Trường: ĐHSP TP. Hồ Chí Minh
Khoa: Lịch sử
Ngành: Quốc tế học
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Minh Kha – MSSV: K38.608.074
Quan hệ Mỹ - Trung trong
mười năm đầu thế kỷ XXI
Giảng viên hướng dẫn: TS. Lê Phụng Hoàng
Quan hệ Mỹ - Trung trong mười năm đầu thế kỷ XXI
Lời nói đầu
Trong thập niên đầu của thế kỷ XXI, thế giới đã chứng kiến những thay đổi hết sức lớn lao và nhanh
chóng trong môi trường quốc tế và khu vực đã và đang tác động rất mạnh đến chiến lược, chính sách và
quan hệ của các nước trên thế giới, nhất là sự thay đổi trong cán cân quyền lực giữa các nước lớn. Trong
đó nổi bật là Mỹ và Trung Quốc là hai nước lớn – một siêu cường đang tại vị và một cường quốc đang
lên – hiện có ảnh hưởng chi phối toàn diện đến tình hình an ninh, kinh tế, chính trị trên thế giới và khu
vực châu Á – Thái Bình Dương.
Quan hệ Mỹ – Trung Quốc là mối quan hệ ngày càng mang tính toàn cầu. Sự trỗi dậy toàn diện của
Trung Quốc với ảnh hưởng ngày càng lớn đang là mối quan tâm chủ yếu của các nhà chiến lược Mỹ,
cũng như ở khu vực. Vì họ cho rằng, trong các nước lớn ở khu vực này, Trung Quốc là nước duy nhất có
khả năng cạnh tranh và gây ảnh hưởng đến các lợi ích của Mỹ. Các nhà lãnh đạo Mỹ đã nhiều lần tuyên
bố: “Mỹ là một cường quốc ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương với những lợi ích bao trùm khắp khu
vực.” Chính vì thế, Mỹ không ngừng thực hiện những điều chỉnh chiến lược trong quan hệ với Trung
Quốc.
Sau sự kiện ngày 11 tháng 9, trong bối cảnh quốc tế mới, Mỹ đã thực hiện điều chỉnh chiến lược toàn cầu
mới, trong đó chiến lược đối với Trung Quốc ngày càng trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng.
Câu hỏi đặt ra là sự điều chỉnh chiến lược đối với Trung Quốc của Mỹ có gì mới? Nó đang tác động như
thế nào đối với Trung Quốc? Liệu Trung Quốc có chiến lược ứng phó ra sao? Những điều chỉnh này có
tác động như thế nào đến quan hệ Mỹ - Trung Quốc trong những năm tiếp theo? Đây là những vấn đề
trình toàn cầu hoá cũng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xoá đói giảm nghèo, nâng
cao đời sống của người dân trên thế giới. Với vị thế là hai cường quốc hùng mạnh trên
thế giới, tất nhiên là Mỹ và Trung Quốc được hưởng lợi nhiều từ quá trình toàn cầu hoá.
Do những lợi ích từ quá trình toàn cầu hoá, trong thời kỳ chính quyền Bush, Mỹ đã có
những điều chỉnh chiến lược trong quan hệ đối với Trung Quốc với xu hướng tăng cường
hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại và đầu tư. Tuy nhiên, sự hợp tác kinh tế
này cũng đặt ra những vấn đề căng thẳng trong quan hệ thương mại giữa hai nước. Mỹ bị
thâm hụt cán cân thương mại với Trung Quốc, bị sức ép mạnh từ Trung Quốc bởi việc
nâng giá đồng nhân dân tệ và vấn đề bản quyền tri thức, vấn đề chưa thể mở rộng thị
trường Trung Quốc hơn nữa. Bên cạnh đó, Trung Quốc đang phải chịu sức ép lớn từ Mỹ
và một số quốc gia phương Tây khác do việc tẩy chay hàng hoá chất lượng kém và một
số vấn đề khác.
3
Quan hệ Mỹ - Trung trong mười năm đầu thế kỷ XXI
Trong quá trình toàn cầu hoá, nổi lên xu hướng liên kết kinh tế toàn cầu, từ đó dẫn đến sự
ra đời của các tổ chức kinh tế và thương mại, tài chính quốc tế và khu vực như: Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB),…
Không chỉ thế, song song với toàn cầu hoá là xu hướng khu vực hoá như: Liên minh
Châu Âu (EU), Khu vực Tự do Thương mại Bắc Mỹ (NAFTA), Hiệp hội các quốc gia
Đông Nam Á (ASEAN), Khối Thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR)… Các tổ chức
này ngày càng mở rộng và phát triển, tăng cường sự hợp tác kinh tế giữa các quốc gia,
các khu vực, tăng cường trao đổi thương mại, đầu tư với lợi ích kinh tế là yếu tố được đặt
lên hàng đầu.
b. Khu vực hoá kinh tế
Châu Á – Thái Bình Dương là khu vực tập trung các nước lớn, trung tâm của mấy lực
lượng lớn, trong tương lai được một số nhà chiến lược đánh giá cao phần lớn tập trung tại
châu Á – Thái Bình Dương, đặc biệt là các nước lớn không phải là đồng minh mà là “đối
Singapore… có tiềm lực về vốn và công nghệ, có khả năng cạnh tranh rất mạnh trong
những lĩnh vực yêu cầu công nghệ trung gian.
Bên cạnh đó, châu Á – Thái Bình Dương cũng là khu vực hiện đang đi đầu trong việc tự
do hoá thương mại và đầu tư, tạo điều kiện cho sự luân chuyển hàng hoá giữa các nước
trong khu vực. Trong những năm đầu thế kỷ XXI, châu Á – Thái Bình Dương trở thành
động lực vừa thúc đẩy hợp tác kinh tế vừa thúc đẩy sự cạnh tranh ảnh hưởng giữa Mỹ và
Trung Quốc. Có thể nói, sự phát triển năng động của khu vực châu Á – Thái Bình Dương
là một trong những nhân tố có ảnh hưởng lớn điều chỉnh chính sách đối ngoại của Mỹ đối
với Trung Quốc từ năm 2001 và dự đoán sẽ tiếp tục chi phối sự điều chỉnh chính sách đối
ngoại của Mỹ đối với Trung Quốc trong thời gian tới.
