ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THANH HOÀ
QUAN HỆ AN NINH NGA - MỸ
TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ
2.1.2. Chiến lược toàn cầu của Mỹ 38
2.2. Những biểu hiện mới của quan hệ an ninh Nga - Mỹ trong những năm
đầu thế kỷ XXI 42
2.2.1. Quá trình điều chỉnh quan hệ Nga - Mỹ 42
2
2.2.2. Hợp tác chống khủng bố 47
2.2.3. Giải quyết các vấn đề quốc tế 51
2.2.4. Vấn đề triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa 54
2.2.5. Vấn đề tên lửa - hạt nhân 57
Tiểu kết 61
Chƣơng 3: CHIỀU HƢỚNG QUAN HỆ SONG PHƢƠNG NGA - MỸ
VÀ ẢNH HƢỞNG ĐỐI VỚI MÔI TRƢỜNG AN NINH CHÍNH TRỊ
THẾ GIỚI 62
3.1. Chiều hướng quan hệ song phương Nga - Mỹ 62
3.2. Ảnh hưởng đối với môi trường an ninh chính trị thế giới 67
Tiều kết 73
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC 82
3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ABM
Hiệp ước chống tên lửa đạn đạo
Anti-Ballistic Missile
BMD
Phòng thủ tên lửa đạn đạo
4
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô
đã đồng thời làm cho cuộc đối đầu Đông – Tây gay gắt và khốc liệt kéo dài
hơn 4 thập kỉ kết thúc. Biến cố có tính bước ngoặt này dẫn đến sự tan vỡ của
trật tự hai cực Xô - Mỹ được hình thành từ sau chiến tranh thế giới thứ hai và
mở đầu cho quá trình tìm kiếm, kiến tạo một trật tự mới. Trong trật tự mới
được nhận định là đang hình thành hiện nay, vai trò của các nước vừa và nhỏ
ngày càng được nâng cao, tiếng nói của các nước đang phát triển có ảnh
hưởng không nhỏ đến đời sống quan hệ quốc tế.
Tuy nhiên, quan hệ quốc tế từ trước tới nay luôn vận động theo một
trục do sự tác động qua lại giữa các nước lớn, cho dù thế giới đang ở trong bất
kỳ một trật tự nào. Điều đó cũng có nghĩa các nước lớn luôn là tác nhân quyết
định đem lại hoặc là sự ổn định, hoặc là sự bất ổn cho thế giới. Thực tiễn
những năm gần đây cho thấy các nước lớn vẫn áp đặt và chi phối nhiều vấn đề
của thế giới như cuộc chiến ở Afghanistan, Iraq, vấn đề hoà bình ở Trung
Đông, vấn đề hạt nhân ở Iran và Bắc Triều Tiên…
Nhìn chung, các nước lớn có vai trò là diễn viên chính trên sân khấu thế
giới. Quan hệ của các nước lớn chi phối quan hệ quốc tế, chi phối quá trình
hình thành và cơ chế vận hành của trật tự thế giới. Trong số những nước lớn
của thế giới hiện nay phải kể đến Mỹ và Liên bang Nga - những nước có
―quyền lực‖, ―có sức mạnh cưỡng chế‖, ―khả năng khống chế‘, ―khả năng chi
phối‖… trong quan hệ quốc tế. Chính vì vậy, mỗi động thái trong quan hệ
giữa Nga và Mỹ không thể không liên quan đến lợi ích của mỗi nước mà còn
làm thay đổi tương quan lực lượng và cục diện thế giới, ảnh hưởng sâu sắc
đối với hoà bình, an ninh và sự phát triển của các nước trong khu vực và trên
thế giới. Điều đó đòi hỏi các nước vừa và nhỏ trong đó có Việt Nam luôn phải
thúc cùng những chính sách và sự thay đổi trong bộ máy chính quyền của Mỹ.
