BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
oooOooo
LÊ THẮNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHIẾN LƯC NHẰM THÚC ĐẨY SỰ PHÁT TRIỂN NGÀNH CHẾ BIẾN ĐỒ
GỖ GIA DỤNG TRONG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ 21 TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH.
LUẬN ÁN THẠC SỸ KHOA HỌC KINH TẾ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 1999
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
oooOooo
LÊ THẮNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHIẾN LƯC NHẰM THÚC ĐẨY SỰ PHÁT TRIỂN NGÀNH CHẾ BIẾN ĐỒ
GỖ GIA DỤNG TRONG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ 21 TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH.
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ: 5.02.05
LUẬN ÁN THẠC SỸ KHOA HỌC KINH TẾ
1
1.1. Nguồn nguyên liệu gỗ tại thành phố Hồ Chí Minh.
1.2. Nguồn nguyên liệu gỗ của các tỉnh lân cận.
1.3. Xu hướng sử dụng nguồn gỗ từ rừng trồng và rừng tự nhiên để chế biến.
1.4. Nguồn nguyên liệu gỗ nhập khẩu.
2.
Công nghệ, máy móc thiết bò.
3.
Trình độ lực lượng lao động.
3.1. Lao động gián tiếp.
3.2. Lao động trực tiếp.
4.
Vấn đề tiêu thụ sản phẩm, khách hàng.
4.1. Thò trường nội đòa.
4.2. Thò trường nước ngoài.
5.
Chủ trương, chính sách phát triển ngành chế biến gỗ.
6.
Sự tham gia của các thành phần kinh tế vào ngành chế biến gỗ thành phố Hồ Chí Minh.
Chương III: Các giải pháp chiến lược và những kiến nghò nhằm thúc đẩy sự phát triển ngành chế biến đồ gỗ
Kết luận.
Tài liệu tham khảo
LỜI MỞ ĐẦU
Ngành chế biến đồ gỗ gia dụng tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, Việt Nam nói chung đã hình thành
và phát triển từ lâu đời với những đội ngũ thợ mộc lành nghề, trong đó có một số không ít đạt trình độ nghệ
nhân. Thế nhưng vì điều kiện lòch sư,û đất nước ta đã phải trải qua chiến tranh trong thời gian rất dài nên ngành
chế biến đồ gỗ gia dụng không có đủ điều kiện phát triển như các nước trong khu vực và trên thế giới. Trong
khi các nước đầu tư vào khoa học kỷ thuật để cơ giới hóa, tự động hóa ngành công nghiệp chế biến đồ gỗ gia
dụng thì ở Việt Nam chúng ta phải trải qua giai đoạn chiến tranh và sau đó là thời kỳ hàn gắn vết thương
chiến tranh trong tình trạng bò Mỹ cấm vận về kinh tế. Do đó, trình độ chế biến gỗ đặc biệt là chế biến đồ gỗ
gia dụng bằng máy móc công nghiệp của Việt Nam lạc hậu hơn so với các nước trong khu vực cũng như trên
thế giới. Tuy nhiên, sau khi nền kinh tế Việt nam chuyển mình từ cơ chế tập trung bao cấp sang nền kinh tế
thò trường theo đònh hướng Xã hội chũ nghiã, ngành công nghiệp chế biến đồ gỗ gia dụng thành phố Hồ Chí
Minh đã đạt được sự tiến bộ khá nhanh so với các khu vực khác trong nước. Hơn nữa, trong quá trình phát
triển, nền kinh tế Việt nam đang từng bước tham gia vào các thể chế hợp tác kinh tế khu vực và thế giới.
Tháng 7 năm 1995, Việt nam đã chính thức trở thành thành viên của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
(ASEAN). Từ tháng 1 năm 1996, Việt nam tham gia Khu vực mậu dòch tự do ASEAN (AFTA), thực hiện các
cam kết của một thành viên theo Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT). Việt nam cũng là
thành viên sáng lập của Diễn đàn Hợp tác Á- Âu (ASEM). Tháng 11 năm 1998, nước ta đã chính thức gia
nhập Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC). Từ năm 1994, Việt nam đã nộp đơn xin
gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), một tổ chức bao gồm 135 thành viên, và đã qua ba vòng đàm
phán,… Một mặt, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế giúp cho các nước phát triển có cơ hội mở rộng thò
trường, tăng thu hút đầu tư và công nghệ, tham gia một cách bình đẳng vào việc xây dựng những “luật chơi”
chung công bằng và bình đẳng hơn để bảo vệ lợi ích của mình. Mặt khác, quá trình này cũng đặt các nước đó
vào vò thế dễ bò thua thiệt nếu không có sự chuẩn bò tốt, không tích cực và chủ động tham gia. Việt nam đang
hội nhập vào nền kinh tế thế giới với những lợi ích có thể gặt hái và những thách thức lớn đi kèm. Thách thức
lớn nhất là tính cạnh tranh của hàng hóa Việt nam một khi các hàng rào thuế quan và phi thuế quan được bãi
3
-
Chương I: Giới thiệu về ngành chế biến đồ gỗ gia dụng trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
-
Chương II: Thực trạng ngành chế biến đồ gỗ gia dụng trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh
-
Chương III: Các giải pháp chiến lược và những kiến nghò nhằm thúc đẩy sự
phát triển ngành chế biến
đồ gỗ gia dụng trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
-
Kết luận.
-
Tài liệu tham khảo.
Vì thời gian có hạn và trình độ tác giả còn nhiều hạn chế nên Luận án không thể tránh khỏi những thiếu
sót. Rất mong sự góp ý chân thành của quý Thầy, Cô và các độc giả quan tâm đến đề tài này.