Sau Chiến tranh lạnh, Mỹ đã chuyển trọng tâm chiến lược sang khu vực châu Á – Thái
Bình Dương. Khu vực này ngày càng chiếm vị trí đặc biệt cả trong lĩnh vực kinh tế, chính
trị lẫn trong chiến lược an ninh quân sự của Mỹ.
Hơn nữa, việc Trung Quốc đang trỗi dậy và ảnh hưởng ngày càng mở rộng ra khu vực
châu Á – Thái Bình Dương gây ra sự cạnh tranh ảnh hưởng đối với vị thế và vai trò lãnh
đạo của Mỹ tại khu vực này đã khiến cho không ít người trong chính giới Mỹ hết sức lo
ngại.
Trong quá trình phát triển của khu vực châu Á – Thái Bình Dương, mối quan hệ Mỹ Trung đóng vai trò rất quan trọng. Mối quan hệ này được củng cố bằng mức tăng trưởng
đáng kể của khu vực, sự hợp tác kinh tế giữa hai quốc gia, và lợi ích mà hai quốc gia này
thu được từ sự ổn định của khu vực.
Dự báo trong thời gian tới, kinh tế khu vực châu Á – Thái Bình Dương sẽ phải đối đầu
với những rủi ro mới về tài chính, nhưng sẽ vẫn duy trì được sức mạnh tài chính. Sự suy
thoái của nền kinh tế Mỹ có thể ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế của khu vực này.
Nhu cầu tiêu dùng của người Mỹ giảm, tác động tới vấn đề xuất khẩu hàng hoá từ các
nước châu Á sang thị trường Mỹ. Khu vực châu Á – Thái Bình Dương sẽ phải còn đối
mặt với nhiều khó khăn lớn như việc thắt chặt hơn tín dụng toàn cầu, các biện pháp điều
chỉnh đột ngột trong tỷ giá hối đoái, sự biến động giá dầu và giá cả các mặt hàng khác.
Quan hệ Mỹ - Trung Quốc sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế
của khu vực này, nhất là khu vực Đông Á.
c. Sự hội nhập kinh tế khu vực Đông Á
chóng và ngày càng trở nên phụ thuộc lẫn nhau thông qua hoạt động thương mại và đầu
tư. Các quốc gia Đông Nam Á ngày càng thể hiện khả năng cạnh tranh trên thị trường thế
giới. Thị phần của các quốc gia Đông Á trong tổng xuất khẩu hàng công nghiệp của thế
giới trong giai đoạn 1980 – 2002 đã tăng gấp đôi, từ 18% năm 1980 đến 39% năm 2002. 3
Trong đó, đáng chú ý nhất là các quốc gia mới công nghiệp hoá (NIEs), ASEAN và
Trung Quốc đều tăng thị phần đáng kể. Số liệu thống kê về tình hình thương mại cho thấy
2 Vn Media. http://www.vnmedia.vn/print.asp?newsid=118153
3 Theo www.tapchithoidai.org
6
Quan hệ Mỹ - Trung trong mười năm đầu thế kỷ XXI
kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp của các quốc gia Đông Á tới các nước trong cùng
khu vực đã tăng mạnh với tốc độ cao hơn nhiều so với xuất khẩu ra toàn thế giới.
Các quốc gia trong khu vực Đông Á đang có những nỗ lực hội nhập nền kinh tế khu vực,
tiến tới nhất thể hoá các ngành kinh tế Đông Á. Hiện nay, khu vực Đông Á đang chuyển
động mạnh mẽ trong các hoạt động thương mại và đầu tư. Song song đó, tiến trình hội
nhập kinh tế của khu vực Đông Á được phản ánh thông qua sự gia tăng mạnh mẽ của các
hiệp định tự do thương mại được ký kết giữa các quốc gia trong khu vực. Nỗ lực của các
quốc gia trong khu vực nhằm hình thành một cộng đồng kinh tế Đông Á trong tương lai
không chỉ thúc đẩy mạnh mẽ hợp tác và hội nhập kinh tế trong khu vực mà còn giúp châu
Á cạnh tranh với nhiều khối kinh tế lớn nhất hiện nay là Khu vực Mậu dịch Tự do Bắc
Mỹ và Liên minh Châu Âu.
Mười năm sau cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính châu Á, nhiều quốc gia vẫn cho rằng
Mỹ chưa quan tâm thoả đáng tới khu vực Đông Á. Từ sau sự kiện 11 – 9 – 2001, Mỹ tập
trung vào cuộc chiến chống khủng bố ở Afghanistan, Iraq. Trong khi đó, các quốc gia
Đông Á cố gắng phát triển Cộng đồng kinh tế Đông Á bao gồm cả các quốc gia ở bên
ngoài khu vực như Ấn Độ, Úc và New Zealand, nhưng không có Mỹ.
2. Hoà bình và hợp tác phát triển là xu thế chủ đạo, song các nguy cơ xung đột vẫn
tiềm ẩn
Hoà bình, hợp tác là mong muốn chung của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Xu thế hoà
bình, hợp tác và phát triển có thể coi là sợi chỉ đỏ trong quan hệ quốc tế từ khi Chiến
tranh lạnh kết thúc cho đến nay và cả trong tương lai. Những sự biến đổi trong tình hình
thế giới trong những năm qua cho các lực lượng trên thế giới nhìn chung đang đấu tranh
cho hoà bình và hợp tác để phát triển lớn mạnh.