6
Cuốn sách ―Chính sách đối ngoại Hoa Kỳ, động cơ của sự lựa chọn trong thế
kỷ XXI” của Bruce W. Jentleson, đã được dịch ra tiếng Việt, của nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia, phát hành năm 2004, trình bày khái quát cơ sở lý luận và
lịch sử hình thành chính sách đối ngoại Mỹ, từ đó phân tích một số nội dung
cơ bản của quá trình hoạch định chính sách trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh,
cũng như những lựa chọn và thách thức đang đặt ra cho chính sách đối ngoại
Mỹ trong thế kỷ XXI. Một cuốn sách khác cũng được xuất bản năm 2004 của
tác giả Walter Lafeber, ―America, Russia, and the Cold War 1945-2002, Nxb
New York, đã trình bày tương đối đầy đủ những chi tiết và nhận định về sự
ảnh hưởng của Mỹ và vai trò liên quan tới các cuộc chiến tranh ở các quốc gia
khác của các nước này, trong đó đặc biệt chú trọng đến những sự kiện được
coi là chấm dứt chiến tranh lạnh như: sự kiện sụp đổ của chế độ xã hội chủ
nghĩa ở Đông Âu và phá bỏ bức tường Beclin giữa hai nước Đức, cũng như
nghiên cứu về quan hệ ngoại giao giữa Mỹ - Nga trong thời gian một thập kỷ
kể từ sau chiến tranh lạnh. Trong cuốn “American foreign policy in a new
era” của tác giả Robert Jervis, Nxb Routledge xuất bản năm 2005, cũng phân
tích một số sự kiện chính trị của Mỹ từ năm 2001: sự kiện 11/9 và ảnh hưởng
của nó đối với thế giới, lý thuyết về chiến tranh chống khủng bố của Mỹ dưới
sự chỉ đạo của Bush, mối quan hệ quốc tế của Mỹ với các nước và vấn đề an
ninh quốc tế và cuộc chiến chống khủng bố. Ngoài ra, còn có nhiều bài viết
trên các tạp chí chuyên ngành đăng tải các nội dung liên quan đến vấn đề này.
2.2. Ở trong nƣớc, tác giả Hà Mỹ Hương đã có nhiều công trình
nghiên cứu về quan hệ Nga - Mỹ sau chiến tranh lạnh. Cuốn ‗Quan hệ Nga -
Mỹ sau chiến tranh lạnh” xuất bản năm 2003, đã phân tích tương đối bao
quát mối quan hệ Nga - Mỹ qua chính sách đối ngoại của từng nước trong cục
diện quan hệ quốc tế đã thay đổi nhanh chóng, phức tạp từ sau chiến tranh
lạnh, để từ đó đánh giá bản chất và triển vọng mối quan hệ quốc tế này cũng
khảo để hoàn thành Luận văn của mình.
8
3. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu của đề tài
Trong quan niệm truyền thống vốn tương đối hẹp, an ninh quốc gia
được nhìn nhận chủ yếu như là việc đảm bảo chủ quyền, an toàn của hệ thống
chính trị và cuộc sống bình yên của nhân dân trước sự đe doạ, xâm lược hay
lật đổ của các thế lực nước ngoài và các thế lực chống đối chế độ trong nước.
Trong cách quan niệm toàn diện về an ninh (comprehansive security), người
ta không giới hạn an ninh quốc gia trong các mối quan hệ đối ngoại thuần tuý,
mà trong tổng thể các mối quan hệ ỏ bên trong lẫn bên ngoài các quốc gia và
liên quan đến nhiều lĩnh vực: từ quân sự, chính trị đến kinh tế, văn hoá, xã
hội, môi trường và con người. Trong phạm vi Luận văn tốt nghiệp này, tác giả
tìm hiểu về quan hệ an ninh Nga – Mỹ ở khía cạnh an ninh chính trị và ngoại
giao. Tuy vậy trong bối cảnh quốc tế mới, khi lý giải những diễn biến của mối
quan hệ an ninh Nga – Mỹ, không thể không đề cập đến các yếu tố khác như
yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội…
Về thời gian, luận văn tập trung chủ yếu vào quan hệ an ninh Nga – Mỹ
giai đoạn những năm đầu thế kỷ XXI, lấy mốc từ năm 2000 đến những diễn
biến cập nhật gần đây nhất của năm 2009.