CHƯƠNG I:
4
được khai thác từ rừng. Chính vì vậy, để nghiên cứu sự phát triển của ngành chế biến gỗ ta phải bắt đầu từ
việc nghiên cứu tài nguyên rừng Việt Nam mà trong đó chủ yếu nghiên cứu về gỗ. Rừng Việt Nam là rừng
nhiệt đới, có rất nhiều loại gỗ q hiếm và hàng trăm chủng loại gỗ khác nhau. Trước đây, chúng ta từng tự
hào là Việt Nam có “rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu” và nguồn tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản…rất
phong phú trên mọi miền đất nước. Thế nhưng, trải qua các giai đoạn lòch sử và các giai đoạn phát triển kinh
tế, nguồn tài nguyên rừng của đất nước chúng ta ngày càng cạn kiệt. Trước hết, chúng ta phân tích về diện
tích rừng và độ che phủ của rừng qua các năm từ 1943 đến 1997.
Bảng 1: Diện tích rừng và độ che phủ qua các năm.
(Đơn vò tính: Ha)
Diện tích
Diện tích đất có rừng
Năm
lãnh thổ
1943
32.800.000
14.272.000
1976
33.036.000
11.076.700
10.608.000
32,11
33.036.000
9.308.300
583.600
9.891.900
29,90
1990
33.036.000
8.430.700
744.900
9.175.600
27,70
1995
33.122.000
quan tâm đúng mức trong việc xây dựng chính sách bảo vệ và phát triển rừng. Đến năm 1990, diện tích
rừng tự nhiên chỉ còn 9.175.600 ha , trồng thêm được 744.900 ha và độ che phủ chỉ còn 27,70%, giảm
thêm 6,1% so với năm 1976. Trong giai đoạn này, ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam chưa được
phát triển nên việc xuất khẩu gỗ tròn với khối lượng rất lớn là nguyên nhân chủ yếu làm giảm diện tích
rừng. Hơn thế nữa, việc quản lý bảo vệ rừng trong giai đoạn này còn rất nhiều hạn chế, lõng lẽo nên việc
khai thác, chặt phá rừng bừa bãi xãy ra thường xuyên với diện tích lớn. Một nguyên nhân làm giảm diện
tích rừng nữa là chính sách đi kinh tế mới sau ngày hòa bình lập lại, người dân đi kinh tế mới đã chặt phá,
đốt rừng làm nương rẫy với một diện tích rất đáng kể. Thật vậy, tính từ năm 1986 đến năm 1990, trung
bình mỗi năm khai thác 3.630.800 m3 gỗ và 30.365.200 stere củi. Trong giai đoạn này, nền công nghiệp
6
chế biến gỗ chưa phát triển nên nhà nước có chủ trương khuyến khích xuất khẩu gỗ tròn, gỗ xây dựng cơ
bản với khối lượng rất lớn, đặc biệt là vào năm 1990 sản lượng gỗ khai thác lên đến 4.445.600 m3.
¬ Trong giai đoạn từ năm 1991 đến năm 1995, Nhà nước đã có sự quan tâm và xây dựng các chính sách bảo
vệ, phát triển rừng sau một thời gian dài rừng bò tàn phá nghiêm trọng. Do đó, diện tích rừng tự nhiên bò
giảm đi không đáng kể ngược lại diện tích rừng trồng tăng từ 744.000 ha năm 1990 lên 1.049.700 ha vào
năm 1995. Cùng với việc xây dựng và thực hiện chính sách bảo vệ - phát triển rừng, Nhà nước cũng đã
đề ra những chính sách trong việc qui hoạch, khai thác rừng để lấy gỗ nguyên liệu phục vụ cho việc xây
dựng trong nước, đồng thời phục vụ cho ngành chế biến đồ mộc gia dụng. Thật vậy, từ năm 1991 đến
năm 1995, trung bình mỗi năm khai thác 2.879.400 m3 gỗ, và 30.515.600 stere củi, giảm trung bình
751.400 m3 gỗ/ năm so với giai đoạn trước. Trong giai đoạn này, Nhà nước đã có chủ trương cấm xuất
khẩu gỗ tròn, gỗ xây dựng cơ bản và chỉ cho xuất khẩu sản phẩm gỗ dưới dạng sơ chế hoặc tinh chế. Chủ
trương cấm xuất khẩu gỗ tròn, gỗ xẻ xây dựng cơ bản, ván sàn sơ chế là nguyên nhân chủ yếu làm giảm
lượng khai thác gỗ hằng năm trong giai đoạn này.
¬ Trong giai đoạn từ năm 1996 đến năm 1997, diện tích rừng tự nhiên giảm đi không đáng kể và diện tích
rừng trồng tăng lên đến 1.374.300 vào năm 1997. Từ năm 1996 đến 1998, trung bình mỗi năm khai thác
2.506.500 m3 gỗ, và 27.384.600 stere củi, giảm trung bình 372.900 m3 gỗ/ năm so với giai đoạn trước.
Trong giai đoạn này, Nhà nước đã có chủ trương cấm xuất khẩu các loại sản phẩm, bán sản phẩm tiêu hao
Tốc độ phát triển
sản lượng (%)
(1000 stere)
sản lượng (%)
1986
3.387,7
100
28.395,0
100
1987
3.703,0
109,3
31.021,0
109,2
1988
104,0
1991
3.210,0
72,2
30.237,0
94,3
1992
2.686,6
83,7
30.397,0
100,5
1993
2.884,0
107,3
31.671,0
96,6
1997
2.480,0
87,5
27.356,4
94,9
1998
2.206,4
88,9
25.970,1
94,9
Nguồn: - Niên giám thống kê Việt Nam 1998
Trong đó: Tốc độ phát triển năm trước bằng 100%.
