDGs
Các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ
METI
Bộ Kinh tế, Thƣơng mại và Công nghiệp Nhật Bản
NEPAD
Chƣơng trình Đối tác mới vì Sự phát triển của châu Phi
NEXI
Công ty Bảo hiểm đầu tƣ và Xuất khẩu Nippon
NGOs
Các tổ chức phi chính phủ
ODA
Viện trợ phát triển chính thức
OECD
Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế
OVOP
Mô hình mỗi làng một sản phẩm
PKOs
Các hoạt động gìn giữ hoà bình
SMASE
Củng cố toán và khoa học trong hệ thống giáo dục
SMEs
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ
TCSF
Diễn đàn Xã hội dân sự TICAD
TICAD
Hội nghị quốc tế Tokyo về Phát triển châu Phi
Bảng 1.1: Đầu tƣ trực tiếp của Nhật Bản vào các nƣớc châu Phi
22
Bảng 1.2. : Năm nƣớc châu Phi nhận đƣợc FDI của Nhật Bản nhiều
nhất: Giai đoạn 1971-2002
24
Bảng 1.3.: Đầu tƣ của Nhật Bản ở châu Phi theo ngành công nghiệp
(%)
25
Bảng 2.1. Giá trị và tỷ lệ xuất nhập khẩu của Nhật Bản với châu Phi
(Từ năm 2000 đến năm 2006)
38
Bảng 2.2. Giá trị xuất nhập khẩu của Nhật Bản với một số nƣớc ở châu
Phi năm 2005 và năm 2006
41
Bảng 2.3: Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu chủ yếu của Nhật Bản ở châu
Phi năm 2010 (triệu USD)
42
Bảng 2.4: Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu chủ yếu của Nhật Bản ở châu
Phi năm 2010 (triệu USD)
43
Bảng 2.5: ODA giành cho giảm nợ của 5 đối tác chủ yếu ở châu Phi
cận Sahara (% trong tổng ODA)
57
Bảng 2.6. ODA của Nhật Bản cho các nƣớc châu Phi trong năm tài
chính 2007
58
Bảng 2.7. ODA của Nhật Bản dành cho châu Phi từ năm 2001 đến
năm 2006
63
Bảng 2.8. Các dự án hợp tác ba bên của Nhật Bản với 1 đối tác khác
52
Hình 2.6: FDI của Nhật Bản vào châu Phi theo mục tiêu của TICAD IV
52
Hình 2.7: Tình hình viện trợ ODA của Nhật Bản giành cho châu Phi giai
đoạn 1973-2009, (triệu USD)
57
Hình 2.8: ODA của Nhật Bản vào châu Phi phân theo vùng địa lý
58
Hình 2.9: 10 nƣớc châu Phi cận Sahara tiếp nhận ODA lớn nhất của Nhật
Bản giai đoạn 2005-2009
60
Hình 2.10: Các dự án hợp tác ba bên của Nhật Bản ở châu Phi trong lĩnh
vực sản xuất lúa gạo
67 MỞ ĐẦU
1. Mục đích, ý nghĩa của đề tài
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, toàn cầu hoá ngày càng gia tăng, xu hƣớng
liên kết, hợp tác giữa các khu vực, các quốc gia trở thành tất yếu. Mặc dù cách trở
về địa lý, song Nhật Bản và châu Phi là hai đối tác nằm trong quy luật phát triển
chung của thời đại.
Trong những thập kỷ gần đây, đặc biệt bƣớc sang thế kỷ XXI, châu Phi đang
trở thành mối quan tâm của cộng đồng quốc tế, bởi vì “Thế kỷ XXI muốn ổn định
và thịnh vƣợng thì các vấn đề châu Phi cần đƣợc giải quyết”. Các quốc gia lớn trên
thế giới, trong đó có Nhật Bản cùng với các nƣớc châu Phi đã và đang nỗ lực cùng
nhau giải quyết những vấn đề của châu Phi để không những đem lại lợi ích cho
chính bản thân châu lục này, mà còn đem lại lợi ích cho chính các quốc gia đó, vì
mục tiêu đôi bên cùng có lợi và vì mục tiêu phát triển và thịnh vƣợng chung của
nay.