Về không gian, luận văn tìm hiểu quan hệ Nga – Mỹ và ảnh hưởng của
quan hệ này đối với môi trường an ninh chính trị thế giới.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn tƣ liệu
4.1. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đây là một đề tài lịch sử quan hệ quốc tế, vì vậy phương pháp nghiên cứu
quốc tế; phương pháp lịch sử và logic để phân tích mối quan hệ giữa các sự
kiện luôn là dòng mạch chính của luận văn. Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng
các phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp phân tích và tổng hợp,
phương pháp thống kê và so sánh…để hoàn thành Luận văn của mình.
XXI
10
Chương 3: Chiều hướng quan hệ song phương Nga - Mỹ và ảnh hưởng đối
với môi trường an ninh chính trị thế giới.
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
11
Chƣơng 1
NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ AN NINH
NGA - MỸ TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI
1.1. Khái quát quan hệ Nga – Mỹ thập niên đầu sau chiến tranh lạnh
1.1.1. Vài nét về quan hệ Xô – Mỹ
Quan hệ Nga - Mỹ là sự kế thừa quan hệ Xô – Mỹ trước đây. Do đó để
hiểu được quan hệ Nga – Mỹ, không thể không đề cập những nét cơ bản về
quan hệ Xô – Mỹ trước đây.
Sau thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười (1917), nước
Nga Xô viết ra đời, sau đó là Liên Xô, trải qua một quá trình đấu tranh lâu
dài, cuối cùng Mỹ chính thức công nhận Liên Xô và hai nước thiết lập quan
hệ ngoại giao vào năm 1933. Đây là dấu mốc đánh dấu một giai đoạn mới
trong quan hệ giữa hai nước (sau 1945 trở thành hai siêu cường đứng đầu hai
hệ thống chính trị - xã hội đối lập trong quan hệ quốc tế thế kỷ XX). Vào
những năm 30, thế giới đã hình thành ba lò lửa chiến tranh thế giới và do bản
chất của chủ nghĩa đế quốc, Mỹ thực hiện ―chính sách trung lập‖, ―không can
thiệp‖, thực chất là âm mưu mượn tay người khác đánh nhau để đứng giữa
trục lợi, trong đó có âm mưu thông qua chủ nghĩa phát xít để xóa bỏ chế độ xã
hội chủ nghĩa ở Liên Xô. Nhưng sau khi phát xít Đức, Italia đã thôn tính
Nhật (1951), SEATO (1954), CENTO (1955) và các đồng minh trong hiệp
ước quân sự song phương khác. Trải qua các đời Tổng thống khác nhau với
các học thuyết, chiến lược, biện pháp, phương thức khác nhau song từ năm
1947 đến 1991, mục tiêu đối ngoại xuyên suốt, nhất quán của Mỹ là thống trị
thế giới và tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản, trước hết là Liên Xô.
Với Liên Xô, để đối phó với Mỹ và các nước đồng minh của Mỹ, bảo
vệ thành quả cách mạng, Liên Xô buộc phải tìm mọi cách tăng cường sức
13
mạnh chính trị, quân sự của mình. Điển hình năm 1955, liên minh chính trị -
quân sự với tên gọi là Hiệp ước Vacsava được thành lập. Mục đích của Hiệp
ước là giữ gìn an ninh của các nước thành viên, duy trì hoà bình ở châu Âu,
củng cố tình hữu nghị, sự hợp tác toàn diện, bền vững giữa các nước thành
viên. Sự tồn tại của khối NATO và khối Vacsava đưa đến một cuộc đối đầu
căng thẳng, cuộc chạy đua vũ trang quy mô lớn trong suốt thời kỳ chiến tranh
lạnh. Cuộc chạy đua vũ trang này đạt tới đỉnh cao vào những năm 1970 khi
hai bên cân bằng vũ khí hạt nhân chiến lược.