2. Quá trình hình thành và phát triển ngành chế biến đồ gỗ gia dụng trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Ngành chế biến đồ gỗ gia dụng tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, Việt Nam nói chung đã hình thành
và phát triển từ lâu đời với những đội ngũ thợ mộc lành nghề, trong đó có một số không ít đạt trình độ nghệ
nhân. Thế nhưng vì điều kiện lòch sư,û đất nước ta đã phải trải qua chiến tranh trong thời gian rất dài nên ngành
chế biến đồ gỗ gia dụng không có đủ điều kiện phát triển như các nước trong khu vực và trên thế giới. Trong
khi các nước đầu tư vào khoa học kỹ thuật để cơ giới hóa, tự động hóa ngành công nghiệp chế biến đồ gỗ gia
trương bao vây, cấm vận đối với nước ta. Trong thời kỳ này, hàng hóa xuất khẩu chủ yếu là gỗ tròn:
thông, dầu,…ván sàn sơ chế và cây chuốt tròn cho thò trường Liên Xô và các nước XHCN ở Đông u. Nói
chung, ngành chế biến đồ gỗ gia dụng của thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn này hầu như không
phát triển mấy so với giai đoạn trước năm 1975.
¬ Từ năm 1986 đến năm 1991, đây là giai đoạn mà nền kinh tế Việt Nam đang từng bước chuyển mình từ
cơ chế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thò trường theo đònh hướng Xã Hội Chủ Nghóa. Cùng với sự
chuyển mình của các ngành công nghiệp khác, ngành công nghiệp chế biến gỗ cũng bắt đầu có sự thay
đổi. Trong những năm cuối của giai đoạn này, nhà nước đã bắt đầu hạn chế xuất khẩu gỗ tròn và khuyến
khích xuất khẩu sản phẩm gỗ xẽ xây dựng cơ bản, đồ gỗ sơ chế nhằm giải quyết việc làm cho lực lượng
lao động dư thừa, tăng giá trò hàng xuất khẩu đồng thời tạo tiền đề phát triển cho ngành công nghiệp chế
biến gỗ. Mặt khác, do yêu cầu của khách hàng, vấn đề ngâm tẩm và sấy sau khi cưa xẽ đã bắt đầu được
một số xí nghiệp chế biến gỗ thực hiện. Các doanh nghiệp chế biến gỗ cũng đã nhập khẩu một số máy
móc thiết bò từ nước ngoài, chủ yếu là từ Đài Loan như: máy bào 4 mặt, bào 3 mặt, máy khoan, máy
tourpi, máy shaper copy, máy router, máy tiện tự động, máy chà nhám,… Sản phẩm đồ mộc gia dụng xuất
khẩu được chế biến bằng máy móc công nghiệp chủ yếu trong những năm cuối của giai đoạn này là các
loại bàn ghế kiểu đơn giản, thanh băng ghế, ván sàn và các mặt hàng rất đơn giản. Ngoài ra, các doanh
nghiệp còn xuất khẩu ván, gỗ xây dựng cơ bản qua các nước Thái Lan, Đài Loan,… trong thời kỳ này.
Bảng số liệu sau đây sẽ minh chứng về sản lượng các mặt hàng được xuất khẩu trong giai đoạn này.
Bảng 3: Khối lượng các mặt hàng gỗ xuất khẩu từ năm 1986 đến 1991.
Đơn vò tính: m3
Mặt hàng
1986
1987
1988
17.236
1990
1991
185.219
242.388
106.159
21.725
35.135
55.070
2.870
5.325
10.517
Nguồn: Cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh.
Nói tóm lại, trước năm 1991 các xí nghiệp chế biến gỗ tại thành phố Hồ Chí Minh chỉ biết cưa xẽ gỗ
xây dựng cơ bản và sơ chế đồ gỗ xuất khẩu, chưa biết sản xuất đồ gỗ tinh chế. Đây là thời kỳ sử dụng
nguyên liệu gỗ không hiệu quả, khai thác và sử dụng lãng phí, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Đứng trước tình hình đó, ngày 19 tháng 03 năm 1992, Chỉ thò 90/CT của Chủ Tòch Hội Đồng Bộ Trưởng
đã ra đời và quy đònh từ năm 1992 trở đi nghiêm cấm việc xuất khẩu các loại gỗ tròn, gỗ xẻ, ván sàn sơ
chế và các loại song mây nguyên liệu.
¬ Từ năm 1992 đến nay, cùng với sự xuất hiện nhiều thành phần kinh tế, ngoài các doanh nghiệp quốc
1995
1996
1997
1998
1999
27.354
45.981
66.189
83.854
75.872
50.354
37.552
33.088
Nguồn: Sở Thương Mại thành phố Hồ Chí Minh.
Qua số liệu bảng trên, ta nhận thấy rằng khối lượng các sản phẩm gỗ xuất khẩu tăng dần từng năm từ 1992
với 27.354 m3 đến 1995 lên tới 83.854 m3 sau đó giảm xuống còn 33.088 m3 vào năm 1999. Sở dó như vậy là
10
Bảng 5: Các chỉ tiêu tổng hợp trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
1995
Các chỉ tiêu
1996
Tổng số
Ngành
Tổng số
C.B. gỗ
Giá trò sản xuất
công nghiệp
2 . Cơ cấu giá trò
Triệu
35127012
Ngành
Tổng số
100
sản xuất C.N.