- Những nghiên cứu của luận văn có thế giúp làm tài liệu tham khảo, tra cứu
và tìm hiểu về quan hệ Nhật Bản – châu Phi đối với những ai quan tâm đến lĩnh vực
này.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tình hình nghiên cứu trong nước:
Với những tƣ liệu mà tác giả có đƣợc, tình hình nghiên cứu về “quan hệ Nhật
Bản – châu Phi” trong nƣớc trong thời gian qua còn tƣơng đối hiếm. Một số báo của
Việt Nam nhƣ Thông tấn xã Việt Nam, các báo mạng nhƣ: baomoi.com;
news.go.vn; vov.vn … đã đăng tải những bài liên quan đến quan hệ Nhật Bản –
châu Phi song ở dạng tin tức tham khảo. Viện Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông
có quyết định thành lập năm 2004 và đi vào hoạt động từ năm 2005 đã bƣớc đầu
cung cấp những bài viết về quan hệ Nhật Bản – châu Phi thông qua Tạp chí Nghiên
cứu Châu Phi và Trung Đông đƣợc xuất bản hàng tháng. Đây là những bài viết đơn
lẻ mà tác giả bƣớc đầu nghiên cứu về quan hệ Nhật Bản – châu Phi qua từng giai
đoạn và trong từng lĩnh vực hợp tác, chƣa cho độc giả một bức tranh tổng thể về
mối quan hệ này. Chẳng hạn, các bài viết nhƣ: “Quan hệ ngoại giao Nhật – Phi
qua các thời kỳ lịch sử” đăng trên Tạp chí NC Châu Phi và Trung Đông, Số
12 (16), 12/2006; Đôi nét về quan hệ kinh tế Nhật Bản –Châu Phi, Tạp chí
NC Châu Phi và Trung Đông, Số 6 (22), 6/2007; Quan hệ chính trị -ngoại
giao giữa Nhật Bản và châu Phi trong những năm đầu thế kỷ XXI, Tạp chí
NC Châu Phi và Trung Đông, Số 3(31), 3/2008…
Bên cạnh đó, những công trình nghiên cứu cấp bộ của Viện Nghiên cứu Châu
Phi và Trung Đông đã đƣợc xuất bản qua các năm đã góp phần bổ sung thêm nhiều
thông tin hữu ích về quan hệ Nhật Bản – châu Phi cũng nhƣ phân tích mối quan hệ
này ở những cấp độ, khía cạnh khác nhau. Chẳng hạn, trong cuốn “Việt Nam và
châu Phi: Nghiên cứu so sánh kinh nghiệm và cơ hội phát triển” do PGS.TS. Đỗ
Đức Định và TS. Greg Mill chủ biên xuất bản năm 2007, chƣơng 13 của tác giả
Izumi Ohno chỉ đề cập đến ODA của Nhật Bản dành cho Ghana – một nỗ lực thí
việc xây dựng mối quan hệ hợp tác với châu Phi và Nhật Bản.
Tình hình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài:
Khu vực châu Phi là nơi hội tụ của hầu nhƣ tất cả các vấn đề quan trọng mang
tính toàn cầu. Xuất phát từ những lợi ích gián tiếp hoặc trực tiếp mà khu vực này trở
thành đối tƣợng nghiên cứu của rất nhiều quốc gia, đặc biệt là các nƣớc lớn trong đó
có Nhật Bản.