Năm 1985 đánh dấu bước khởi đầu chuyển biến từ đối đầu sang đối
thoại giữa Liên Xô và Mỹ. Nhiều cuộc gặp chính thức cấp cao Xô - Mỹ được
tiến hành. Năm 1987 Hiệp ước về vũ khí hạt nhân tầm trung (INF) được ký
kết với thoả thuận hai bên phá huỷ khoảng 3% kho vũ khí hạt nhân của mỗi
nước. Năm 1989, tại Manta trong cuộc gặp giữa M. Gorbachev và G.Bush,
Liên Xô và Mỹ đã ký Tuyên bố chung, trong đó khẳng định hai nước không
coi nhau là kẻ thù, thoả thuận cắt giảm vũ khí hạt nhân chiến lược và tăng
cường hợp tác với nhau. Nhiều nước phương Tây coi sự kiện này là thời điểm
bắt đầu kết thúc thời kỳ chiến tranh lạnh giữa hai siêu cường.
Tháng 3/1991, Tổ chức hiệp ước Vacsava tuyên bố tự giải thể. Tháng
7/1991 Mỹ và Liên Xô ký Hiệp ước cắt giảm vũ khí tiến công chiến lược
(START - 1), với nội dung hai nước sẽ thủ tiêu khoảng 1/3 kho vũ khí hạt
nhân chiến lược của mỗi bên trong vòng 7 năm. Như vậy, đến thời điểm này
và Mỹ, Tuyên bố chung Vancouver tháng 4/1993 giữa Tổng thống Nga và
Tổng thống Mỹ đã phản ánh ―tinh thần hợp tác‖ giữa Nga và Mỹ. Hiến
chương Washington tháng 6/1992 ghi: ―Nga và Mỹ có những lợi ích chung là
không phổ biến vũ khí giết người hàng loạt; bảo vệ môi trường sinh thái; đấu
tranh với tội phạm có tổ chức và buôn lậu ma tuý. Cả Nga và Mỹ đều quan
tâm sâu sắc đến sự ổn định và phồn vinh trên toàn thế giới; mỗi nước Nga và
Mỹ coi sự phồn vinh của nước kia là điều quan trọng nhất cho phúc lợi của
15
chính mình, đáp ứng lợi ích của nước mình‖; ―sự sung túc, phồn vinh và an
ninh cuả một Liên bang Nga dân chủ và Mỹ có quan hệ mật thiết, sống còn
với nhau‖ [13; 82].
Nước Nga mới giai đoạn 1992 -1993 với chính sách đối ngoại ―định
hướng Đại Tây Dương‖ đã khai thác mọi khả năng trong quan hệ với các
nước phương Tây, nhằm đưa nước Nga hoà nhập thế giới phương Tây. Mục
tiêu này đã được Tổng thống B.Yeltsin khẳng định trong bài phát biểu của
mình tại kỳ họp thứ 6 Đại hội đại biểu nhân dân toàn Nga ngày 17/4/1992:
―Nhiệm vụ trung tâm bao trùm mọi hoạt động quốc tế của Nga là xây dựng
quan hệ bạn bè với tất cả các nước dân chủ trên thế giới nhằm đảm bảo cho
nước Nga gia nhập khối cộng đồng các nước phương Tây một cách hợp pháp
và hài hòa” hoặc ―chúng ta phải trở về nơi mà chúng ta luôn ở đó – trở về
khối đồng minh, có thể nói là trở lại với sự liên minh với các cường quốc
phương Tây‖ [13;84]. Quan điểm này trước đó cũng được Bộ trưởng ngoại
giao Liên bang Nga lúc bấy giờ khẳng định: ―Lợi ích chiến lược và mục tiêu
ngoại giao của Nga là đưa nước Nga hòa nhập vào đại gia đình văn minh Bắc