3. Cơ sở S.X.C.N.
1998
Đơn vò
Tính
1.
1997
100
1,4
24399
1151
100
5,7
490536
13257
100
S.X.C.N.
5.
100
5,1
Lao động
L. động
405880
18590
404152
công nghiệp
6. Cơ cấu lao
4,3
430132
15167
%
100
4,6
144,3
66,6
147,4
triển K.N.X.K.
9. Cơ cấu K.N.X.K
12037
100,0
41677
98,1
84,0
100
107,9
100
0,9
98,3
%
(chiếm 4,6% tổng số lao động công nghiệp) trong năm 1995 xuống còn 13.257 lao động (chiếm 2,7%)
trong năm 1998, giảm 5.333 lao động. Điều này thật đáng cho chúng ta phải suy nghó, sau một khoảng
thời gian 4 năm thì số cơ sở và lao động trong ngành chế biến gỗ không những không tăng lên mà còn
giảm đi đáng kể, đẩy ra cho xã hội 5.333 lao động.
Kim ngạch xuất khẩu trong ngành chế biến gỗ năm 1995 đạt 39.278.000 USD, chiếm 1,5% so với tổng
̇
kim ngạch xuất khẩu trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Thế nhưng, trải qua các năm tiếp theo kim
ngạch xuất khẩu giảm dần và đến năm 1998 chỉ còn 35.014.000 USD, chỉ chiếm 0,9% so với tổng kim
ngạch xuất khẩu trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Đây là một thực tế, một xu hướng đáng lo ngại
cho ngành chế biến gỗ xuất khẩu trong thời gian qua. Tiếp theo, ta hãy đánh giá vai trò, vò trí của ngành
chế biến gỗ thành phố Hồ Chí Minh đối với ngành chế biến gỗ của Việt Nam.
Bảng 6: Giá trò sản xuất công nghiệp ngành chế biến gỗ.
( Giá so sánh năm 1994 – Đơn vò tính: Tỷ đồng )
Chỉ tiêu
1995
1996
1997
1998
3.323,5
3.198,5
3.145,7
nước. Điều này nói lên rằng, nếu xét trong phạm vi ngành chế biến gỗ thì thành phố Hồ Chí Minh chiếm tỷ
trọng lớn, giữ vai trò quan trọng. Tuy nhiên, nếu xét theo xu hướng phát triển của ngành qua bảng số 7 sau
đây:
Bảng 7: Xu hướng phát triển ngành (So sánh cả nước với t.p. HCM)
Chỉ tiêu
- Giá trò SXCN ngành CBG cả nước
Tốc độ phát triển
- Giá trò SXCN ngành CBG t.p. HCM
Tốc độ phát triển
Đvt
1995
1996
1997
1998
Tỷ đồng
3.323,5
3.198,5
3.145,7
3.114,2
Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 1998.
12
thì ta nhận thấy xu hướng phát triển chung của ngành chế biến gỗ của cả nước cũng như của thành phố Hồ Chí
Minh ngày càng có xu hướng giảm. Tuy nhiên, tốc độ giảm của ngành này tại thành phố Hồ Chí Minh qua
các năm quá lớn. Điều này ít nhiều đã phản ảnh sự đe dọa đến xu hướng phát triển và vai trò của ngành chế
biến gỗ trên phạm vi cả nước và đặc biệt trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Cần thấy rằng, trong một tương lai không xa, nếu không có sự quan tâm đúng mức của Nhà nước hướng
vào sự phát huy nội lực trong việc huy động vốn đầu tư và đổi mới công nghệ nhằm vực dậy và phát triển
ngành này thì liệu ngành chế biến gỗ có còn giữ vai trò là một ngành công nghiệp chuyên môn hóa trong cơ
cấu ngành công nghiệp của nước ta nữa hay không? Rất rõ ràng, đây là một điều rất đáng lo ngại.
Nói tóm lại, qua sự phân tích ở trên đã thể hiện hầu hết các chỉ tiêu tổng hợp của ngành chế biến gỗ trong
những năm qua có xu hướng giảm so với các ngành công nghiệp khác tại thành phố Hồ Chí Minh và cơ cấu
giá trò SXCN ngành chế biến gỗ trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh so với cả nước cũng có xu hướng ngày
càng giảm dần. Vậy nguyên nhân nào đã dẫn đến tình trạng này? Theo tôi, có thể do một số nguyên nhân
sau đây:
•
Cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực Đông Nam Á xảy ra từ giữa tháng 7 năm 1997 ảnh hưởng rất lớn đến
ngành chế biến gỗ nói riêng, các ngành công nghiệp khác tại thành phố Hồ Chí Minh nói chung. Phần
lớn các sản phẩm đồ gỗ gia dụng được xuất khẩu sang các nước Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật,…và nhu cầu
tiêu dùng của các nước này giảm sau khi xảy ra cuộc khủng hoảng. Hơn thế nữa, do đồng tiền của các
nước bò khủng hoảng kinh tế bò mất giá nên hàng hoá của các nước này như Indonesia, Malaysia,
Myanma, Thái Lan,…trở nên rẽ hơn hàng hoá Việt Nam. Điều này đã gây sự bất lợi trong việc cạnh tranh
về giá đối với các sản phẩm, hàng hoá Việt Nam trên thương trường quốc tế.