Mặc dù xu hướng hoà bình hợp tác là xu thế không thể phủ nhận, song vẫn có nước lợi
dụng vị thế siêu cường hoặc cường quốc của mình để áp đặt sự lãnh đạo và những giá trị
của mình lên dân tộc khác. Đó là nguyên nhân thường xuyên gây ra mất ổn định trên thế
giới.
Trong giai đoạn hiện nay, cuộc đấu tranh giữa các quốc gia có thể sẽ tập trung trên lĩnh
vực kinh tế và văn hoá nhằm cơ cấu lại nền kinh tế, điều chỉnh về mặt kinh tế vĩ mô
nhằm thúc đẩy tăng cường và phát triển. Trong quan hệ quốc tế, lợi ích các quốc gia được
đặt lên hàng đầu thay cho sự chi phối của ý thức hệ. Lợi ích quốc gia và phát triển kinh tế
vừa thúc đẩy cho sự hợp tác giữa các quốc gia vừa tăng cường sự cạnh tranh về kinh tế
giữa các quốc gia. Việc tăng cường hợp tác kinh tế là yếu tố góp phần vào sự phát triển
kinh tế của mỗi quốc gia. Và trong đó, các quốc gia và các khu vực trên thế giới luôn
mong muốn tối đa lợi ích cho mình, và đôi khi lợi ích quốc gia hay khu vực này lại mâu
thuẫn với lợi ích quốc gia và khu vực khác. Vì vậy, các cuộc đấu tranh không ngừng diễn
ra. Các cuộc đấu tranh do mâu thuẫn về lợi ích có thể diễn ra trên tất cả các lĩnh vực: kinh
tế, chính trị, văn hoá, an ninh, quân sự…
Trong bối cảnh quốc tế đó, và trong thời gian qua, diễn biến quan hệ Mỹ và Trung Quốc
ổn định nhưng khá phức tạp. Về cơ bản, quan hệ Mỹ - Trung Quốc dựa trên cơ sở hoà
bình, hợp tác phù hợp với xu thế chung. Cả hai nước đều thể hiện chí hoà bình và hợp tác
trong việc hàn gắn những bất đồng. Trung Quốc và Mỹ duy trì trao đổi và điều phối trong
các vấn đề quốc tế và khu vực quan trọng. Hai bên thiết lập nhiều cơ chế đối thoại, trong
8
hơn 2,000 tỉ USD. Trong lĩnh vực đầu tư, Trung Quốc đã đem lại cơ hội lớn cho các nhà
4 Brahm, Laurence .(ed). 2001. China’s Century. The Awakening of the Next economic Powerhouse. New York:
John Willey & Sons. (theo chú thích của Lê Khương Thùy (chủ biên), Quan hệ Mỹ - Trung Quốc thập niên đầu thế
kỷ XXI , Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 2012)
5 Shenkar, Oded. (2005). “The Chinese century, The Rising Chinese Economy and Its impact on the Global
Economy”, “The Balance of Power” and “Your Job” Upper Saddle River: Wharton School Publishing. (theo chú
thích của Lê Khương Thùy (chủ biên), Quan hệ Mỹ - Trung Quốc thập niên đầu thế kỷ XXI , tài liệu đã dẫn, 2012)
9
Quan hệ Mỹ - Trung trong mười năm đầu thế kỷ XXI
đầu tư nước ngoài. Từ năm 1990 đến năm 2004, lợi nhuận mà các nhà đầu tư nước ngoài
thu được từ Trung Quốc đã lên tới ngưỡng 250,6 tỷ USD. Trung Quốc cũng trở thành
nước đứng đầu thế giới về thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) với trên 60 tỷ USD/năm
và năm 2004 – 2006 và đạt 82 tỷ USD năm 2007. 6 Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (ODI)
của Trung Quốc cũng hết sức ấn tượng, tăng từ mức bình quân khoảng 0,4 tỷ USD/năm
trong thập kỷ 1980 lên khoảng 2.3 tỷ USD/năm trong thập kỷ 1990. Trong mấy năm gần
đây, từ năm 2004 đến năm 2006, tổng mức ODI của Trung Quốc tương ứng là 5.5 tỷ
USD, 6.92 tỷ USD, 16.1 tỷ USD. Vào cuối năm 2007, số ODI thực tế của Trung Quốc đạt
gần 100 tỷ USD.7 Đến năm 2009, chỉ tính riêng khoảng đầu tư mua trái phiếu Chính phủ
Mỹ của Trung Quốc đã tăng lên trên 800 tỷ USD.
Bên cạnh đó là những con số đầy ấn tượng khác: Trung Quốc hiện đang là nhà sản xuất
hàng đầu thế giới về than, thép và xi măng, nhà tiêu thụ năng lượng thứ hai thế giới và là
nhà nhập khẩu dầu mỏ thứ ba thế giới. Trong vòng 15 năm qua, xuất khẩu của Trung
Quốc vào Mỹ đã tăng thêm 1600%, trong khi xuất khẩu của Mỹ vào Trung Quốc tăng
thêm 415%. Hiện nay, Trung Quốc chiếm hơn 4% tổng thương mại thế giới, 50% trong
tăng trưởng xuất khẩu của châu Á, 12% tổng nhập khẩu của Mỹ. Chênh lệch khoảng cách
do đó sẽ gây tác động tới môi trường là vấn đề quan trọng trong thế kỷ XXI. Trung Quốc
đã trở thành nước nhập khẩu dầu lửa đứng thứ ba thế giới sau Mỹ và và Nhật Bản với
hơn 100 triệu tấn vào năm 2005. Việc Trung Quốc mở rộng việc tìm kiếm nguồn năng
lượng ở nhiều nơi trên thế giới như ở Nga, ở Biển Đông và vươn ra thị trường Nam Mỹ,
châu Phi cho thấy khả năng dẫn đến sự tranh chấp nguồn cung năng lượng giữa các nước
này sẽ trở nên gay gắt trong tương lai.