Do vậy, những thông tin quan trọng về quan hệ Nhật Bản – châu Phi rất dễ tìm
kiếm đƣợc trên các trang điện tử tiếng Anh của bộ Ngoại giao Nhật Bản
( bộ Tài chính Nhật Bản
() hay trang điện tử của các tổ chức, diễn đàn quốc tế nhƣ:
l;
Bên cạnh đó, còn có rất nhiều công trình nghiên cứu về quan hệ Nhật Bản –
châu Phi không chỉ của các nhà học giả Nhật Bản mà cả quốc tế. Chẳng hạn, bài
viết „Quan hệ Nhật Bản – châu Phi trong thế kỷ XXI” (Japan – Africa in the
Twenty-First Century) của học giả Oda Hideo xuất bản vào tháng 6/2001 trong tạp
chí Gaiko Forum số 155 và bài viết “Các xu hƣớng mới nổi trong quan hệ Nhật Bản
– châu Phi: Từ cách tiếp cận của châu Phi” (Emerging Trends in Japan – Africa
Relations: An African Perspective) của Seifuden Adem đăng trên tạp chí Africa
Studies Quarterly 5(2) đều đã phân tích về chuyến thăm của thủ tƣớng Nhật Bản
Mori đến châu Phi – mở ra một chƣơng mới trong chính sách toàn cầu của Nhật
Bản và tìm kiếm hỗ trợ châu Phi giải quyết các vấn đề của châu lục. Trong bài trình
bày của Makoto Sato tại hội nghị thƣợng đỉnh Gleneagles năm 2005 với tiêu đề
“Chính sách ngoại giao viện trợ của Nhật Bản tại châu Phi: Phân tích theo tiến trình
lịch sử” (Japanese Aid Diplomacy in Africa: An Historical Analysis” đã đề cập đến
lịch sử viện trợ của Nhật Bản tại châu Phi, phân tích đánh giá của quốc tế về viện
trợ của Nhật Bản tại châu lục này. Hay giáo sƣ danh dự Kweku Ampiah chuyên
nghiên cứu về Nhật Bản của khoa nghiên cứu Đông Á, trƣờng đại học Leeds đã có
một số bài viết đề cập đến quan hệ Nhật Bản – châu Phi, cụ thể là bài viết “Sự năng
Trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đề tài sử dụng
các phƣơng pháp nghiên cứu chuyên ngành khoa học xã hội nhƣ phân tích, tổng
hợp, so sánh, thống kê và dự báo để làm rõ các vấn đề đƣợc nghiên cứu trong phạm
vi đề tài. Cách tiếp cận hệ thống, đa ngành và liên ngành đƣợc sử dụng rộng rãi khi
xem xét các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu.
Ngoài ra, đề tài cũng sử dụng các biên pháp nghiên cứu riêng phù hợp để tiếp
cận, lý giải, thu thập thông tin. Đó là các phƣơng pháp nghiên cứu, tiếp cận thông
tin trực tiếp thông qua việc trao đổi với một số cá nhân và tổ chức khoa học của
Nhật Bản, Nam Phi, Nigeria, Liberia, Mozambia và các tổ chức quốc tế khác mà
Viện Nghiên cứu Châu Phivà Trung Đông đã có quan hệ hợp tác, đồng thời khai
thác những thông tin gián tiếp qua các nguồn tƣ liệu thứ cấp, các sách báo nghiên
cứu chuyên ngành, các văn bản, các nguồn tài liệu trên internet và trong thƣ viện…
5. Cấu trúc của luận văn
Nhằm đáp ứng nhu cầu nghiên cứu đề tài “Quan hệ Nhật Bản – châu Phi
trong thập niên đầu thế kỷ XXI”, nội dung của đề tài đƣợc thể hiện qua các
chƣơng, mục sau đây:
Chương 1 nghiên cứu khái lược lịch sử hình thành và phát triển quan hệ
Nhật Bản – châu Phi qua các thời kỳ. Trong chƣơng này, trƣớc hết đề tài nêu tổng
quan về Nhật Bản và châu Phi; tiếp đó là nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển
quan hệ Nhật Bản và châu Phi qua các thời kỳ : từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX ; từ
thế kỷ XIX đến Đại chiến thế giới lần thứ I ; từ Đại chiến thế giới lần I đến Đại
chiến thế giới lần thứ II ; sau Đại chiến thế giới lần II.