bán cầu, gia nhập vào câu lạc bộ các nước phát triển nhất trên thế giới‖. Có
thể nói, trọng điểm ngoại giao Nga giai đoạn này là nhằm thúc đẩy mối quan
hệ hợp tác trên mọi lĩnh vực với Mỹ và các nước phương Tây và các nước này
được Nga xem là ―những đồng minh chiếm vị trí ưu tiên‖ trong chính sách
đối ngoại của mình. Tuy nhiên, chính sách đối ngoại hướng về phương Tây
nội bộ của nước Nga hơn là những vấn đề có tính chất quốc tế. Trong Thông
điệp đọc trước Hội đồng Liên bang Nga tháng 6/1996, Tổng thống B. Yeltsin
nhấn mạnh: ―Chính sách đối ngoại Nga hiện nay phải tập trung vào việc soạn
thảo ra những thoả thuận cùng được chấp nhận, bảo đảm quan hệ bình đẳng,
sự tôn trọng lẫn nhau, sẵn sàng có nhượng bộ hợp lý, hợp tình đi đôi với việc
tuân thủ nghiêm ngặt lợi ích quốc gia‖ [13; 98]. Trong hoạt động thực tiễn, sự
17
điều chỉnh chính sách đối ngoại của Nga được biểu hiện trước hết trong lĩnh
vực chính trị - đối ngoại, quân sự - an ninh và chú trọng hơn quan hệ kinh tế -
thương mại. Như Tổng thống B. Yeltsin phát biểu: ―Chúng ta phải tăng cường
đáng kể véctơ kinh tế trong chính sách đối ngoại. Cần đấu tranh để đạt được
việc huỷ bỏ các biện pháp phân biệt đối xử với các sản phẩm của các công ty
Nga. Những sáng kiến quốc tế của Nga, việc phát triển quan hệ chính trị của
Nga phải được củng cố bằng những thoả thuận về hợp tác kinh tế‖ [13; 89].
Trong quan hệ với các nước phương Tây, Nga ký với các nước NATO
―Định ước cơ sở về quan hệ tương hỗ, hợp tác và an ninh Nga - NATO‖tháng
7/1997. Hội đồng thường trực chung Nga – NATO cũng được thành lập, theo
đó Nga cũng có đại diện của mình ở đại bản doanh của khối NATO (Bỉ). Tuy
nhiên, Liên bang Nga đã nhận thức rõ rằng trong bối cảnh địa – chính trị mới
sau khi Liên Xô tan rã, để trở thành một cường quốc có ảnh hưởng quốc tế
thực sự, Nga phải có đồng minh, trước hết là các đồng minh trong không gian
Xôviết cũ. Do đó, Nga đã tích cực triển khai các biện pháp đối ngoại khác
nhau để thúc đẩy quá trình liên kết SNG. Điều này được Tổng thống B.
Yeltsin nhấn mạnh trong Thông điệp Liên bang năm 1998: ―Hướng ưu tiên
bất di bất dịch của chúng ta là SNG. Chúng ta sẽ cùng nhau củng cố liên minh
với Belarut…‖ [13; 95].
Năm 1999, Tổng thống B. Yeltsin tuyên bố từ chức trước thời hạn. Từ
đầu năm 2000, V. Putin lên nắm quyền đã cho công bố những văn bản rất
quan trọng đề cập các vấn đề đối ngoại. Đó là: Chiến lược an ninh quốc gia
tranh, giữa quan hệ hợp tác chiến lược và đối thủ tiềm tàng với Liên bang
Nga.
