BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Trần Vũ Thúy Quỳnh
QUAN HỆ LIÊN MINH CHÂU ÂU
VỚI VIỆT NAM TRONG THẬP NIÊN
ĐẦU THẾ KỈ XXI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Trần Vũ Thúy Quỳnh
QUAN HỆ LIÊN MINH CHÂU ÂU
VỚI VIỆT NAM TRONG THẬP NIÊN
ĐẦU THẾ KỈ XXI
Chuyên ngành : Lịch Sử Thế Giới
Mã số
: 60 22 03 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGÔ MINH OANH
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chương 1. QUAN HỆ LIÊN MINH CHÂU ÂU- VIỆT NAM GIAI ĐOẠN
1990- 2000 ............................................................................................... 8
1.1. Khái quát quá trình ra đời, phát triển và những thành tựu của Liên minh
châu Âu ............................................................................................................ 8
1.2. Khái quát quan hệ Liên minh châu Âu- Việt Nam trước năm 2000............... 16
Chương 2. QUAN HỆ LIÊN MINH CHÂU ÂU - VIỆT NAM
TRONG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỈ XXI .................................... 28
2.1. Bối cảnh quốc tế và khu vực trong thập niên đầu thế kỉ XXI tác động
đến quan hệ Liên minh châu Âu - Việt Nam ................................................. 28
2.1.1. Tình hình thế giới ..................................................................................... 28
2.1.2. Tình hình khu vực .................................................................................... 35
2.1.3. Tác động ................................................................................................... 39
2.2. Chính sách của Liên minh Châu Âu trong thập niên đầu thế kỷ XXI ............ 44
2.2.1. Chính sách trên lĩnh vực chính trị ............................................................ 44
2.2.2. Chính sách trên lĩnh vực kinh tế ............................................................... 47
2.2.3. Chính sách trên các lĩnh vực khác ............................................................ 49
2.3. Quan hệ Liên minh châu Âu - Việt Nam trong thập niên đầu thế kỉ XXI...... 50
2.3.1. Quan hệ trên lĩnh vực chính trị ................................................................. 50
2.3.2. Quan hệ trên lĩnh vực kinh tế ................................................................... 54
2.3.3. Quan hệ trên lĩnh vực hợp tác phát triển .................................................. 72
2.3.4. Quan hệ trên các lĩnh vực khác ................................................................ 79
Hình thức hợp đồng xây dựng – vận hành – chuyển giao.
CAP
Chính sách nông nghiệp chung của liên minh châu Âu.
CCP
Chính sách thương mại chung của liên minh Châu Âu.
CET
Biểu thuế quan ngoại khối chung.
CFSP
Chính sách đối ngoại và an ninh chung.
DCI
Công cụ hợp tác phát triển.
DTA
Hiệp định tránh thuế hai lần .
EBA
Cơ chế tất cả trừ vũ khí.
Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch.
GSP
Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập.
MERCOSUR
Khối thị trường chung Nam Mỹ.
MFN
Thuế tối huệ quốc.
MUTTRAP
Chương trình trợ giúp thương mại đa biên.
PCA
Hiệp định đối tác hợp tác với châu Âu.
PESD
Chính sách an ninh phòng thủ châu Âu
PTAS
Hiệp định ưu đãi về thương mại.
nhất, ở đó EU dễ dàng tìm thấy tiếng nói đồng thuận và có uy tín, ủng hộ việc xây
dựng mối quan hệ quốc tế hòa bình, hợp tác, bình đẳng và hai bên cùng có lợi, điều
mà EU rất cần khi mong muốn có một vị trí ngày càng lớn trên thế giới và trong xu
thế hội nhập ngày nay.
Việt Nam có vị trí địa lý- chính trị vô cùng thuận lợi cho giao lưu quốc tế.