•
-
Đồ mộc gia dụng được sản xuất bằng máy móc công nghiệp mới hình thành và phát triển vào những năm
cuối của thập niên 80 nên trình độ chế biến còn nhiều hạn chế so với các nước khác. Thế nhưng, đồ mộc
gia dụng được sản xuất bằng máy móc công nghiệp thường là sản phẩm của các công ty với qui mô lớn và
năng suất lao động cao hơn rất nhiều so với sản xuất bằng công cụ thủ công. Hơn nữa, hầu hết các sản
phẩm đồ mộc gia dụng được sản xuất bằng máy móc công nghiệp có độ đồng đều, chất lượng cao và được
xuất khẩu ra thò trường nước ngoài.
Trước hết, ta hãy giới thiệu một số máy móc thiết bò và tổ làm việc chủ yếu trong qui trình sản xuất đồ mộc
gia dụng bằng máy móc công nghiệp:
4.1. Giới thiệu một số máy móc thiết bò và tổ làm việc chủ yếu:
Bào 4 mặt: Đểå cho thanh gỗ được thẳng, bề mặt phẳng tạo thuận lợi cho các công việc gia công sau.
Cắt: Để cho ra chi tiết dài đúng kích thước mong muốn.
Rong: Để cho ra chi tiết có chiều dày hay rộng đúng kích thước mong muốn, gia công theo chiều dài
thanh gỗ và theo đường thẳng.
Lọng: Để tạo hình dáng ban đầu của chi tiết (hình tròn, hình cong..), gia công theo đường cong.
Ghép phôi: Để tạo ra mặt phẳng lớn từ những thanh gỗ nhỏ.
Cuốn 2 mặt: Mặt phẳng sau khi ghép phôi sẽ bò so le, ghồ ghề. Cuốn 2 mặt để tạo mặt phẳng tương đối
đồng nhất, ít bò so le. Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc chà nhám mặt phẳng sau này.
Tourbi: Để tạo hình dáng chính xác cho chi tiết nhỏ.
Shaper copy: Cũng là một dạng của tourbi, tạo hình dáng chính xác của chi tiết lớn.
Router: Cũng là một dạng của tourbi nhưng nhỏ hơn, dùng để móc rãnh mà máy khoan không làm được.
Khoan lỗ tròn: Mục đích dùng để kết nối với các chi tiết khác bằng con chốt gỗ.
Khoan mộng vuông: Cho ra một lỗ hình vuông, hình chữ nhật trên chi tiết sản phẩm dùng để kết nối với
các chi tiết khác có mộng dương.
Nhám mặt phẳng: Dùng để chà nhám mặt phẳng chi tiết sản phẩm.
Nhám cạnh cong: Dùng để chà nhám cạnh cong chi tiết sản phẩm.
** Mục đích của chà nhám làm bề mặt chi tiết sản phẩm thật phẳng, láng tạo điều kiện thuận lợi cho bước công
việc vẹc ni.
Tạo hình
Trong đó:
Đối với việc sản xuất bằng công cụ thủ công thì công việc tạo hình bao gồm cả việc chạm, trổ, điêu khắc,… và
sản phẩm thường được lắp ráp hoàn chỉnh trước khi phun vẹc ni nên không có bước công việc lắp ráp thành
phẩm sau cùng.
Nói chung, qui trình sản xuất đồ mộc gia dụng thường trải qua 3 công đoạn sau:
-
Công đoạn chuẩn bò phôi: bao gồm các bước công việc như Bào, Ghép phôi, Rong, Cắt, Lọng.
-
Công đoạn gia công: bao gồm các bước công việc như Khoan, Đục mộng, Tạo hình, Ghép thô, Chà nhám.
-
Công đoạn hoàn chỉnh: bao gồm các bước công việc như Chà nhám, Phun vẹc ni, Lắp ráp thành phẩm.
15
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG NGÀNH CHẾ BIẾN ĐỒ GỖ GIA DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH.
1.
Nguồn nguyên liệu.
1.1. Nguồn nguyên liệu gỗ tại thành phố Hồ Chí Minh.
Để đánh giá thực trạng ngành chế biến đồ gỗ gia dụng trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh, ta hãy lần
lượt xét từng nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển của nó và từ đó, rút ra những mặt thuận lợi cũng như
không thuận lợi của từng nhân tố. Đây là cơ sở rất quan trọng để đưa ra những giải pháp, kiến nghò nhằm thúc
đẩy sự phát triển của ngành.
1.
Nguồn nguyên liệu.
Trong ngành chế biến đồ gỗ gia dụng, gỗ là nguyên liệu chính để cấu tạo nên sản phẩm và giá trò nguyên
liệu gỗ chiếm một tỷ trọng rất lớn, từ 50% đến 70% giá thành sản phẩm. Hơn thế nữa, chất lượng của nguyên
liệu gỗ quyết đònh chất lượng của sản phẩm: nếu nguyên liệu gỗ được cưa xẽ, ngâm tẩm, sấy tốt và chất lượng
gỗ cao thì sẽ giảm hao hụt gỗ trong quá trình chế biến, sản phẩm được tạo thành sẽ có chất lượng rất cao và
ngược lại. Thế nhưng, rừng ở thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu là rừng phòng hộ ở huyện Cần Giờ, Củ Chi,
Bình Chánh,… do đó, các doanh nghiệp chế biến gỗ trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh phải mua nguồn
nguyên liệu gỗ từ các tỉnh lân cận như Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Tây Ninh,…hoặc nhập khẩu
nguyên liệu gỗ từ các nước trong khu vực.
Trước hết, ta xét đến nguồn nguyên liệu gỗ tại chỗ: diện tích rừng hiện có trên đòa bàn thành phố Hồ Chí
minh.
1.1.