Điều này được thấy rõ trong các vấn đề khu vực quan trọng xét về lợi
ích chiến lược của Nga và Mỹ. Thứ nhất, là vấn đề SNG. SNG là Cộng đồng
các quốc gia độc lập, thành lập năm 1991, bao gồm 12 nước Công hòa Xôviết
cũ. Mỹ vẫn luôn dè chừng với di sản hạt nhân và vị thế kế thừa Liên Xô của
19
Nga, và lo ngại tình hình bất ổn trong không gian hậu Xôviết. Thực tế là Mỹ
không muốn Nga đóng vai trò lãnh đạo xu hướng liên kết SNG và trở thành
một trung tâm sức mạnh độc lập, tạo thành đối trọng với Mỹ. Do vậy mà Mỹ
đã dùng nhiều biện pháp kinh tế, tài chính, quân sự, ngoại giao để xác lập ảnh
hưởng, vai trò của mình ở khu vực này. Những động thái này đã gây nên phản
ứng gay gắt từ phía Nga và làm cho quan hệ Nga – Mỹ nảy sinh những bất
đồng về vấn đề này. Thứ hai là vấn đề Kosovo, Mỹ luôn phô trương sức mạnh
của mình ở Kosovo, Mỹ muốn Nga thấy rằng không thể đối chọi với Mỹ
trong các vấn đề quốc tế. Về phía Nga, thì cuộc chiến Kosovo đặt Nga vào
tình thế không thể bỏ mặc Nam Tư và cũng không thể đối đầu với Mỹ và
NATO. Do vậy, cuộc chiến ở Nam Tư đã đẩy quan hệ Nga – Mỹ vào tình
trạng căng thẳng nhất kể từ sau khi Liên Xô tan rã. Cuối cùng là vấn đề Trung
Đông, một khu vực có tầm quan trọng cả về chiến lược, kinh tế, chính trị này,
là nơi có ý nghĩa lâu dài trong chiến lược của hai nước Mỹ và Nga. Những
năm đầu thập niên 90, Nga luôn ủng hộ Mỹ trong cách giải quyết các vấn đề
của Trung Đông, như trong việc cấm vận Iraq. Nhưng ở giai đoạn sau, việc
Nga có quan hệ tốt với Iran, Iraq thì Mỹ đã có phản ứng gay gắt. Việc Nga
bán vũ khí cho Iran (Iran là nước nhập khẩu vũ khí của Nga đứng thứ hai sau
Trung Quốc) bị Mỹ xem là hoạt động tiếp tay cho chủ nghĩa khủng bố. Mặc
dù điều này không được minh chứng, song cũng cho thấy thái độ nghị kỵ vẫn
còn phổ biến trong quan hệ Nga – Mỹ.
Có thể kết luận rằng, ở thập niên 90, trong khi duy trì quan hệ ―đối tác
Nếu như ở thế kỷ trước, trong bối cảnh đối đầu Đông – Tây và căng thẳng
trong quan hệ quốc tế, an ninh quân sự chiếm vị trí ưu tiên hàng đầu trong
chiến lược của các nước, thì sang thế kỷ XXI, vị trí đó thuộc về yếu tố kinh tế.
Phát triển kinh tế là mục tiêu và ưu tiên số một trong chính sách đối nội và đối
ngoại của mỗi nước. Cả Nga và Mỹ đều có lợi thế lớn trước xu thế mới của
thời đại. Tuy nhiên, cả hai nước đều hiểu rằng yếu tố kinh tế không thể thay
21
thế được an ninh quân sự trong việc bảo đảm an ninh quốc gia. Thương mại
có vai trò kiềm chế quan trọng nhưng không bao giờ có thể thay thế được răn
đe cứng rắn dựa trên sức mạnh quân sự. Những cuộc xung đột cục bộ, khu
vực về các vấn đề sắc tộc, tôn giáo, lãnh thổ diễn ra liên tiếp, thậm chí có lúc
leo thang thành chiến tranh như cuộc chiến tranh vùng Vịnh, Afghanistan,
Iraq…cho thấy sức mạnh quân sự vẫn đóng vai trò hết sức quan trọng đối với
an ninh quốc gia và quốc tế. Theo lời phát biểu của cực Tổng thống Mỹ
R.Nixon thì một khi quyền lợi sinh tử của một quốc gia bị đe dọa, một cường
quốc sẽ vứt bỏ ngay cả những quan hệ kinh tế chặt chẽ nhất để chiến thắng.
Do vậy, việc tăng cường vũ trang, duy trì và mở rộng các liên minh quân sự
vẫn rất cần thiết đối với các quốc gia, đặc biệt là với các cường quốc nhiều
tham vọng.
Bước sang thiên niên kỷ mới, thế giới mở ra sự hợp tác và hội nhập
kinh tế trên quy mô toàn cầu. Sự hợp tác trên các mặt kinh tế, chính trị, xã
hội… cùng với sự phát triển vượt bậc cùa công nghệ hiện đại đã làm cho quá
trình quốc tế hóa được đẩy mạnh. Trong bối cảnh xu thế toàn cầu hóa diễn ra
mạnh mẽ trên thế giới, sự phụ thuộc lẫn nhau, đặc biệt về kinh tế giữa các
quốc gia ngày càng tăng lên thì an ninh của một quốc gia ảnh hưởng tới an
ninh khu vực. Khi nền kinh tế của một nước rơi vào khủng hoảng dẫn đến sự
bất ổn về an ninh – chính trị và nếu không kiểm soát được thì những bất ổn đó
có thể vượt qua biên giới, ảnh hưởng tới an ninh khu vực.