Chương 2 nghiên cứu quan hệ Nhật Bản – Châu Phi trong thập niên đầu thế
kỷ XXI, trong đó tập trung nghiên cứu thực trạng quan hệ chính trị - ngoại giao và
quan hệ kinh tế bao gồm thƣơng mại, đầu tƣ và viện trợ, đồng thời nêu rõ động lực
thúc đẩy quan hệ chính trị - ngoại giao Nhật Bản – châu Phi trong những năm đầu
thế kỷ XXI.
Chương 3 đánh giá về quan hệ Nhật Bản – châu Phi và đưa ra một số gợi ý
cho Việt Nam. Trong chƣơng này, sẽ tập trung đánh giá vai trò, vị thế và ảnh hƣởng
chiếm không quá 1/5 diện tích của Nhật Bản, trong khi đó diện tích còn lại chủ yếu
là diện tích đất đồi núi. Song nhờ đầu tƣ lớn và sử dụng khoa học công nghệ cao
trong nông nghiệp, nên đó là những vùng sản xuất toàn bộ thóc gạo của Nhật Bản
với năng suất cao.
Trái ngƣợc hẳn với châu Phi, Nhật Bản là đất nƣớc nghèo nàn về tài nguyên
thiên nhiên. Về khoáng sản nhiên liệu, mặc dù đƣợc ví nhƣ một hòn đảo tro nổi trên
biển dung nham, nhƣng cả hai chất liệu đó đều không phải nguồn năng lƣợng có
ích. Các mỏ dầu và khí đốt tự nhiên của Nhật Bản nằm ở Akita và Niigata trên bờ
biển Nhật Bản, và chỉ đáp ứng một phần rất nhỏ nhu cầu của đất nƣớc. Về kim loại,
Nhật Bản cũng có ít mỏ kim loại chính mà có thể đáp ứng đủ quá trình công nghiệp
hoá sau Đại chiến thế giới II, nên Nhật Bản đã tìm nguồn cung cấp nguyên liệu rẻ từ
bên ngoài nói chung và từ châu Phi nói riêng.
Tính đến tháng 10 năm 2010, tổng dân số của Nhật Bản là 125,77 triệu ngƣời
trong đó số ngƣời từ 65 tuổi trở lên tại Nhật Bản chiếm khoảng 25% tổng dân số.
Xu hƣớng lão hoá dân số đã phần nào ảnh hƣởng đến sự phát triển kinh tế của Nhật
Bản . Ở Nhật Bản dân cƣ phân bố không đồng đều, tập trung ở những vùng đất chật
hẹp nhƣ các đồng bằng ven biển, các lòng chảo trong đất liền và các lƣu vực sông
mà chủ yếu tập trung ở 3 trung tâm lớn: Tokyo-Yokohama, Nagoya và Osaka-
Kobe-Kyoto.
Nói đến Nhật Bản là ngƣời ta nói đến sự phát triển “thần kỳ” nền kinh tế
Nhật Bản và hiện nay Nhật Bản là một trong những nƣớc có nền kinh tế phát triển
nhất với năng suất và kỹ thuật công nghệ tiên tiến nhất thế giới. Nhờ những thành
quả đã đạt đƣợc mà Nhật Bản ngày càng có nhiều đóng góp tích cực trong việc giúp
các nƣớc khác, các khu vực khác trên thế giới cùng phát triển vì một thế giới hoà
bình phát triển và thịnh vƣợng.
1.1.2. Tổng quan về châu Phi
Châu Phi nằm về phía Tây Nam lục địa Á – Âu ở hai bên đƣờng xích đạo.