Nguồn nguyên liệu gỗ tại thành phố Hồ Chí Minh:
Theo báo cáo tổng kết năm 1999 của Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn thành phố Hồ Chí Minh
(14/01/2000 )thì tổng diện tích rừng và đất rừng phòng hộ trên đòa bàn thành phố Hồ Chí minh là 39.072ha,
trong đó:
-
Huyện Cần Giờ
Tổng cộng
7,0
23,7
30,7
Lâm Đồng
531,0
19,7
550,7
Bình Thuận
377,0
19,2
396,2
Ninh Thuận
165,6
3,8
Đồng Nai
130,1
44,9
175,0
24,5
19,8
44,3
1.469,6
151,5
1.621,1
Bà Ròa-Vũng Tàu
Tổng cọng
17
Nguồn: Số liệu thống kê Nông-Lâm nghiệp-Thủy sản Việt Nam 1990-1998 và dự báo năm 2000 _ Nhà
xuất bản Thống Kê Hà Nội-1999.
Trong tổng số diện tích 1.621.100 ha rừng của các tỉnh miền Tây Nam Bộ thì diện tích rừng trồng chỉ có
151.500 ha, chiếm tỷ trọng 9,34%. Rõ ràng, đây là con số khá khiêm tốn, đặc biệt là trong giai đoạn hiện
Tỷ
lượng
trọng
lượng
Trọng
Lượng
trọng
lượng
trọng
Rừng tự nhiên
99.552
62,22
53.371
40,96
68.036
100
167.036
100
117.350
100
Tổng cọng
Khối
1998
Nguồn: Sở Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Hồ Chí Minh.
Qua bảng trên, ta nhận thấy rằng việc sử dụng gỗ từ rừng tự nhiên để chế biến có xu hướng giảm từ năm
1995 với tỷ trọng 62,22% xuống còn 35,74% trong năm 1998. Ngược lại, việc sử dụng gỗ từ rừng trồng (chủ
yếu là gỗ cao su) để chế biến có xu hướng ngày càng tăng: từ năm 1995 với tỷ trọng 37,78% lên đến 64,26%
trong năm 1998. Rõ ràng, điều này hoàn toàn phù hợp với diện tích rừng tự nhiên của chúng ta ngày càng bò
thu hẹp và cũng phù hợp với những chính sách bảo vệ - phát triển rừng tự nhiên do Nhà nước đề ra. Cụ thể,
ngày 24 tháng 03 năm 1998, Thủ Tướng đã có quyết đònh 65/1998/ QĐ-TTg nghiêm cấm xuất khẩu tất cả các
sản phẩm gỗ từ rừng tự nhiên, trừ mặt hàng gỗ thủ công mỹ nghệ và sản phẩm có nguồn gốc nguyên liệu gỗ
được nhập từ nước ngoài, đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm gỗ từ rừng trồng.
Mặt khác, ta nhận thấy rằng khối lượng gỗ tròn được sử dụng qua từng năm có xu hướng giảm dần, từ
160.000 m3 năm 1995 xuống còn 117.350 m3 vào năm 1998, điều này cũng đồng nghóa với qui mô sản xuất
của ngành chế biến gỗ trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh không những không tăng mà còn có xu hướng
giảm dần trong giai đoạn này. Sở dó xảy ra tình trạng này, theo tôi, là do ba nguyên nhân chính sau đây:
•
Cuối cùng, ta hãy xét đến nguồn gỗ được nhập khẩu từ nước ngoài để chế biến thành sản phẩm hoàn chỉnh và
sau đó được xuất khẩu trở lại.
1.4. Nguồn nguyên liệu gỗ nhập từ nước ngoài:
Thực ra, chỉ có các doanh nghiệp có qui mô sản xuất lớn, có đơn đặt hàng dài hạn mới đủ khả năng và
điều kiện để nhập nguyên liệu gỗ từ nước ngoài. Tuy nhiên, ta hãy xét đến tình hình sử dụng gỗ và nhập
khẩu gỗ trên đòa bàn thành phố Hồ Chí minh trong năm 1999.
Bảng 10: Khối lượng gỗ được sử dụng trên đòa bàn t.p. HCM năm 1999.
Đơn vò tính: m3 tròn
Nguồn gỗ
Rừng tự nhiên
Rừng trồng
Tổng cọng
Khối lượng
Tỷ trọng
Khối lượng
Tỷ trọng
Khối lượng
Tỷ trọng
Trong nước
Khối lượng nguyên liệu gỗ từ rừng trồng được sử dụng nhiều hơn khối lượng nguyên liệu gỗ từ rừng tự
nhiên, kể cả nguồn nguyên liệu gỗ trong nước cũng như nhập khẩu. Đặc biệt trong 40.400 m3 gỗ nhập
khẩu có tới 34.000 m3 gỗ rừng trồng, chiếm tỷ trọng 84,16% trong tổng số gỗ nhập. Một lần nữa, điều
này chứng tỏ rằng các doanh nghiệp chế biến gỗ có xu hướng dùng nguồn nguyên liệu gỗ từ rừng trồng
để chế biến sản phẩm.