Một vị trí hết sức quan trọng đối với hòa bình, ổn định, an ninh và phát triển của cả
khu vực. Sớm nhận thức xu thế khách quan của toàn cầu hóa kinh tế, Đảng và Nhà
nước ta đã tiếp tục thực hiện chủ trương đối ngoại rộng mở, chủ động hội nhập kinh
tế quốc tế và mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực chính trị, văn hóa,
xã hội. Đảng ta đã xác định môi trường hòa bình, sự hợp tác liên kết quốc tế và
2
những xu thế tích cực trên thế giới tạo điều kiện để chúng ta tiếp tục phát huy nội
lực và lợi thế so sánh tranh thủ ngoại lực.
Trong tình hình quốc tế, khu vực có nhiều biến động, việc phát triển mối quan
hệ EU- Việt Nam ngày càng trở nên cần thiết hơn, góp phần tăng cường việc xây
dựng niềm tin, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự ổn định và phát triển của
thế giới, khu vực.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu quan hệ EU- Việt Nam trong thập niên
đầu thế kỉ XXI không chỉ mang ý nghĩa khoa học, mà còn đáp ứng yêu cầu thực tiễn
sẽ được nhìn nhận đúng đắn và thực chất hơn để thúc đẩy quan hệ hai bên tiếp tục
phát triển trong thời gian tới. Từ kết quả nghiên cứu cho phép chúng ta rút ra những
bài học kinh nghiệm, thấy được những khó khăn, cản trở trong quá khứ, để có
những giải pháp đúng, chủ trương chính sách phù hợp nhằm phát huy thành tựu,
thúc đẩy quan hệ hợp tác có hiệu quả hơn trong hiện tại và tương lai
Từ ý nghĩa khoa học và thực tiễn nói trên với mong muốn đóng góp một phần
nhỏ vào lĩnh vực nghiên cứu này, chúng tôi quyết định chọn đề tài“Quan hệ Liên
minh châu Âu với Việt Nam trong thập niên đầu thế kỉ XXI”.
Nam – Liên minh châu Âu” của tác giả Trần Thị Kim Dung, Nhà xuất bản Khoa học
Xã hội, Hà Nội - 2000. Ðây là công trình sử học đầu tiên nghiên cứu khá toàn diện
quan hệ EU - Việt Nam cho đến thời điểm 1998. Luận án thuộc chuyên ngành lịch
sử thế giới nghiên cứu chủ thể của mối quan hệ là EU do đó công trình này gần gũi
với luận văn hơn cả và chúng tôi đã kế thừa kết quả nghiên cứu của công trình này
như phương pháp tiếp cận vấn đề, những kết quả bước đầu của mối quan hệ EU –
Việt Nam trên các lĩnh vực chính trị, thương mại, đầu tư, hợp tác viện trợ trong thời
gian từ năm 1990 đến năm 1998. Cũng từ góc độ lấy EU là chủ thể do đó tác giả đã
đi sâu phân tích quan hệ của từng nước thành viên EU với Việt Nam. Nhưng tác giả
chỉ dừng lại tới năm 2000 vì thế tác phẩm chưa cung cấp thông tin về quan hệ EUViệt Nam từ năm 2001-2012 trên các lĩnh vực.
Tác phẩm “Thúc đẩy quan hệ thương mại – đầu tư giữa Liên Hiệp châu Âu
và Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI”, của tác giả Bùi
Huy Khoát (chủ biên), Nhà xuất bản Khoa học xã hội – 2001. Công trình này đã
làm rõ hơn những cơ hội và thách thức mà sự liên kết kinh tế - tiền tệ của EU đang
4
tạo ra trước nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh vượt qua ảnh hưởng tiêu cực của
khủng hoảng kinh tế (1997), để tiếp tục thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước trong những năm đầu thế kỷ XXI.
Tác phẩm “Mở rộng EU và các tác động đối với Việt Nam”, được biên soạn
bởi các tác giả Carlo Filippini, Bùi Huy Khoát, Stefan Hell, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia, Hà Nội – 2004. Các bài viết tập trung phân tích quá trình mở rộng của
EU và ý nghĩa của lần mở rộng thứ năm (2004) trong tiến trình phát triển của EU.