Phía Bắc, châu Phi nhìn ra Địa Trung Hải. Phía Đông Bắc, châu Phi giáp với khu
vực Trung Đông. Phía Tây, châu Phi nhìn ra Đại Tây Dƣơng và phía Đông nhìn ra
Quan hệ Nhật Bản và châu Phi bắt đầu diễn ra cách đây vài trăm năm, cụ thể
vào năm 1510 khi các thuyền của Bồ Đào Nha chở theo những ngƣời nô lệ da đen
đầu tiên đặt chân đến Nagasaki. Một vài thuỷ thủ châu Phi- những ngƣời làm việc
trên những chiếc tàu này đã mua các nô lệ Nhật Bản. Khi ngƣời Bồ Đào Nha bị trục
xuất khỏi Nhật Bản vào đầu thế kỷ XVII, thì một số ít ngƣời châu Phi vẫn ở lại
Nhật Bản để giúp tìm kiếm và bắt giữ những ngƣời truyền giáo I-bê-ri. Những
ngƣời châu Phi là những ngƣời tham gia tích cực trong việc buôn bán nô lệ Nhật
Bản và cùng với Nhật Bản nỗ lực đuổi những ngƣời truyền giáo I-bê-ri ra khỏi đất
nƣớc này.
Còn về phía Nhật Bản, họ đặt chân lên lục địa Đen vào năm 1586 trong các
chuyến đi biển hƣớng về châu Âu. Đặc biệt, dƣới thời Tokugawa (từ năm 1603 đến
năm 1868), những ngƣời Hà Lan đƣợc phép buôn bán với Nhật Bản và đƣợc yêu
cầu giới thiệu cho ngƣời Nhật biết về tình hình thế giới. Các nhà học giả hàng đầu
thời Tokugawa đặc biệt quan tâm đến việc các cƣờng quốc châu Âu đã sử dụng tôn
giáo nhƣ một phƣơng tiện để mở rộng ảnh hƣởng của mình ở châu Phi. Aizawa
Seishisai, một học giả thời Tokugawa cho rằng Nhật Bản cần xây dựng tƣ tƣởng
quốc gia của riêng mình giống nhƣ những gì mà ngƣời châu Âu đã làm đối với
những con ngƣời xa xôi ở châu Phi. Hơn thế nữa, nhằm thúc đẩy sự thống nhất
quốc gia tại Nhật Bản và tạo điều kiện mở rộng sự ảnh hƣởng của Nhật Bản ở nƣớc
ngoài, theo học giả Aizawa thì Nhật Bản cần có tƣ tƣởng chính thống của riêng
mình. Bởi vì trƣớc đó, lợi ích kinh tế của ngƣời Nhật Bản ở châu Phi hầu nhƣ không
có, chủ yếu họ chịu ảnh hƣởng bởi tƣ tƣởng của ngƣời châu Âu trong việc thúc đẩy
và mở rộng ảnh hƣởng của châu Âu ở châu Phi. Do vậy, dƣới thời Tokugawa, nhận
thức của Nhật Bản về châu Phi đã dần dần tăng lên.
1.2.2. Từ giữa thế kỷ XIX cho đến Đại chiến Thế giới lần thứ I
Giữa thế kỷ XIX, sau khi buộc phải “mở cửa” và ký “các hiệp ƣớc không
bình đẳng” với các cƣờng quốc Tây Âu, Nhật Bản đã bắt đầu quan tâm hơn đến tình
hình châu Phi, bởi vì các cƣờng quốc châu Âu đã áp “các hiệp ƣớc không bình
đẳng” tƣơng tự đối với chính phủ các nƣớc châu Phi. Do đó, chính phủ Nhật Bản cố
hình thức buôn bán này, song họ không thể chặn đƣợc sự phát triển xuất khẩu nhanh
của Nhật Bản sang Đông Phi trong những năm cuối thập kỷ 1920 và đầu thập kỷ
1930, bởi những quyền của Nhật Bản trong hiệp định nói trên. Ở Tây Phi, Anh và
Pháp cũng đã thành công hơn trong việc hạn chế nhập khẩu của Nhật Bản trong
thập kỷ 1930 bằng cách huỷ bỏ các hiệp ƣớc thƣơng mại lâu dài với Nhật Bản.