Gần đây, hiệp định của Trung Quốc nhằm sản xuất và nhập khẩu khí ga thiên nhiên từ
Turkmenistan cho thấy bước tiến lớn trong việc tập hợp các nước giàu tài nguyên Trung
Á tách khỏi nước Nga. Tháng 9 năm 2007, Trung Quốc thông qua kế hoạch xây dựng
đường ống dẫn khí ga thiên nhiên từ Turkmenistan qua Uzbekistan và Kazakhtans tới tỉnh
Quảng Châu. Hầu hết các nguồn khí ga thiên nhiên của Turkmenistan đóng vai trò quan
trọng về địa chính trị ở khu vực. Chừng nào đường ống dẫn chưa được hoàn thành, thì
Nga và Ukraine còn kiểm soát con đường xuất khẩu khí ga thiên nhiên duy nhất của
Turmenistan.
Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đã khiến cho Trung Quốc không chỉ thoả mãn nhu
cầu trong nước mà đang vươn ra toàn thế giới. Trung Quốc đang tăng cường chiếm lĩnh
những thịn trường tiêu thụ mà Mỹ hay các nước phương Tây vẫn chiếm lĩnh từ bấy lâu
nay. Bên cạnh các đối tác thương mại lớn như Mỹ, EU, Trung Quốc cũng mở rộng quan
hệ thương mại với châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh, thông qua đó mở rộng phạm vi ảnh
hưởng và vị thế của Trung Quốc ở các khu vực này. Ngoài ra, Trung Quốc cũng tăng
cường mở rộng phát triển hợp tác với các nước Đông Nam Á, một trong những khu vực
phát triển kinh tế năng động nhất thế giới. Trung Quốc là bạn hàng lớn thứ tư của
ASEAN. Trung Quốc đã đi trước Nhật Bản và Mỹ trong việc ký “Hiệp định khung về
hợp tác kinh tế toàn diện” với ASEAN, mở đường cho Khu vực mậu dịch tự do Trung
Quốc – ASEAN (ACFTA) vào năm 2010.
Sự mở rộng quan hệ kinh tế - thương mại của Trung Quốc với các thị trường trên đã đụng
chạm tới lợi ích kinh tế của Mỹ, thậm chí là ngay ở sân sau của Mỹ (Mỹ Latinh). Điều
này đã làm gia tăng thêm sự cạnh tranh về kinh tế giữa hai nước khiến cho Mỹ hết sức
quan tâm theo dõi.
nữa là việc hiện đại hoá hải quân sẽ nâng cao khả năng Trung Quốc tiếp cận được các vị
trí quyền lực. Khả năng tiếp cận quân sự của Trung Quốc vẫn còn khiêm tốn và lực lượng
quân đội của Trung Quốc vẫn còn dễ dàng bị lực lượng Mỹ đánh bại.
Việc Trung Quốc thay đổi quan điểm từ cô lập sang chính sách đối ngoại tích cực hơn
được thể hiện rõ ràng trong quan hệ tại Đông Á và các nước láng giềng Trung Á. Trung
Quốc đang mở đường tiến vào vị trí trung tâm châu Á và đẩy Nhật về vị trí ngoài rìa.
9 “Outward Bound”, Economist, 22 June 2006, 74 (theo Lê Khương Thùy (chủ biên), Quan hệ Mỹ - Trung Quốc
thập niên đầu thế kỷ XXI , tài liệu đã dẫn, 2012)
10 Joshua Cooper Ramo, 2004, The Beijing Consensus (London, England: Foreign Policy Center, 2004), 19 – 20
(Lê Khương Thùy (chủ biên), Quan hệ Mỹ - Trung Quốc thập niên đầu thế kỷ XXI , tài liệu đã dẫn, 2012)
12
Quan hệ Mỹ - Trung trong mười năm đầu thế kỷ XXI
Chẳng hạn như, Trung Quốc củng cố mối quan hệ song phương với các nước Đông Nam
Á và ký kết quan hệ đối tác chiến lược với Nga, Ấn Độ và Pakistan. Đặc biệt, Trung
Quốc rất chú trọng thúc đẩy Liên minh Nga – Trung nhằm đối trọng lại chiến lược bao
vây của Mỹ và tạo dựng một thế giới đa cực. Theo đó, trong chuyến thăm Nga từ ngày 26
đến ngày 28 tháng 3 năm 2007, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào cùng tổng thống Nga
Putin đã ký kết “Tuyên bố chung 30 điểm” chống lại sức ép của Mỹ và phương Tây. Hai
bên cam kết thực hiện quy hoạch hợp tác song phương 10 năm lần thứ hai về “Quan hệ
hợp tác chiến lược Nga – Trung” đến năm 2018. Bên cạnh đó, Bắc Kinh vẫn liên tục nhấn
mạnh duy trì quan hệ Mỹ - Trung là ưu tiên hàng đầu cho chính sách đối ngoại của Trung
Quốc.
Với các nước Đông Nam Á, ngay từ cuối những năm 1990, Bắc Kinh bắt đầu xây dựng
khái niệm an ninh mới nhằm bảo đảm an ninh cho mình và nước khác thông qua xây
dựng sự tin cậy lẫn nhau với các nước láng giềng và tổ chức đa phương. Trung Quốc giải
quyết xung đột biên giới bằng việc ký kết các hiệp ước hữu nghị và hợp tác, các văn bản
cung cấp viện trợ kinh tế cho Liên minh châu Phi và giữ vai trò lớn hơn trong Ngân hàng
Phát triển Châu Phi thông qua Ngân hàng Phát triển Trung Quốc. Hiện tại, Trung Quốc
mua hơn 1/3 lượng dầu của Châu Phi.