Nguyễn Quang Thuấn (2009), Quan hệ kinh tế Việt Nam- Liên minh châu Âu:
thực trạng và triển vọng, Nxb Khoa học Xã Hội, Hà Nội. Tác phẩm tập trung
nghiên cứu về quan hệ kinh tế Việt Nam- Liên minh châu Âu từ năm 1995-2009,
trên cơ sở đó đưa ra những định hướng và giải pháp thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh
tế Việt Nam- EU đến năm 2020.
minh châu Âu- Việt Nam trong thập niên đầu thế kỉ XXI.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc trình bày lịch sử hình thành và phát triển quan hệ EU - Việt
Nam, luận văn trình bày tổng quát thực trạng của mối quan hệ này trong thập niên
đầu thế kỷ XXI, phân tích những cơ hội, thách thức, những xu hướng triển vọng của
mối quan hệ này.
Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi mạnh dạn đề xuất một số giải pháp nhằm
thúc đẩy sự phát triển toàn diện quan hệ EU - Việt Nam trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, phân tích bối cảnh quốc tế và khu vực trong thập niên đầu thế kỉ
XXI, để thấy rõ những tác động của thế giới và khu vực đến sự phát triển quan hệ
EU - Việt Nam. Tập trung làm sáng rõ chiến lược của EU đối với Châu Á nói chung
và Việt Nam nói riêng.
Thứ hai, phục dựng lại tiến trình quan hệ EU - Việt Nam trong thập niên đầu
thế kỉ XXI, rút ra đặc điểm mối quan hệ đó. Qua đó làm rõ những cơ sở nền tảng và
quá trình phát triển quan hệ EU và Việt Nam trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế,
văn hoá, khoa học và công nghệ, giáo dục- đào tạo, y tế, du lịch, v.v… trong thập
niên đầu thế kỉ XXI và đây là trọng tâm của luận văn.
6
Thứ ba, từ việc nghiên cứu, rút ra nhận xét đánh giá, dự báo triển vọng và đề
xuất một số giải pháp nhằm phát triển quan hệ EU - Việt Nam trong thập niên thứ
hai của thế kỷ XXI.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
- Quan hệ Liên minh châu Âu với Việt Nam trong thập niên đầu thế kỉ XXI.
- Tác động của mối quan hệ Liên minh châu Âu với Việt Nam trong thập niên
Luận văn trình bày quan hệ Liên minh châu Âu - Việt Nam một cách có hệ
thống, khoa học để làm sáng rõ bước phát triển trong quan hệ EU- Việt Nam từ đó
nêu lên những đặc điểm của mối quan hệ; thấy rõ những thách thức, triển vọng và
đề ra những kiến nghị để tiếp tục đưa mối quan hệ phát triển hơn nữa trong tương
lai.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu để học tập, giảng dạy, tham khảo cho sinh
viên ngành lịch sử, quan hệ quốc tế và các ngành có liên quan.
7. Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm 198 trang. Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ
lục. Phần nội dung chính gồm 106 trang, được chia làm 3 chương:
Chương 1: Quan hệ Liên minh châu Âu- Việt Nam từ khi thiết lập quan hệ
ngoại giao chính thức từ năm 1990 đến năm 2000.
Chương 2: Quan hệ Liên minh Châu Âu - Việt Nam trong thập niên đầu thế kỉ
XXI
Chương 3: Nhận xét, đánh giá quan hệ Liên minh Châu Âu -Việt Nam trong
thập niên đầu thế kỉ XXI.