Cũng trong thời kỳ này, Ai Cập và Nam Phi đã buộc phải tạo các hàng rào đối với
nhập khẩu của Nhật Bản bởi Anh đã tác động và có ảnh hƣởng mạnh ở khu vực
này. Sự ganh đua về thƣơng mại đã góp phần phá vỡ mối quan hệ giữa Nhật Bản
với Anh trong những năm 1930. Các rào cản ở châu Phi đã làm dấy lên sự chỉ trích
mạnh mẽ của những ngƣời theo chủ nghĩa dân tộc ở Nhật Bản – những ngƣời này
cho rằng trƣớc hết Nhật Bản cần phải bảo đảm thị trƣờng của Nhật Bản ở các nƣớc
châu Á gần kề với Nhật Bản chứ không phải ở một châu lục xa xôi.
Tuy nhiên, Nhật Bản đã phát triển mối quan hệ kinh tế – chính trị đặc biệt
chặt chẽ với Ethiopi, song ảnh hƣởng của Nhật Bản ở quốc gia châu Phi này không
lớn nhƣ những gì mà Nhật Bản kỳ vọng. Việc Italia xâm chiếm Ethiopia vào giữa
thập kỷ 1930 đã buộc chính phủ Nhật Bản phải can thiệp vào công việc của
Ethiopia. Song nhờ việc thƣơng thuyết với Italia của chính phủ Nhật Bản mà vị trí
của Nhật Bản ở Manchuria đã đƣợc Italia công nhận và ngƣợc lại Nhật Bản cũng đã
công nhận vị trí của Italia ở Ethiopia. Chính điều này đã đặt nền tảng xây dựng một
liên minh giữa Nhật Bản với Italia trƣớc khi nổ ra Đại chiến thế giới II. Buôn bán
giữa Nhật Bản với châu Phi đã bị gián đoạn trong giai đoạn Đại chiến thế giới II.
Qua những diễn biến trên đây, chúng ta nhận thấy rằng Nhật Bản đã từng
bƣớc thiết lập đƣợc mối quan hệ với một số nƣớc châu Phi. Mặc dù những mối quan
hệ đó còn rất mờ nhạt và bị gián đoạn song phần nào giúp chúng ta hình dung về
quá trình tiếp cận của Nhật Bản đối với lục địa đen nhằm tạo nền tảng cho những
bƣớc tiến tiếp sau quá trình phát triển mối quan hệ giữa Nhật Bản và các nƣớc châu
Phi.
1.2.4 Sau Đại chiến thế giới lần thứ II
Sau Đại chiến thế giới II, buôn bán của Nhật Bản với châu Phi đƣợc khôi
đáng kể ở châu lục này, tốc độ tăng trƣởng kinh tế thực của châu Phi bao gồm các
nƣớc Bắc Phi trừ Ai Cập và Lybia tăng 5%, cao hơn 2% so với năm trƣớc đó. Có đ-
ƣợc kết quả này là nhờ các nƣớc châu Phi đã khôi phục sản xuất nông nghiệp, cộng
với việc giá dầu thô tăng và ổn định về chính trị. Do đó, năm 1996 xuất khẩu của
châu Phi đã đạt 108,5 tỷ USD (tăng 10,4% so với năm trƣớc) và nhập khẩu đạt
100,5 tỷ USD (tăng 2,7% cũng so với năm trƣớc).