-
Trong tổng số 103.400 m3 được sử dụng, các doanh nghiệp phải nhập khẩu 40.400 m3 gỗ nguyên liệu từ
nước ngoài, chiếm tỷ trọng 39,07%, trong đó chủ yếu là nguồn gỗ từ rừng trồng. Vấn đề là tại sao các
doanh nghiệp phải nhập khẩu nguyên liệu gỗ rừng trồng từ nước ngoài? Rõ ràng, nguồn nguyên liệu gỗ
rừng trồng trong nước không đủ cung cấp cho các doanh nghiệp chế biến gỗ tại thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài các vấn đề đã nêu trên, còn có một vấn đề rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sản
phẩm: Chất lượng gỗ phôi nguyên liệu cung cấp cho các doanh nghiệp chế biến gỗ. Như chúng ta đã biết, quy
trình sản xuất gỗ phôi nguyên liệu: Gỗ tròn được cắt khúc → Cưa CD4 xẽ thành từng phách gỗ → Cưa mâm
xẽ thành từng thanh gỗ → Ngâm, tẩm chống mối-mọt → Sấy khô. Thế nhưng, việc sản xuất gỗ phôi nguyên
liệu chủ yếu là do các cơ sở tư nhân với quy mô nhỏ ở các tỉnh lân cận đảm nhận. Do vậy, chất lượng gỗ phôi
hiện nay trên thò trường rất kém: đường cưa CD4, cưa mâm không thẳng; ngâm tẩm thuốc chống mối mọt
không đạt yêu cầu; sấy không đúng quy trình kỹ thuật, không đạt độ ẩm cần thiết gây cong, vênh, nứt, tét…
19
sản phẩm đã hoàn chỉnh. Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm giảm chất lượng sản phẩm và
mất uy tín với khách hàng, có thể gây thiệt hại rất nghiêm trọng cho doanh nghiệp.
Nói tóm lại, các doanh nghiệp chế biến gỗ trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh gặp nhiều khó khăn trong
việc tìm kiếm nguồn nguyên liệu gỗ nói chung cũng như nguồn gỗ phôi chất lượng cao nói riêng để phục vụ
cho sản xuất. Mặt khác, ta nhận thấy rằng xu hướng sử dụng nguồn gỗ rừng trồng để chế biến sản phẩm ngày
SL
Trò giá
Tổng cọng
SL
Trò giá
1.
Máy bào liên hợp
315
882.245
0
0
315
882.245
2.
Máy bào 2 mặt
0
0
0
39
5.086.543
39
5.086.543
5.
Máy rong gỗ
1090
1.635.215
48
2.410.062
1138
4.045.277
6.
8.
Máy cắt 2 lưỡi
0
0
199
1.830.800
199
1.830.800
9.
Máy lọng
596
6.214.425
76
562.405
672
12. Máy khoan nhiều lưỡi
16
128.231
98
1.481.930
114
1.610.161
672.245
115
699.965
435
1.372.210
39.824
178
1.713.472
426.206
361
913.460
0
0
198
17.443.716
198
17.443.716
18. Máy chà nhám cạnh
460
386.648
21
59.405
481
189
659.096
189
659.096
2.806
41.331.831
7.452
54.289.691
21. Máy đóng gói
Tổng cọng
0
4.646
0
12.957.860
Nguồn: Báo cáo tổng kết của Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn năm 1999
Qua bảng trên, ta nhận thấy rằng trong tổng số 7.452 máy móc thiết bò sản xuất đồ mộc gia dụng có đến
4.646 cái do Việt Nam sản xuất, chiếm tỷ lệ 62,34%. Như đã phân tích ở trên, máy móc thiết bò do Việt Nam
sản xuất có độ chính xác không cao, công nghệ lạc hậu và năng suất thấp. Điều này chứng tỏ trình độ chế
1.
Trên đại học
19
1,69
2.
Đại học
293
26,04
3.
Trung cấp
427
37,96
4.
Tốt nghiệp PTTH
386
22
Trình độ
Số lượng ( người )
Tỷ lệ ( % )
1.
Trung cấp
187
1,84
2.
Công nhân kỹ thuật
468
4,60
3.
Phổ thông trung học
qua trường lớp, họ là những người dân đòa phương thất nghiệp hoặc từ các tỉnh ở miền Bắc, miền Trung và
miền Tây đến kiếm việc làm để sinh sống. Câu hỏi đặt ra là tại sao lực lượng lao động trong ngành chế biến
gỗ lại quá thấp như vậy? Theo tôi, có thể là do máy móc thiết bò trong ngành chế biến gỗ hiện nay chủ yếu là
những máy móc đơn giản, không thuộc thế hệ mới nên dễ sử dụng và không đòi hỏi cao về kỹ thuật vận hành,
sử dụng máy. Hơn nữa, vì máy móc thiết bò trong ngành chế biến gỗ là những máy móc đơn lẽ nên việc bố trí
quy trình sản xuất rất đơn giản, những hoạt động của công nhân chủ yếu dựa trên sức lực của cơ bắp. Ngoài
ra, một trong những nguyên nhân làm thiếu hụt nghiêm trọng lực lượng lao động trực tiếp là do chính sách đào
tạo của Nhà nước: Hiện nay, Nhà nước khuyến khích việc nâng cao dân trí, mở rộng cánh cửa vào Đại học
cho mọi người với rất nhiều hệ đào tạo khác nhau. Tuy nhiên, Nhà nước chưa có sự quan tâm đúng mức đến
việc đào tạo lực lượng lao động trực tiếp thông qua các trường Trung cấp Kỹ thuật và Trung học Nghề và lực
lượng này phải nhiều hơn gấp nhiều lần lực lượng Tốt nghiệp Đại học. Thật vậy, để có thể thấy bao quát hơn,
ta hãy tham khảo số liệu thống kê của Sở Lao Động thành phố Hồ Chí Minh sau đây:
Bảng 14: Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động thành phố HCM năm 1995.
Trình độ chuyên
môn kỹ thuật
Toàn thành phố
Số lao động
Nội thành
Ngoại thành
Tỷ lệ %
Số lao động
Tỷ lệ %
Số lao động
2.