Bên cạnh đó, thế giới những năm đầu thế kỷ XXI cũng đang phải đối
- Sự phát triển mạnh mẽ của Trung Quốc, Ấn Độ, sự năng động của các
nước ASEAN, sự hồi phục kinh tế của Nhật Bản làm cho khu vực châu Á, đặc
biệt là Đông Á đang trở thành một khu vực phát triển năng động, thu hút sự
chú ý của các cường quốc và khu vực trên thế giới và được dự báo sẽ trở
thành nhân tố quan trọng thay đổi cơ cấu quyền lực của thế giới trong thế kỷ
XXI. Mỹ thông qua Diễn đàn hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương
23
(APEC) để tăng cường quan hệ với khu vực này, còn Liên minh châu Âu
cũng thúc đẩy các quan hệ song phương và đa phương trong Diễn đàn hợp tác
Á – Âu (ASEM) nhằm củng cố vai trò của mình ở Đông Á.
Vấn đề nữa nổi lên trong thế kỷ XXI là vai trò của an ninh năng lượng
trong cơ cấu quyền lực thế giới. Việc xuất hiện các cường quốc tiêu thụ năng
lượng mới với nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng trong khi nguồn cung đang cạn
kiệt đã tác động mạnh mẽ tới cơ cấu quyền lực thế giới, vấn đề an ninh năng
lượng ngày càng trở nên cấp bách. Trong thời gian vừa qua, các cuộc chiến
chống khủng bố mà Mỹ phát động tại Afghanistan, Iraq, quan hệ xấu đi của
Mỹ với các quốc gia Hồi giáo Trung Đông, đặc biệt là với Iran, một nước lớn
về sản xuất dầu mỏ, cùng với sự gia tăng nhu cầu dầu mỏ do sự phát triển
nhanh chóng của các nền kinh tế lớn Trung Quốc, Ấn Độ làm ảnh hưởng sâu
sắc tới quan hệ cung cầu năng lượng trên thị trường toàn cầu, giá dầu mỏ và
khí đốt tăng nhanh chóng. Vấn đề năng lượng buộc các quốc gia đều phải
điều chỉnh chiến lược đối ngoại của mình, đi tìm kiếm những nguồn cung cấp
năng lượng ổn định, đặc biệt là các cường quốc Mỹ, EU và Trung Quốc.
Cùng với tăng cường quan hệ ngoại giao chính trị, kinh tế - thương mại với
các khu vực, các nước nhiều dự trữ năng lượng, các cường quốc lớn luôn áp
dụng các biện pháp quân sự nhằm gia tăng vị thế trong cuộc chiến về năng
lượng. Chẳng hạn như Mỹ, sau cuộc chiến ở Afghanistan, Iraq, hiện gây sức
ép với Iran đều là những nguồn dầu lửa khổng lồ.
Những thay đổi của môi trường quốc tế những năm đầu thế kỷ XXI tạo
cao là cuộc xung đột giữa Chính phủ và Quốc hội cuối năm 1993. Nội chiến
diễn ra ở Chechnya đã làm trầm trọng thêm những khó khăn và gây thiệt hại
to lớn cho đất nước.
Bức tranh tổng quát của công cuộc cải tổ kinh tế thị trường ở Liên bang
Nga trong gần thập kỷ 90 là tình trạng suy giảm sản xuất, khủng hoảng trầm
trọng kéo dài, lạm phát luôn ở mức độ cao và rất cao, thâm hụt ngân sách
triền miên, nợ nần trong nước và nước ngoài ngày càng gia tăng. Năm 1997,
kinh tế của Liên bang Nga mới bắt đầu có mức tăng trưởng tương đương