Tại Trung Đông, chính sách đối ngoại của Trung Quốc cũng bị quyết định bởi vấn đề
tăng sự phụ thuộc vào năng lượng. Bắc Kinh nhập gần 50% dầu mỏ từ khu vực này,
khiến họ không thể bỏ qua những động thái chính trị ở khu vực khủng hoảng này. Trung
Quốc đã trở thành đối tác thương mại dễ chịu tại khu vực Trung Đông, và chính sách của
Trung Quốc trực tiếp làm suy yếu ý đồ dân chủ hoá và quản trị của phương Tây. Hiệp
định năng lượng ký kết với Tehran của Bắc Kinh trị giá 100 tỷ USD đã bị phía Mỹ chỉ
trích gay gắt.
Những con số đầy ấn tượng trên đây về bề rộng và bề sâu của sự trỗi dậy của Trung Quốc
khiến cho người Mỹ hết sức lo lắng. Campbell cho rằng: “thế kỷ Mỹ đã qua đi” và thay
vào đó là “thế kỷ của Trung Quốc bắt đầu. 13 Với lý thuyết dịch chuyển quyền lực trong
quan hệ quốc tế, thế kỷ XXI sẽ là giai đoạn dịch chuyển nguy hiểm giữa một Trung Quốc
đang trỗi dậy và một nước Mỹ đang tại vị.14
Những mối quan tâm địa chính trị về một “Thế kỷ Trung Quốc” khiến Tổng thống
George Bush phải khẳng định lại trước Nghị viện Nhật Bản về quan điểm Thái Bình
Dương mới, trong đó nêu rõ: “Tôi nhận thấy thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ Thái Bình Dương.
Nhật Bản và Hoa Kỳ có chung quan điểm về tương lai của khu vực châu Á – Thái Bình
Dương là sự giao hảo các nước tự do ở Thái Bình Dương”.15
Với Max Boot, Project for a New Chinese Century là kế hoạch Bắc Kinh dành cho sự lớn
mạnh của dân tộc.16 Tuy nhiên, vẫn còn những nhận thức chưa chắc chắn về sự trỗi dậy
của Trung Quốc trong thế kỷ XXI. Như Goldstein lưu ý “một chiến lược thay đổi” bắt
đầu từ những năm 1980 tiếp tục kéo dài trong 30 – 50 năm tới tránh những vấn đề lâu dài
nảy sinh khi Trung Quốc trỗi dậy, do Trung Quốc nhận thấy mục tiêu đạt được các tiêu
13 Campbell Ian. 2004. “The Chinese Century Begins”, Washington Times 1 May
14 Kugler, Jack and Tammen, Ronald and Swaminathan, Siddhart. 2001. “Power Transitions and Alliances in the
21st Century”. Asian Perspective 25(3): Page 5 to 29.
15 Bush, George Walker. 2002 “President Discusses Unity Between the US and Japan”, 18 February.
16 Boot, Max. 2005. “Project for a New Chinese Century. Beijing Plans for National Greatness.” Weekly Standard,
sách đối ngoại của mình, các chính quyền Mỹ đã tìm cách cân bằng giữa các học thuyết
đang chi phối chính sách đối ngoại của Mỹ như chủ nghĩa biệt lập và chủ nghĩa can dự,
chủ nghĩa lý tưởng và chủ nghĩa thực dụng. Theo các nhà nghiên cứu, đặc trưng nổi bật
trong chính sách ngoại giao trước đây của chính quyền Clinton là sự kết hợp chủ nghĩa lý
tưởng và chủ nghĩa can thiệp. Nhưng đến nhiệm kỳ hai, khuynh hướng chính sách đối
ngoại đó đã có phần từ chủ nghĩa lý tưởng nghiêng về chủ nghĩa thực dụng và quyền lực
chính trị. Đến chính quyền Obama, chính sách đối ngoại đang được điều chỉnh theo
17 Goldstein, Avril, 2003. “An Emerging China’s Emerging Grand Strategy”. Page 57 to 106
18 Wang Yiwei, 2004 “Beijing Hands Moscow a Long Rope”, Beijing Review 11 November, page 23 (*)
(*) Tất cả chú thích 13, 14, 15, 16, 17, 18 thuộc chú thích của tác giả Lê Khương Thùy (chủ biên), Quan hệ Mỹ Trung Quốc thập niên đầu thế kỷ XXI , tài liệu đã dẫn, 2012
15
Quan hệ Mỹ - Trung trong mười năm đầu thế kỷ XXI
hướng ngoại giao “thông minh, đối thoại và lắng nghe” từ bỏ đường lối đơn phương
nhằm tạo ra một hình ảnh mới về nước Mỹ.
Vai trò chủ đạo trong việc hoạch định chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc – cá nhân
và các cơ quan hoạch định chính sách
Trên thực tế, trong các đời Tổng thống, người ta thấy đều có các cá nhân hoặc cơ cấu
đóng vai trò chủ đạo trong việc hoạch định chính sách đối với Trung Quốc. Vào đầu thập
kỷ 70 của thế kỷ XX, dưới thời kỳ của Nich-xon, Mỹ và Trung Quốc bắt đầu tiếp xúc, mở
đầu cho việc hợp tác chiến lược có ý nghĩa lịch sử, nhằm chống lại các mối đe doạ chiến
lược của Liên Xô. Kissinger là người giữ vai trò then chốt trong các vấn đề Việt Nam,
Liên Xô và Trung Quốc. Và trong nhiệm kỳ Ford, Kissinger vừa là Cố vấn Hội đồng an
ninh quốc gia vừa là Ngoại trưởng Mỹ đã giữ vai trò quyết sách chủ đạo trong vấn đề
Trung Quốc. Hay trong các chính phủ sau đó, trong nhiệm kỳ Tổng thống J. Carter,
Bzrezinski cũng phát huy vai trò cực kỳ quan trọng. Dưới thời Reagan, việc quyết sách
đối với Trung Quốc lại chuyển sang Bộ Ngoại giao và do Ngoại trưởng Haig giữ vai trò
IV. Điều chỉnh chíến lược toàn cầu Châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ đối với
Trung Quốc thập niên đầu thế kỷ XXI
Chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc trở thành một bộ phận quan trọng tronmg chiến
lược toàn cầu của Mỹ đối với Trung Quốc trở thành một bộ phận quan trọng trong chiến
lược toàn cầu của Mỹ trong thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh. Quan hệ Mỹ - Trung là mối
quan hệ quan trọng nhất chi phối các vấn đề khu vực và thế giới.