8
Chương 1. QUAN HỆ LIÊN MINH CHÂU ÂU- VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1990- 2000
1.1. Khái quát quá trình ra đời, phát triển và những thành tựu của Liên minh
châu Âu
Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc với sự nổi lên hai siêu cường là Liên Xô và
Mỹ trong một trật tự thế giới mới khống chế toàn cầu trong khi Tây Âu tụt hậu,
chính trị Tây Âu nặng nề và ảm đạm, đặc biệt là quan hệ giữa Pháp và Đức. Trong
bối cảnh đó, cả Pháp và Đức đều nhận ra con đường hợp tác để phát triển kinh tế là
hơn cả. Do vậy, ngày 9/5/1950, theo “Sáng kiến Jean Monnet”, Bộ trưởng ngoại
giao Pháp Robert Schuman đã đọc bản tuyên bố về việc đặt toàn bộ nền sản xuất
càng độc lập về nguồn năng lượng và Cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC) thỏa thuận
phát triển một chính sách nông nghiệp chung với việc bảo đảm sự ổn định của thị
trường nông nghiệp cùng với việc cung ứng thực phẩm còn nông dân được trả giá
đảm bảo. Do đó vào tháng 7/1958, Cộng đồng châu Âu đã cho soạn thảo và đưa vào
thực hiện Chính sách nông nghiệp chung (CAP: Common Agricultural Policy) từ
năm 1962. Mục tiêu của CAP được xác định là thúc đẩy tăng năng suất lao động,
tăng thu nhập theo đầu người trong lĩnh vực nông nghiệp, làm ổn định thị trường và
giữ được giá cả thỏa đáng trong cung ứng sản phẩm cho người tiêu dùng. Xác lập
một Liên minh thuế quan giữa các thành viên nhờ đó tất cả các hàng rào thuế quan
và các cản trở khác trong buôn bán giữa các nước thành viên EEC phải được dỡ bỏ
và hình thành một thị trường chung với thỏa thuận các quy tắc cho phép lưu chuyển
tự do dân cư, hàng hóa, các dịch vụ và tiền tệ giữa các thành viên EEC. Đây là bước
đi đầu tiên hướng tới một thị trường thống nhất với sự ra đời của đồng tiền chung
sau này. Tháng 4 năm 1965, Hiệp định Merger được ký kết để hợp nhất ba tổ chức
trên thành một tổ chức chung có tên gọi là “Cộng đồng châu Âu” (EC) từ ngày 1
tháng 7 năm 1967.
Cộng đồng châu Âu đã đạt được 3 mục tiêu căn bản là giữ gìn hòa bình bắt
đầu từ sự hòa giải Pháp - Đức tạo cơ sở cho sự hình thành trật tự mới ở châu Âu;
liên kết bước đầu về kinh tế châu Âu và từ đó tạo nền tảng cho một sự Liên minh
chặt chẽ về chính trị. Anh chống lại bằng việc lập Hiệp hội Mậu dịch tự do châu
Âu (EFTA: European Free Trade Assoclation) tháng 1-1960. Do đó đến tháng
1/1973, Anh mới được kết nạp vào EC. Hy Lạp gia nhập EC năm 1981. Lần mở cửa
10
thứ ba của EC được tiến hành bằng việc đón nhận thêm các nước Nam Âu là Tây
Ban Nha và Bồ Đào Nha vào năm 1986. Đạo luật châu Âu đơn nhất hay “Định ước
duy nhất” (Single Act) đã được các nước EC ký vào tháng 2/1986, có hiệu lực từ
ngày 1/7/1987 tăng cường cơ sở pháp lý cho các thể chế EU trong việc hoàn thiện
lưu chuyển tự do trên thị trường thống nhất, tạo một tiếng nói chung có trọng lượng
hơn của EU trong các công việc quốc tế và làm cho thể chế EU hoạt động có hiệu
quả hơn. Tất cả nhằm bổ sung khuôn khổ pháp lý đã được thông qua tại Maastricht
về việc sử dụng đồng tiền chung châu Âu Euro với hai tiêu chuẩn rất quan trọng, đó
là các nước thành viên khu vực đồng tiền chung (Eurozone) phải đảm bảo nợ công
không vượt quá 60% GDP và bội chi ngân sách không vượt quá 3% GDP để xây
dựng một liên minh kinh tế và tiền tệ châu Âu (EMU) được thực hiện từ 1/1/1999
với một đồng tiền chung duy nhất (đồng Euro).
Có thể thấy Liên minh châu Âu là tổ chức duy nhất có mục tiêu cơ bản và lâu
dài là thống nhất cả một châu lục dựa trên các nguyên tắc quy định riêng của khối.