Bên cạnh đó, với sáng kiến thành lập Hội nghị quốc tế Tokyo về Phát triển
châu Phi lần thứ nhất (TICAD I) đƣợc tổ chức vào năm 1993, Nhật Bản đã giúp
châu Phi mở cửa các thị trƣờng nƣớc ngoài mới và đặc biệt TICAD đã tạo cơ hội
thúc đẩy mối quan hệ Á - Phi nói chung, đặc biệt quan hệ thƣơng mại giữa châu Phi
và các nƣớc châu Á tăng trƣởng nhanh chóng. Xuất khẩu từ châu Phi sang châu Á
tăng bình quân 8,9% năm, lên đến trên 20 tỷ USD. Châu Á xuất khẩu sang châu Phi
cũng tăng trƣởng khá, bình quân 7,4% năm. Những nƣớc xuất khẩu nhiều nhất vào
châu Phi là Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc. Năm 1997, Nhật Bản xuất khẩu
hàng hoá sang châu Phi trị giá 5.773 triệu USD (so với năm trƣớc đó có giảm 22%)
song ngƣợc lại nhập khẩu lại tăng 7,8% trị giá 4.991 triệu USD. Các sản phẩm mà
Nhật Bản xuất khẩu sang thị trƣờng châu Phi chủ yếu là các sản phẩm máy móc,
thiết bị, hàng điện, điện tử, cơ khí, hàng dệt, ôtô, xe máy , và nhập khẩu chủ yếu
từ châu Phi là dầu mỏ, khoáng sản, nhiên liệu, hàng nông nghiệp và hải sản vốn
là thế mạnh của lục địa đen này (Nguồn: Website của Bộ Ngoại giao Nhật Bản).
Mặc dù Nhật Bản đã thiết lập quan hệ ngoại giao với các nƣớc châu Phi, song quan
hệ thƣơng mại chỉ chủ yếu tập trung với các nƣớc nhƣ Algeria, Angola, Cameroon,
Ai Cập, Ghana, Guinea, Marocco, Nigeria, Kenya, Nam Phi, Tanzania, Uganda và
Zimbabwe
Trong Chƣơng trình hành động Tokyo đƣợc thông qua tại TICAD II diễn ra
vào tháng 10 năm 1998, hợp tác Nam – Nam đã đƣợc coi là “một yếu tố vô cùng
quan trọng đối với sự phát triển của châu Phi”. Mặc dù cuộc khủng hoảng kinh tế
năm 1997 đã phần nào làm suy yếu nền kinh tế Nhật Bản, nhƣng Nhật Bản vẫn
khẳng định thực hiện các mục tiêu đối với châu Phi mà Nhật Bản đã đặt ra cách
Không có
1951-1998
4
Botswana
Không có
5
Burdina Faso
350 triệu Yên
1951-1998
6
Burundi
Không có
1951-1998
7
Cameroon
1.276 triệu Yên
1951-1998
8
Cape Verde
Không có
1951-1998
9
Cộng hoà Trung Phi
Không có
1951-1998
10
Chad
Không có
1951-1998
1951-1998
18
Eritrea
Không có
19
Ethiopia
6,83 triệu USD
1951-1974 (Sau năm
1994 không có đầu
tƣ trực tiếp của Nhật
Bản do chính sách
dân tộc hoá của
Ethiopia)
20
Gabon
16.936 triệu Yên
1951-1998
21
Gambia
575 triệu Yên
1951-1998
22
Ghana
797 triệu Yên
1951-1998
23
Guinea
Không có
1951-1998
31
Mali
Không có
32
Mauritania
1.517 triệu Yên
1951-1998
33
Mauritius
7.044 triệu Yên
1951-1998
34
Morocco
4,66 triệu USD bao gồm 14
dự án
35
Mozambique
4,97 tỷ Yên
Đến cuối năm 1998
36
Namibia
1,09 triệu USD
Đến cuối tháng 3
năm 1998
37
Niger
23.189 triệu Yên
1951-1998
49,159 tỷ Yên bao gồm 29
dự án
1951-1997
46
Sudan
Không có
47
Swaziland
0,12 tỷ Yên
Đến năm 1998
48
Tanzania
2.186 triệu Yên bao gồm 19
dự án
Đến năm 1998
49
Togo
Không có
1951-1998
50
Tunisia
2 triệu USD
Đến năm 1992
51
Uganda
212 triệu Yên bao gồm 5 dự
án
Đến năm 1998
52