1. Chiến lược toàn cầu/Châu Á – Thái Bình Dương – cơ sở hình thành chính sách
Trung Quốc của Mỹ sau Chiến tranh Lạnh
a. Mục tiêu chiến lược toàn cầu từ “ngăn chặn Liên Xô sang “duy trì vị trí siêu cường
duy nhất”
Sau Chiến tranh, Mỹ trở thành siêu cường duy nhất trên thế giới, mục tiêu giành vai trò
lãnh đạo thế giới cơ bản được thực hiện. Về sức mạnh tổng lực của Mỹ, báo “Thời đại”
của Cộng hoà Liên bang Đức ra ngày 29 – 9 – 2002 đã mô tả: “nước Mỹ bắt đầu thế kỷ
XXI với tư cách là quyền lực thế giới thực sự duy nhất. Cánh tay quân sự của nó vươn tới
bất cứ điểm nào của địa cầu. Sự thống trị về mặt chính trị của Mỹ đã làm cho nó trở
thành một dân tộc mà người ta không thể từ bỏ. Còn ảnh hưởng về văn hoá của Mỹ thì
lớn tới mức khắp nơi trên thế giới nhiều người coi toàn cầu hoá là một sự Mỹ hoá. Ưu thế
đa chiều này đã làm cho quyền lực của Mỹ trở thành duy nhất.”19
Đối với Mỹ, George Bush lên nắm quyền trong bối cảnh quốc tế và trong nước hết sức
thuận lợi cho việc công khai khẳng định rõ ưu thế gần như tuyệt đối của Mỹ và tương
ứng với ưu thế đó là vai trò dẫn dắt thế giới.
“Ngày nay, nước Mỹ đang ở vị thế của một nước có sức mạnh quân sự và có tầm ảnh
hưởng to lớn về kinh tế và chính trị mà không ai so sánh được… Ngày nay, nhân loại có
trong tay một cơ hội thúc đẩy sự chiến thắng tự do trước tất cả mọi đối thủ. Nước Mỹ đề
cao tinh thần trách nhiệm để lãnh đạo thế giới trong sứ mệnh vĩ đại này”.
Và theo đà tăng trưởng của sức mạnh tổng hợp quốc gia và thay đổi về địa vị quốc tế, Mỹ
đã kịp thời điều chỉnh chiến lược toàn cầu. Mục tiêu chủ yếu của chiến lược toàn cầu mới
19 Tài liệu tham khảo Đặc biệt, ngày 21 tháng 10 năm 2002, Thông tấn xã Việt Nam
quốc tế đa phương cũng như các tổ chức phi chính phủ đa quốc gia.
Thực chất, chiến lược của chính quyền Clinton nhằm mục tiêu chủ yếu là duy trì vị trí
siêu cường duy nhất của Mỹ thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh trên cơ sở mở rộng can thiệp
và dân chủ kiểu phương Tây trên thế giới.
c. Chiến lược toàn cầu của Mỹ dưới thời George Bush
20 Clinton B. (1994), Chiến lược An ninh Quốc gia “can dự và mở rộng”, July (Tài liệu tham khảo Đặc biệt, ngày
21 tháng 10 năm 2002, Thông tấn xã Việt Nam)
18
Quan hệ Mỹ - Trung trong mười năm đầu thế kỷ XXI
Khi lên nắm quyền, G. Bush đặt lợi ích của Mỹ lên trên hết dựa trên sức mạnh quân sự,
kinh tế bằng mọi cách bảo đảm vai trò bá chủ thế giới của Mỹ, chủ trương can thiệp theo
chiều sâu trên cơ sở chủ nghĩa đơn phương.
Bảo vệ an ninh, mở rộng phát triển kinh tế và mở rộng quan niệm giá trị Mỹ luôn là ba
trụ cột lớn không thay đổi của chính sách ngoại giao Mỹ từ thời Bill Clinton đến G. Bush.
Tuy nhiên nếu như thời Bill Clinton chú trọng hơn vào chính sách đối nội với việc mở
rộng và phát triển kinh tế lên vị trí hàng đầu trong ba trụ cột lớn và tìm cách cải thiện
quan hệ với các địch thủ cũ, thì G. Bush là kết hợp chặt chẽ ngoại giao với quốc phòng,
kinh tế với quốc phòng và ngày càng coi trọng vấn đề an ninh quân sự hơn với thời Bill
Clinton. Ông đã tuyên bố sẽ tăng ngân sách quốc phòng năm 2002 lên đến 310 tỷ USD
tăng 14 tỷ USD so với năm 2001. 21Chiến lược an ninh của Mỹ chuyển từ “nguyên tắc
cân bằng lợi ích các bên” sang “nguyên tắc đơn phương uy hiếp có hiệu lực”. Chính sách
này của G. Bush đã tạo nên sự căng thẳng trong quan hệ quốc tế giữa Mỹ với các nước
lớn và tác động không nhỏ đến các nước khác ở trong khu vực.
Như vậy, rõ ràng đã có những điều chỉnh Chiến lược an ninh quốc gia, nhưng tư tưởng
chiến lược an ninh của Mỹ trước sự kiện 11 – 9 vẫn tiếp tục tuân theo quan niệm an ninh
Sau thắng lợi ở Afghanistan, sự can thiệp đơn phương của Mỹ ngày càng trở nên thô bạo
hơn. Chính quyền Bush đã đưa ra Học thuyết Chiến lược An ninh mới, khẳng định Mỹ có
quyền tiến hành tiến công trước nhằm vào các quốc gia có thể gây ra hiểm hoạ tiềm tàng.