EU đã không ngừng mở rộng, phát triển cả về lượng và chất để trở thành một tổ
chức liên kết hòa nhập có sức mạnh chi phối rất nhiều lĩnh vực kinh tế chính trị, đã
trở thành một thực thể pháp lý hoàn chỉnh có vị trí vai trò rất to lớn chi phối nền
kinh tế, chính trị quốc tế.
Chiến tranh lạnh kết thúc, sự sụp đổ của Liên Xô- khối Đông Âu đã buộc các
nước Trung và Đông phải chuyển đổi mô hình kinh tế và mong muốn tham gia các
cơ chế kinh tế, an ninh của Tây Âu như EU. Tháng 12/2000, các nhà lãnh đạo EU
bắt đầu soạn thảo Hiệp ước Nice tập trung vào vấn đề cải cách thể chế như thay đổi
cơ chế đại diện tại các thiết chế của EU chuẩn bị cho việc mở rộng, thay đổi cơ cấu
phương thức bỏ phiếu theo đa số (QMV) trong hội đồng. Hiệp ước chính thức có
hiệu lực vào năm 2003. Chính vì thế trong thập niên đầu thế kỷ XXI, chúng ta đã
chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của EU cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
Tháng 5/2004, EU kết nạp thêm 10 nước thành viên ở Đông Âu nâng tổng số
nước EU lên 25 nước. Năm 2007, đánh dấu lần mở rộng thứ sáu khi EU kết nạp
thêm Romania và Bungary, đưa tổng số thành viên lên 27 nước. Vai trò của EU trên
trường thế giới được nâng cao, biến EU thành một khối liên kết có tiềm lực kinh tế
hùng mạnh với dân số 501, 2 triệu người (năm 2010), diện tích khoảng 4, 5 triệu
km2, GDP khoảng 18,394 tỷ USD (năm 2008) đứng đầu thế giới, thu nhập đầu
đầu tiên theo tinh thần của Hiệp ước Lisbon.
13
+ Hội đồng Bộ trưởng còn được gọi là Hội đồng của Liên minh châu Âu, gồm
các đại diện ở hàng bộ trưởng của mỗi quốc gia. Đây là thiết chế duy nhất của EU
mà ở đó mỗi thành viên là người đại diện cho lợi ích quốc gia của mình khi tham
gia những quyết định cuối cùng. Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng có nhiệm kì 6 tháng,
có vai trò rất quan trọng, có quyền triệu tập Hội đồng Bộ trưởng của từng thành
viên. Hội đồng Bộ trưởng được xem như thượng viện lập pháp, là cơ quan tối cao
có quyền lập pháp, có quyền thông qua các quyết định chính đối với chính sách của
Cộng đồng trên cơ sở đề nghị của Ủy ban châu Âu
+ Ủy ban châu Âu: cơ quan thực thi chính sách của EU, vốn được chọn ra
không thông qua bầu cử, sẽ được rút gọn số lượng thành viên từ năm 2014 xuống
còn 2/3 trong số các nước thành viên.
+ Nghị viện Châu Âu: là hội đồng duy nhất trên thế giới do dân chúng trực
tiếp bầu ra với nhiệm kì 5 năm. Tất cả các thành viên đều có đại biểu của mình
trong Nghị viện với số lượng tùy theo số dân. Nghị viện châu Âu sẽ có 750 ghế.
Nghị viện châu Âu còn được gọi là Quốc hội châu Âu, tương đương như Hạ viện,
có 5 quyền hạn cơ bản: quyền lập pháp (cùng với Hội đồng châu Âu là cơ quan lập
pháp, có quyền lực như nhau trong 1 số lĩnh vực chính sách), cùng với Hội đồng
châu Âu có quyền phê duyệt ngân sách của EU, có quyền phê chuẩn cách thức chi
tiêu ngân sách của Ủy ban châu Âu , kiểm tra giám sát, chất vấn và điều tra những
hiện tượng quản lí kém trong việc thực hiện pháp luật của Cộng đồng, có quyền bổ
nhiệm liên quan tới một số thể chế bao gồm cả Ủy ban châu Âu, là thể chế duy nhất
trong EU có quyền giải tán Ủy ban khi đạt được sự đồng thuận trong Nghị viện.