Công nhân kỹ thuật.
3.
Trung cấp.
76.137
4,7
62.397
5,3
13.740
3,10
4.
Đại học trở lên
87.479
5,4
78.881
ra và là một trong những nhân tố rất quan trọng quyết đònh sự thành bại của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Ta có thể chia thò trường thành hai loại:
4.1. Thò trường nội đòa: Theo số liệu thống kê trong cuộc tổng điều tra dân số ngày 01 tháng 04 năm 1999 thì
thành phố Hồ Chí Minh hiện có hơn 5 triệu người, đây là đòa phương không chỉ có số lượng lớn dân số mà
còn có mật độ dân cư cũng vào loại cao nhất nước với 28.993 người/ Km2. Với tốc độ phát triển kinh tế
cao, thu nhập quốc nội hàng năm trên đầu người cao hơn 3 lần mức bình quân cả nước, rõ ràng, đây là thò
trường rất tốt cho ngành chế biến đồ mộc gia dụng nội đòa trên thò trường thành phố Hồ Chí Minh. Thế
nhưng, số lượng cung cấp và tiêu thụ sản phẩm đồ mộc gia dụng trên thò trường trong thời gian qua không
nhiều. Sản phẩm đồ mộc gia dụng trên thò trường bao gồm: hàng gỗ thủ công mỹ nghệ, bộ bàn ghế sa
lon, tủ biffe, tủ thờ, tủ nhà bếp, cầu thang và các loại bàn, ghế, giường,… đơn giản và do các cơ sở mộc gia
đình sản xuất từ nguồn gỗ tự nhiên và nguồn gỗ nhân tạo như: ván dăm, ván sợi, ván ép, ván formica,…
Hầu hết, nguồn gỗ tự nhiên được sử dụng để chế biến các loại sản phẩm này không được ngâm tẩm thuốc
chống mối mọt và cũng không được sấy khô để chống cong-vênh, nứt- tét sản phẩm sau một thời gian sử
dụng. Hơn nữa, các mặt hàng này chủ yếu được làm bằng công cụ thủ công nên năng suất lao động rất
thấp, giá thành cao. Trừ mặt hàng gỗ thủ công mỹ nghệ được gia công tinh vi, mẫu mã rất đẹp các sản
phẩm đồ mộc gia dụng còn lại được làm từ nguồn gỗ chất lượng kém, mức độ gia công vừa phải nhằm
giảm giá thành nên mẫu mã không đẹp, chất lượng không cao. Ngoài ra, trong vài năm gần đây trên thò
trường cũng xuất hiện một số sản phẩm mộc gia dụng được sản xuất bằng máy móc công nghiệp và đây
là sản phẩm hỏng hay dư thừa trong xuất khẩu được các doanh nghiệp chế biến hàng gỗ xuất khẩu cung
cấp. Tất nhiên, các sản phẩm này đã được ngâm tẩm để chống mối mọt, sấy khô để chống cong vênh-nứt
tét và có mẫu mã mới-đẹp, chất lượng cao. Hiện nay, loại sản phẩm này đã bắt đầu được thò trường chấp
nhận và đang trên đà phát triển.
Nhìn chung, số lượng cung ứng và tiêu thụ sản phẩm đồ mộc gia dụng trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh
trong thời gian qua không nhiều. Sỡ dó như vậy, theo tôi, là do những nguyên nhân sau đây:
-
Từ trước đến nay, người dân Việt nam nói chung và người dân thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đã quen
sử dụng sản phẩm đồ mộc gia dụng được sản xuất từ nguồn gỗ quý hiếm có chất lượng rất tốt như: cẩm
phẩm đối với các doanh nghiệp rất khó khăn trong thời gian qua vì các doanh nghiệp chỉ có thể thụ động
ngồi chờ khách hàng đến thông qua sự giới thiệu của bạn bè hay của các doanh nghiệp khác. Rõ ràng,
đây là một điều nghòch lý trong nền kinh tế thò trường: “Khách hàng tìm đến nhà sản xuất để đặt hàng”
– điều mà các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu cần phải suy nghó và quan tâm. Mặt khác, các doanh
nghiệp chế biến gỗ của ta chưa đủ điều kiện, khả năng để tạo ra mẫu mã và chủ động chào hàng, ký hợp
đồng trực tiếp với các công ty ở nước ngoài nên phải sản xuất theo mẫu mã, yêu cầu của khách hàng.
Chính vì thế, các bao bì sản phẩm phải ghi tên công ty nước ngoài và các doanh nghiệp chế biến gỗ Việt
Nam coi như chỉ gia công cho các công ty nước ngoài, không được ghi tên hiệu doanh nghiệp của mình
trên sản phẩm do chính mình làm ra, đây cũng là một thiệt thòi lớn cho các doanh nghiệp. Để có thể
nhận xét quy mô của từng thò trường xuất khẩu trong thời gian qua, ta hãy xem bảng sau đây.
Bảng 15: Kim ngạch xuất khẩu sản phẫm gỗ theo từng nước trong thời gian qua trên đòa bàn thành phố Hồ Chí
Minh.
( Đơn vò tính: 1000 USD )
Kim ngạch
xuất khẩu
Tổng số
1995
Giá trò
Tỷ lệ%
1996
Giá trò
1997
Tỷ lệ%
12.378
31,51
11.879
30,76
11.649
27,95
10.757
30,72
-
Hàn quốc
9.138
23,26
7.659
19,83
6.581
10.954
27,89
10.657
27,60
11.054
26,53
9.824
28,06
-
Các nước khác
1.563
3,98
1.165
0,03
2.526