Các chuyên gia nghiên cứu cho rằng, lý luận “chủ động tiến công” mà chính quyền Mỹ
đưa ra gần đây đã đánh dấu sự thay đổi về tư duy an ninh quốc gia của Mỹ, nó đứng trên
ưu thế áp đảo để chủ động tấn công và giành thắng lợi. Nhìn thổng thể, mục tiêu chiến
lược của Mỹ không có gì thay đổi nhiều, nhưng nét nổi bật hiện nay là ngày càng coi
trọng thủ đoạn quân sự để đạt được mục tiêu.
Nhìn chung, Chiến lược An ninh Quốc gia của Mỹ đã trải qua một số lần điều chỉnh,
nhưng tư tưởng chiến lược chủ đạo vẫn là: “ngăn chặn, răn đe” mang tính phòng thủ hiện
thực. Trọng điểm tiến hành điều chỉnh chiến lược của Mỹ là đặt việc chống chủ nghĩa
khủng bố và ngăn ngừa sự vươn lên của các nước lớn thách thức vai trò lãnh đạo thế giới
của Mỹ vào vị trí tương đối cân bằng. Vì sự “trả đũa” của Mỹ sẽ được áp dụng không chỉ
với các lực lượng khủng bố mà cả với các đối thủ “tiềm tàng” của Mỹ.23
Như vậy, khi mới lên nắm quyền, Chính quyền Bush đã điều chỉnh chiến lược từ “ngăn
chặn, răn đe” sang chiến lược “đòn tấn công phủ đầu” trước nhằm thiết lập trật tự thế giới
mới do Mỹ đứng đầu với chủ nghĩa đơn phương.
Nhiệm kỳ thứ hai: Mặc dù đạt được một số kết quả nhất định trong việc tạo dựng một
liên minh quốc tế chống khủng bố toàn cầu, nhưng trong bối cảnh cục diện quốc tế có
nhiều biến đổi mạnh mẽ khiến cho chính quyền Bush hết sức lo lắng. Đó là việc còn lâu
thì chủ nghĩa khủng bố mới bị bứng rễ tận gốc. Đặc biệt, Mỹ còn bị sa lầy trong cuộc
chiến Iraq kéo dài với nhiều tổn thất gây nên làn sóng phản đối chiến tranh diễn ra liên
tục trong nước Mỹ; vấn đề hạt nhân của khu vực Bắc Triều Tiên kéo dài; sự trỗi dậy của
các nước lớn như Trung Quốc, Ấn Độ; các đồng minh Liên minh châu Âu cũng có vấn
đề; phong trào “cánh tả” của khu vực Mỹ Latinh phát triển mạnh… Tất cả những vấn đề
22 George Walker Bush, “Tăng cường các liên minh để đánh bại chủ nghĩa khủng bố toàn cầu và hành động để ngăn
chặn các cuộc tấn công của Mỹ và bạn bè của chúng ta”, Washington D. C. (Nhà hát Lớn quốc gia), ngày 14 – 9 –
2001, Tài liệu tham khảo đặc biệt, Thông tấn xã Việt Nam, 11 – 2002.
23 Tài liệu tham khảo số 8 – 2002, Thông tấn xã Việt Nam.
quyền, Mỹ càng tập trung hơn nữa đến khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Chính quyền
Bush lấy chủ nghĩa hiện thực truyền thống làm cơ sở, theo đuổi lợi ích an ninh tuyệt đối
của Mỹ, thể hiện rõ chính sách coi Trung Quốc là đối thủ chiến lược chủ yếu, nâng cấp
quan hệ Mỹ - Nhật Bản lên vị trí số một, hâm nóng quan hệ Mỹ - Ấn, làm dịu quan hệ
với Triều Tiên, thúc đẩy nhanh việc xây dựng hệ thống kiềm chế và bao vây chiến lược
lấy đồng minh Mỹ - Nhật Bản làm trung tâm, lấy quan hệ quân sự song phương và đa
phương làm điểm tựa, nhất là tăng nhanh mức độ kiểm soát với khu vực Châu Á – Thái
Bình Dương.
b. Các mục tiêu cụ thể của chiến lược Châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ
21
Quan hệ Mỹ - Trung trong mười năm đầu thế kỷ XXI
Để thực hiện các mục tiêu chiến lược toàn cầu đối với khu vực châu Á – Thái Bình
Dương, Mỹ phải giữ được “vai trò lãnh đạo chủ chốt” để không cho bất cứ cường quốc
nào nổi lên chống lại Mỹ, đồng thời phải thúc đẩy kinh tế thị trường và tự do dân chủ có
lợi cho Mỹ. Theo đó, các mục tiêu cụ thể của Mỹ đối với khu vực châu Á – Thái Bình
Dương là:
- Không cho bất kỳ một quốc gia riêng lẻ hay một liên minh nào được phép thống trị khu
vực;
- Không cho bất kỳ quốc gia nào giành được thế mạnh quân sự và tạo ra mối đe doạ trực
tiếp đối với các quốc gia láng giềng;
- Bảo đảm sự lưu thông hàng hoá và tài nguyên trong khu vực và giữa khu vực này với
Mỹ;
- Khuyến khích các nhà đầu tư và các chế độ cam kết sự cởi mở về chính trị và tăng khả
năng kinh tế cho các công dân của họ;
- Tăng cường sáng kiến của các quốc gia khu vực nhằm hợp tác một cách chặt chẽ với
Mỹ trong các mục tiêu hoàn chỉnh về an ninh, kinh tế và chính trị.
Căn cứ vào các mục tiêu chiến lược toàn cầu và chiến lược châu Á – Thái Bình Dương
muốn thúc đẩy dân chủ ở Trung Quốc thì họ phải tiếp xúc với Trung Quốc. Thứ ba, sau
Chiến tranh lạnh, Mỹ quan tâm nhiều hơn tới mối đe doạ của nhân tố phi an ninh truyền
thống như phổ biến vũ khí hạt nhân, chủ nghĩa khủng bố… và càng chú trọng đến an ninh
và ổn định của khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Vì vậy, Mỹ cần sự hợp tác của Trung
Quốc và các nước lớn khác. Tuy nhiên, đối với mối đe doạ an ninh truyền thống, nhiệm
vụ chủ yếu cảu Mỹ là ngăn chặn sự trỗi dậy của các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng và
Trung Quốc là một trong những đối tượng mà Mỹ cần ngăn chặn.24
Như vậy, có thể thấy Mỹ có những mục tiêu rõ ràng trong chính sách đối với Trung Quốc.
Thứ nhất, tăng cường quan hệ kinh tế với Trung Quốc để thu được lợi ích to lớn từ nền
kinh tế mới đầy tiềm năng này. Thứ hai, gây sức ép để mở rộng giá trị phương Tây ở
Trung Quốc. Thứ ba, ngăn chặn những mối đe doạ tiềm tàng của Trung Quốc đối với Mỹ
ở khu vực cũng như toàn thế giới.
2. Chính sách Trung Quốc của chính quyền B. Clinton
a. Nhiệm kỳ đầu của Chính quyền Bill Clinton
24
Nguyễn Thị Canh, Quan hệ Mỹ - Trung Quốc sau chiến tranh lạnh (1989 – 2000)
23
Quan hệ Mỹ - Trung trong mười năm đầu thế kỷ XXI
Chính sách đối với Trung Quốc do chính quyền Bill Clinton đề ra vừa nhằm mục đích
thúc đẩy những mục tiêu chính sách phục vụ cho ưu thế vượt trội của Mỹ, vừa thúc đẩy
mở rộng dân chủ, thị trường trên toàn thế giới. Ở nhiệm kỳ đầu, chính sách đối với Trung
Quốc của Clinton không thống nhất do khuynh hướng của Chính quyền Clinton muốn
xoa dịu cả các nhóm lợi ích và Quốc hội. Clinton đã gắn cấp quy chế tối huệ quốc cho
Trung Quốc vào mục tiêu thúc đẩy nhân quyền, một nhiệm vụ mà sau đó ông đã thừa
nhận là không thể.
b. Nhiệm kỳ thứ hai của Chính quyền Bill Clinton
khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Mỹ phải giữ được vai trò lãnh đạo chủ chốt để
không cho bất cứ một cường quốc nào nổi lên chống lại Mỹ, đồng thời phải thúc đẩy kinh
tế thị trường và tự do dân chủ có lợi cho Mỹ. Tuy nhiên, chính sách này của Mỹ trên thực
tế cũng đã thất bại vì Trung Quốc đã không đáp ứng yêu cầu của Mỹ đưa ra, đặc biệt là
vấn đề nhân quyền. Điều này đã làm cho Mỹ phải thiên về những biện pháp cứng rắn,
gây sức ép từ bên ngoài buộc Trung Quốc phải thay đổi hệ thống chính trị trong nước vào
cuối những năm 90 thế kỷ XX.
3. Chính sách Trung Quốc của chính quyền George Bush
a. Nhiệm kỳ thứ nhất của chính quyền G. W Bush
Sau khi lên nắm quyền, G. W. Bush điều chỉnh lại chiến lược toàn cầu. Trong ba trụ cột
chiến lược nói trên, Mỹ nhấn mạnh trụ cột an ninh. Chính quyền Bush chủ trương can
thiệp theo chiều sâu, dựa trên chính sách đơn phương đối với nhiều vấn đề quốc tế. Trên
cơ sở tư duy chiến lược đó, Chính quyền Bush chú trọng vấn đề an ninh quân sự, chủ
trương thực hiện ‘ngăn chặn, răn đe” với những đối tượng chủ yếu là các nước thù địch
tiềm tàng như Trung Quốc, Nga và các nước “không lương thiện” như Iran, Bắc Triều
Tiên… Xác định Trung Quốc là “đối thủ cạnh tranh chiến lược” chứ không phải là “đối
tác chiến lược”.
Thực tế, ngay từ đầu Chính quyền Bush có cách tiếp cận khác hoàn toàn trong giải quyết
các vấn đề quốc tế. Trong chiến dịch bầu cử năm 2000, các cố vấn cho Bush ủng hộ cách
sử dụng sức mạnh của Mỹ để thúc đẩy lợi ích quốc gia, xây dựng các liên minh an ninh
và cương quyết đối với các đối thủ tiềm năng. Trừ một số ngoại lệ, hầu hết cố vấn cao
cấp về chính sách đối ngoại đều là những người có tư tưởng bảo thủ, cứng rắn, từng phục
vụ trong Chính quyền Reagan và Bush cha trước đây. Họ phê phán cách tiếp cận của
chính quyền Bill Clinton là quá mềm mỏng, thiếu quyết đoán, chỉ quan tâm tới chủ nghĩa
đa phương mà không tập trung vào kết quả cuối cùng, và điều này cũng có thể là do thiên
hướng của nền chính trị Mỹ.
Ít nhất có hai khác biệt cơ bản giữa chính quyền Clinton và chính quyền Bush trong
hoạch định chính sách với Trung Quốc. Đó là: thứ nhất thay vì xem Trung Quốc như là
một đối tác chiến lược, Chính quyền Bush nêu đặc trưng quan hệ với Trung Quốc một
cách phức tạp hơn, trong đó hai nước vừa có thể hợp tác trên một số vấn đề cụ thể, nhưng