Nghị viện châu Âu được trao quyền lực lớn hơn do mở rộng thủ tục đồng quyết
định của Hội đồng châu Âu trong một số lĩnh vực. Nghị viện cũng có quyền lực lớn
đối với toàn bộ ngân sách của EU. Đặc biệt hiệp ước mới đã mở rộng quyền lực cho
thông qua khi có 72% số nước đại diện cho 65% công dân EU phản đối. Hiệp ước
cũng có điều khoản về khả năng một nước thành viên rút khỏi EU theo một số điều
kiện được thỏa thuận với các nước thành viên khác [97, tr 29].
Về kinh tế, hiện nay quy mô của nền kinh tế EU đang đứng thứ hai thế giới,
sau Mỹ; GDP năm 2000 của EU đạt 9.050 tỷ USD (khoảng 20% GDP toàn cầu).
Tính theo đầu người, GDP năm 2001 đạt trên 24.000 USD [8, tr 76]. Đặc trưng nổi
bật là EU duy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao, lạm phát được kiểm soát trong
15
điều kiện thế giới có nhiều biến động về giá cả, đặc biệt là giá dầu tăng cao. Trong
năm 2007, tình hình lạm phát ở EU là khá cao nhưng vẫn trong tầm kiểm soát. Năm
2008, GDP của EU là 18,4 ngàn tỷ USD. GDP bình quân đầu người cho cả khu vực,
tính theo giá trị thị trường năm 2008 là 37.200 Euro. Vào ngày 1/1/2008 Síp và
Mata bắt đầu sử dụng đồng Euro, đưa số nước sử dụng đồng tiền này lên con số 15
và với số dân sử dụng chiếm tới hơn 2/3 dân số của toàn EU. Trong lĩnh vực trao
đổi hàng hóa, năm 2002, EU xuất khẩu 2.441,2 tỷ USD, trong đó xuất khẩu nội khối
là 1.502,2 tỷ USD, xuất khẩu hàng hoá ngoại hối là 939 tỷ USD. Nhập khẩu 2.437
tỷ USD, trong đó nhập khẩu nội khối là 1.506 tỷ USD, nhập khẩu hàng hoá ngoại
hối là 931 tỷ USD [111, tr 3].
Trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, EU chiếm 48% kim ngạch xuất khẩu của
thế giới và chiếm 45% kim ngạch nhập khẩu của thế giới. EU đã ký Hiệp định
thương mại tự do (FTA) với nhiều nước và khu vực trên thế giới [111, tr 3]. Năm
2006, EU trở thành đối tác thương mại lớn nhất thế giới, chiếm 17, 1% thương mại
hàng hoá toàn cầu (Mỹ chiếm 16%, Trung Quốc chiếm 9, 6%. Đối tác thương mại
chính của EU là Bắc Mỹ (chiếm 29, 6% xuất khẩu và 20, 5% nhập khẩu của EU)
châu Á (chiếm 21, 7% xuất khẩu và 45, 8% nhập khẩu) [111, tr 3]. Năm 2007, EU
chiếm 17% về giá trị thương mại thế giới, trong đó xuất khẩu năm 2007 chiếm vị trí
thứ nhất, đạt 1240 tỷ Euro, nhập khẩu là 1436 tỷ Euro. Năm 2008, EU xuất khẩu
có việc làm đầy đủ và sự liên kết xã hội rộng rãi hơn, tạo ra một EU thống nhất,
hiện đại, dân chủ, hiệu quả. Mặc dù, EU đang phải đối mặt với những thách thức
của cuộc khủng hoảng kép nhưng EU vẫn là một trong ba trụ cột của nền kinh tế thế
giới, một liên minh chính trị có chính sách đối ngoại và an ninh chung, có tiềm lực
quân sự tương đối mạnh mẽ, có 2 trên 5 nước thuộc Hội đồng Bảo an Liên hợp
quốc, 4/7 nước G7. Chính vì thế mà vị thế của EU ngày càng được nâng cao trên
trường quốc tế.
1.2. Khái quát quan hệ Liên minh châu Âu- Việt Nam trước năm 2000
Quan hệ giữa các nước châu Âu thuộc EU và Việt Nam đã có một lịch sử hàng
trăm năm nay. Tuy có nhiều thăng trầm nhưng nền văn minh châu Âu đã có ảnh
hưởng mạnh mẽ và để lại một dấu ấn khá sâu trong đời sống văn hóa, tinh thần của
Việt Nam suốt hơn bốn thế kỷ qua. Trong cuộc đấu tranh giành độc lập và thống
nhất đất nước của nhân dân ta, châu Âu là nơi có phong trào quần chúng đoàn kết
ủng hộ Việt Nam rất mạnh mẽ và các nước châu Âu cũng là những nước đầu tiên ở
17
phương Tây thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Các nước châu Âu thuộc
EU là những nước tích cực đi đầu trong việc đòi Mỹ bỏ cấm vận chống Việt Nam;
góp phần quan trọng thúc đẩy quá trình bình thường hóa quan hệ giữa Mỹ và các
trung tâm kinh tế - tài chính tư bản chủ nghĩa với Việt Nam. Ngay từ khi chưa có
quan hệ chính thức với Việt Nam, các nước thành viên EU đã xây dựng được mối
quan hệ truyền thống tốt đẹp với Việt Nam. Đây thực sự là “bước đệm” quan trọng
trong quan hệ giữa EU với Việt Nam.
Trước năm 1975, EEC chủ yếu giữ quan hệ với chính quyền miền Nam Việt
Nam. Nghị định thư kèm theo Hiệp ước Roma về thành lập cộng đồng kinh tế châu
Âu đã đưa Việt Nam vào danh sách các nước được hưởng chế độ ưu đãi vì là thuộc
địa cũ của Pháp. Tuy nhiên, chính quyền Việt Nam có xu hướng phát triển mối quan
hệ riêng với các nước thành viên hơn với tổ chức khu vực này. Với tư cách là một
Âu tan rã theo hướng đa phương, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, các nước đều điều
chỉnh chiến lược xuất phát từ lợi ích dân tộc sau khi chiến tranh lạnh kết thúc. Thế
giới chuyển từ đối đầu sang đối thoại, các nước vừa đấu tranh, vừa hợp tác, cùng
tồn tại hòa bình. Việt Nam sau bốn năm đổi mới (từ năm 1986) vẫn chưa thoát khỏi
khủng hoảng kinh tế - xã hội sâu sắc. Trong quan hệ quốc tế, Việt Nam vẫn ở trong
tình trạng bị bao vây cô lập, mất chỗ dựa vững chắc cả về chính trị và kinh tế, thị
trường truyền thống bị thu hẹp, nguồn viện trợ cũng không còn. Trong bối cảnh đó,
Việt Nam đã chủ động điều chỉnh chiến lược, mở rộng quan hệ hợp tác với các
nước, các tổ chức quốc tế, hội nhập để phát triển. Với những chủ trương đa phương
hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế, thêm bạn bớt thù, tranh thủ mọi nguồn vốn,
công nghệ, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý tiên tiến để phát triển đất nước, Việt Nam
chủ trương hợp tác bình đẳng, muốn làm bạn với tất cả các nước, không phân biệt
chế độ chính trị khác nhau, trên nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình.
Để ghi nhận, ngày 17/5/1990 Nghị viện châu Âu ra nghị quyết ghi nhận cải
cách ở Việt Nam và tỏ ý mong muốn cộng đồng cấp viện trợ, thiết lập quan hệ
thương mại chính thức tới Việt Nam. Ngày 22/10/1990, hội nghị ngoại trưởng 12
nước trong EC đã quyết định thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với Việt Nam.
Đến ngày 28/ 11/1990, EU với tư cách là một tổ chức đã chính thức thiết lập quan
hệ ngoại giao với Việt Nam ở cấp đại sứ. Đây là mốc son quan trọng đánh dấu
bước chuyển biến chiến lược trong quan hệ EU - Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi